Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu Email bài này

Lý Thuyết Sáng Tác Sơ Thảo

0 bình luận ♦ 29.11.2018

Creativity illustration

Sáng tác là viết với sáng tạo. Viết là quá trình của học và hành. Một phương tiện được tổ chức song song với lời nói để trình bày, trao đổi, chia sẻ và truyền tải thông tin. Viết là một hệ thống có quy luật ngôn ngữ và văn hóa. Viết và sáng tác có nhiều điểm khác nhau, mặc dù sử dụng chung cơ sở và những yếu tố cấu tạo. Người không học viết, không biết viết. Người viết không học sáng tác, không biết sáng tác. Chẳng phải là lẽ thông thường hay sao?

Người viết văn chương thiếu kinh nghiệm thường kể lại kinh nghiệm sống, những quan sát và những lắng nghe, dựa trên khả năng của bộ nhớ dài hạn. Họ chỉ mô tả ý định, lý luận về một chủ đề, một đối tượng, hoặc một ý nghĩa. Trong khi người sáng tác đứng ra ngoài văn bản, nhìn toàn thể tác phẩm như một tiếp cận hoàn chỉnh nhất để cưu mang những gì họ muốn trình bày. Họ sử dụng dữ liệu từ bộ nhớ dài hạn nhưng đặt cơ sở trên khả năng nhận thức.

Trong lãnh vực văn học, sự khác biệt giữa viết và sáng tác: 1- Sáng tác có cấp độ cao hơn viết. 2- Sáng tác đòi hỏi phẩm chất sáng tạo, trong khi viết chỉ cần sáng kiến. 3- Sáng tác đòi hỏi nghệ thuật, trong khi viết chỉ cần kỹ thuật. 4- Sáng tác đòi hỏi thẩm mỹ cao và sáng tạo thẩm mỹ, trong khi viết chỉ cần thẩm mỹ thông dụng và thẩm mỹ tồn kho. 5- Sáng tác đòi hỏi tài năng và tu tập sở học, trong khi viết chỉ cần năng khiếu và kinh nghiệm viết bình thường, đa phần từ học đường. Những khác biệt này phân định người viết truyện, làm thơ khác với người sáng tác truyện và thơ. Sự lầm lẫn xảy ra giữa viết và sáng tác gây ra nạn lạm phát văn sĩ và thi sĩ.

Gần đây, khái niệm sáng tác trong lãnh vực văn chương, văn học, mới được quan tâm. Trước kia, nó hoàn toàn thuộc về tâm linh, tâm lý. Sáng tác có thể xem là động từ, danh từ, tính từ, ngày nay có thể xem là bổ túc từ. Nghĩa là, sáng tác hiện diện mọi thời điểm suốt cả hành trình sáng tác một tác phẩm. Bên trong sáng tác là sáng tạo, mặc dù sáng tạo lớn mênh mông so với sáng tác. Sáng tạo là đền đài, sáng tác là cửa mở.

Cuối thế kỷ 20 sang thế kỷ 21, nghiên cứu về sáng tác chia ra hai khuynh hướng chính: 1- Nghiên cứu về khả năng và bản lãnh của tác giả. 2- Nghiên cứu về tương tác giữa tác phẩm, tác giả và xã hội.

Trong tiểu luận New Directions in Writing Theory (Đường Hướng Mới Về Lý Thuyết Sáng Tác) John R. Hayes đề nghị ba loại nghiên cứu cần quan tâm:

1- Vai trò và hiệu quả của “phần nhớ hiện dụng” (working memory) thể hiện trên văn bản.

2- Tác dụng và hiệu quả của “viết tự do” (freewriting), không phải “viết tự động” (automatic writing.)

3- Sử dụng lý thuyết Hoạt Động (Activity theory) như một khuôn khổ để tìm hiểu văn cảnh trong sáng tác.

Lập luận sự liên hệ giữa ba nghiên cứu, Hayes cho rằng bộ nhớ hiện dụng cần thiết cho chức năng của diễn trình nhận thức. Viết tự do giúp mở rộng khả năng tư duy. Lý thuyết Hoạt Động giúp giải thích các yếu tố xã hội và môi trường ảnh hưởng đến sáng tác.

“Để tạo tri thức, con người phải học. Để được thông thái, con người phải quan sát.” (Marilyn Vos Savant.)

Đọc sách và quan sát là hai nguồn cung cấp dữ liệu, kiến thức và gây sức phấn khởi cho sáng tác. Đọc là cách tự học bởi ý thức. Quan sát là cách tự học từ sáng tạo. Quan sát bao gồm luôn xem phim ảnh, tham dự triển lãm, kịch nghệ… Xem và quan sát là hai phương tiện thâu nhận khác nhau. Xem liên quan đến thưởng ngoạn. Quan sát dùng để tìm hiểu. Quan sát một cuốn phim khác với xem cuốn phim đó. Đọc sách để tìm hiểu là đọc một cách quan sát, trong khi đọc thường là đọc thưởng ngoạn. Mở rộng thêm, quan sát không chỉ sử dụng thị giác, quan sát có thể dùng thính giác, vị giác… nói chung là ngũ quan. Nghe một bản nhạc khác với quan sát bản nhạc.

Quan sát để bắt chước là khả năng bẩm sinh. Quan sát có phương pháp để học hỏi được đề xướng từ thời Aristotle, được tu bổ và cải thiện qua nhiều thế hệ. Vào giữa thế kỷ 20, khái niệm “học bằng quan sát” (observational learning) được nghiên cứu rộng rãi.

Trong thập niên 1960-1970, nhà tâm lý Albert Bandura và các đồng nghiệp đã đưa ra thuyết “học bằng quan sát” áp dụng vào môi trường xã hội tương tác với cá nhân. Kết quả những thử nghiệm đã đưa tâm lý học vào khoa học để tìm hiểu hành vi và thái độ con người trong việc làm của họ. Có thể giải thích đơn giản là “học bằng quan sát” gia tăng phẩm chất và năng lượng cho khả năng nhận thức (cognitivity). Một chức năng thiết yếu để nhận biết, tự giải thích khi thu thập kiến thức và kinh nghiệm.

Về lãnh vực sáng tác văn chương, “học bằng quan sát” được xây dựng trên căn bản “vai trò kiểu mẫu”. Sáng tác phát sinh từ học hỏi và bắt chước những tác phẩm khác, những kinh nghiệm của các tác giả đi trước hoặc cùng thời. Trên bình diện sâu rộng hơn, sáng tác đến từ “học bằng quan sát” bởi khám phá những sinh hoạt, tình cảnh, nhân vật, câu chuyện, xảy ra chung quanh đời sống.

Ngu Yen illustration 1

Quan sát có tiêu chuẩn và đọc sách có trình độ là phương pháp căn bản tu tập khả năng nhận thức. Từ cơ sở đó, sáng tác có cơ hội bắt đầu. Đường quan sát và đọc phải lên khá cao dẫn đến những ý tưởng bắt đầu thành hình. Khi đường quan sát và đọc xuống thấp, đường sinh tạo ý tưởng sẽ dần dần xuống theo. Sáng tác đi vào chấm dứt.

“Học bằng quan sát” đưa đến hành động. Chúng ta đã từng nghe học thuyết Tri Hành Hợp Nhất của Vương Dương Minh, tuy nhiên, trong Thời Đại Điện Tử (Digital Age) tri hành gần gũi với thuyết của Mặc gia và Vương Thuyền Sơn, lấy hành làm tiêu chuẩn cho tri. Ngày nay, thực hành và thử nghiệm là cơ sở xây dựng cho tri thức. Cải thiện, sửa chữa, tìm ra những khiếm khuyết là nhờ thực hành. Trong quan điểm thực tế, tri hành tương ứng theo vòng tròn. Tuy nhiên, ngày nay, dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, người ta trọng “hành” để xây dựng và kiểm soát “tri”. Có thể thấy ngay vòng tròn tri hành này là cơ sở xây dựng – phát triển khả năng sáng tác và gia trọng giá trị cho tác phẩm.

“Con người có hai khả năng: Vật lý và nhận thức.” (Noah Harari.)

“Học bằng quan sát” bao gồm mô hình công khai hóa hành vi thái độ và mô hình nhận thức. Một nhận định từ nghiên cứu cho biết, những người viết thiếu kinh nghiệm thường tập trung vào mô hình non yếu. Trong khi người viết kinh nghiệm tìm kiếm những mô hình có năng lực hơn. Ví dụ: Con bò.

– Mô hình chức năng: Cày bừa và chuyên chở.

– Mô hình thực phẩm: Cung cấp thịt.

– Mô hình tri thức: Đại diện sự ngu dốt.

– Mô hình tư tưởng: Ẩn dụ tính kiên trì làm việc. Nhai lại để nghiền ngẫm và thẩm thấu.

– Mô hình tôn giáo, thần thoại: Minotaur, người đàn ông có đầu và đuôi bò.

Người viết lão luyện hoặc người làm công việc nhận định phê bình văn học cần khả năng nhận thức những mô hình phức tạp mang nhiều lớp ý nghĩa. Vì học bằng quan sát đưa đến việc đánh giá dữ kiện đã quan sát.

“Học bằng quan sát” bao gồm sự thu nhận kiến thức của ngũ quan và đọc sách đưa đến một khả năng quan trọng là nhận thức. Sự tranh cãi về chức năng và tác dụng “nhận thức” tương tác với xã hội không phải là đề tài trong khuôn khổ chủ đề này. Nhưng nhận thức sinh hoạt với sáng tác như thế nào là điều chúng ta quan tâm.

Trong luận văn The Science of Writing, Theories, Methods, Individual Differences, and Applications (Khoa Học Sáng Tác, Lý Thuyết, Phương Pháp, Sự Khác Biệt Cá Nhân, và Sự Áp Dụng, 1996, Lawrence Erbaum Associates, Publishers Mahwah, New Jersey,) C. Michael Levy và Sarah Randsdell viết:

Giải thích văn bản là một chức năng tạo ra những mô tả trong nội tâm [bao gồm tiêu biểu, tượng trưng, đại diện] từ ngôn ngữ và những đồ hình [graphic] thâu nhận. Các diễn trình nhận thức thực hiện chức năng này bao gồm đọc, nghe, và ghi nhận những đồ hình. Phản ứng [reflection] là một sinh hoạt trong nội tâm thực hiện những mô tả tượng trưng để cấu tạo những mô tả tượng trưng khác trong tâm trí. Các diễn trình nhận thức hoàn tất được những phản ứng bao gồm giải quyết vấn đề, làm quyết định, và kết luận. Sản xuất văn bản là một chức năng mang những tượng trưng nội tâm trong văn cảnh của môi trường làm việc và tạo thành bài viết, lời nói, hoặc đồ hình. Điều quan trọng là bao gồm ngôn ngữ nói vào văn bản vì lời nói có thể cung cấp những thứ thu nhận cho diễn trình sáng tác trong hình thức thông tin nội dung và phê bình khi tái xét. (trang 15)

Trình bày một cách đơn giản hơn: Trong diễn trình nhận thức từ bắt đầu với đối tượng hoặc đề tài cho đến khi thành văn bản, có thể chia ra thành ba sinh hoạt: 1- Từ đối tượng hoặc đề tài, những dữ liệu, kiến thức thâu nhận qua ngũ quan phù hợp được chọn lựa, phối kiểm với ngôn ngữ và hình ảnh, tạo ra những mô hình tượng trưng trong nội tâm. 2- Những mô hình này được phản ứng sinh tạo ra một số mô hình tượng trưng khác trong cùng một đề tài hoặc đối tượng. 3- Chọn lựa, giải quyết, quyết định, đi đến kết luận để đưa các mô hình tượng trưng vào văn cảnh, thể hiện qua ngôn ngữ vào văn bản. Ba sinh hoạt này xảy ra rất nhanh liên tục và tuần hoàn trong quá trình sáng tác.

Khi xem những hình đồ của mô hình nghiên cứu về quá trình sáng tác sẽ thấy vô cùng phức tạp, tuy vậy, trong thực tế, sự kiện xảy ra trong tâm trí còn phức tạp hơn nữa. Người sáng tác chỉ cần quan tâm đến học thuật “học bằng quan sát”, sức chứa của phần nhớ hiện dụng, phương pháp truy xuất dữ liệu từ bộ nhớ dài hạn và những kỹ thuật để giúp cho khả năng nhận thức bén nhạy, tinh vi hơn.

Sơ Lược Thuyết Nhận Thức

Theo nghiên cứu kéo dài năm năm cùa Linda Flower và John R. Hayes, mang đến một giả thuyết, thuyết quá trình nhận thức dựa trên bốn điểm chính:

1- Quá trình viết được hiểu như một tập hợp của các quá trình suy nghĩ đặc biệt mà người viết dàn trải, sắp xếp hoặc tổ chức dọc theo thời gian sáng tác một tác phẩm.

2- Những quá trình này có tổ chức rất chặt chẽ theo thứ bậc, trong đó bất kỳ quá trình quy định nào cũng có thể kết nhập với những quá trình khác.

3- Hành động sáng tác là quá trình suy nghĩ có mục tiêu, được hướng dẫn bởi nhà văn dọc theo sự phát triển của mục tiêu đang mở rộng trở thành mạng lưới.

4- Nhà văn tạo ra mục tiêu theo hai cách:
a- tạo ra những mục tiêu cao cấp và những mục tiêu hỗ trợ để thể hiện ý thức phát triển về mục tiêu của họ,
b- đôi khi, bằng cách thay đổi những mục tiêu chính hoặc thậm chí xây dựng những mục tiêu hoàn toàn mới dựa trên những gì học hỏi được trong lúc sáng tác.

Những điểm sơ lược chính yếu cũng đủ cho thấy quá trình sáng tác liên hệ trực tiếp với khả năng nhận thức. Điều cần quan tâm là luận lý giải thích sự liên hệ chặt chẽ giữa các quá trình từ các lãnh vực khác nhau xảy ra trong nội tâm. Ý thức được sự kiện này, sẽ giúp tác giả sáng tác có quy củ và tự tin hơn.

Ngu Yen 2.

Hoạt động nhận thức tiếp tế dữ liệu và sinh lực cho bộ nhớ hiện dụng. Bộ nhớ hiện dụng tiếp liệu cho sáng tác. Đường nhận thức lên cao kéo theo đường bộ nhớ thu nhận cao và xóa bỏ nhanh chóng, mang hiệu quả đến cho sáng tác. Sáng tác thành lập từng giai đoạn như biểu đồ trên. Nhiều giai đoạn xây dựng thành tác phẩm. Trong mỗi giai đoạn, sáng tác chấm dứt khi nhận thức cạn kiệt và bộ nhớ hiện dụng không còn đủ dữ liệu để phấn kích sáng tác.

Diễn trình này cho thấy:

1- Trong khi viết, nhất là tác phẩm dài, nhận thức cần thời gian ngưng nghỉ để quan sát, liên kết và truy xuất từ bộ nhớ dài hạn, đưa vào phần nhớ hiện dụng. Trong một chu kỳ, sự dồn dập có thể đưa đến trạng thái xuất thần rồi giảm sút dẫn đến lúc chậm ngưng. Nhiều chu kỳ tiếp diễn trong một văn bản. Riêng về thơ, mỗi chu kỳ phải mạnh mẽ đủ để bật ra những snapshots và thoughtshots nổi bật, nếu không, chỉ là những hình ảnh vá víu nguội lạnh, sự cố gắng của trí tuệ làm mới, nếu không phải từ nhận thức thật sự, đọc lên sẽ có cảm giác ngượng nghịu, sượng sùng.

2- Trên hành trình toàn bộ viết lách của một tác giả, hầu như ai cũng có kinh nghiệm này, tự dưng cảm thấy không còn sáng tác được nữa hoặc tác phẩm không còn đủ phẩm chất để tự hài lòng. Nhiều trường hợp đưa đến hiện tượng tắt tị lâu dài, ngưng sáng tác. Nguyên nhân: khả năng đánh giá nghệ thuật và văn học cao hơn khả năng sản xuất tác phẩm theo tiêu chuẩn. Người viết nào không có khả năng đánh giá theo kịp nhịp sống, thời thế và giá trị văn chương, lúc nào họ cũng thỏa mãn với tác phẩm của họ.

Mấu chốt của tắt tị phát sinh từ khả năng nhận thức. Phương tiện của nhận thức là quan sát và tư duy. Hỗ trợ cho nhận thức là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sáng tạo. Đối tượng là những gì đại diện cho kiến thức. Giải quyết tình trạng tắt tị hoặc tình trạng sáng tác nguội lạnh hoặc ý định lạc lõng khi sáng tác bắt đầu từ nhận thức, nghĩa là quan sát và đọc. Quan sát và đọc là hai phương pháp thực tế, trực tiếp, nuôi dưỡng sáng tác và gia tăng giá trị tác phẩm.

Allan Collins, John Seely Brown và Susan E. Newman xây dựng mô hình “Sự học hỏi của nhận thức” (Cognitive Apprenticeship, 1987) bao gồm sáu phương pháp có khả năng phát triển học hỏi và tu tập. Khai phá nhiều học thuật tìm đến sự hiểu biết. (Nghiên cứu thêm: Learning to be Creative. The Effects of Observational Learning on Students’ Design Products and Processes của Talita Groenendijk, Tanja Janssen, Gert Rijlaarsdam và Huub van den Bergh, tcml.)

Khả năng nhận thức cao được tu tập vượt trội, gọi là “siêu nhận thức” (metacognition). Khả năng nhận thức cao là thành tố căn cơ tạo ra phẩm chất cho tác phẩm.

Diễn Trình Thiết Lập Sáng Tác.

Từ quan sát những diễn tiến, ghi nhận những đặc điểm căn cước, phân chia những thể loại sinh hoạt của tâm trí, đưa đến những yếu tố cấu tạo diễn trình sáng tác. Khó khăn là xác định, phân định những hoạt động tinh thần. Trở ngại tồn tại nơi đánh giá những yếu tố. Những phương pháp sử dụng đều mang tính tiếp cận, không hoàn toàn chính xác, tuy nhiên, cũng có thể cho một tầm nhìn khái quát khi kết hợp những yếu tố sáng tác để tìm hiểu tác phẩm.

Về sự phát triển của khả năng viết, những nghiên cứu cho thấy, một người trung bình cần từ 10 đến 20 năm để đạt được khả năng viết ở mức độ bày tỏ, chia sẻ ý tưởng và tâm tình.

Về bản chất, viết là thể hiện ý chí. Sáng tác một văn bản đòi hỏi phải chú tâm và nỗ lực thực hiện ý định gần như một cam kết. Bên trong của sáng tác là những thành phần sinh hoạt với nhau theo hệ thống.

Gert Rijlaarsdam và Huub van den Bergh trình bày những yếu tố chính trong diễn trình sáng tác qua luận văn Writing Process Theory, dựa trên sự quan sát và kinh nghiệm từ những nghiên cứu thực hiện trong mười năm: “Lý thuyết tổng quát dựa lên hai mẫu mực trong tâm lý học nhận thức. Một là mô hình diễn tiến sáng tác được giới thiệu bởi Hayes và Flower, 1986-1996. Hai là diễn trình phân phối song hành (của Rumelhart, McCelelland, và nhóm nghiên cứu PDP, 1999)” Cả hai phối hợp thành một hệ thống có chức năng mạnh mẽ tạo nên cấu trúc cho diễn trình sáng tạo. Mô hình của Hayes và Flower được áp dụng phổ thông như diễn trình căn bản về sáng tác. Chủ yếu giải thích diễn tiến viết và tìm hiểu, kiểm soát hành vi nhận thức của tác giả.

Mô hình này bao gồm ba thành phần: 1- Môi trường nhiệm vụ, tất cả các dữ liệu bên ngoài mà tác giả dùng để sáng tác. 2- Bộ nhớ dài hạn với kiến thức, kinh nghiệm về chủ đề, đối tượng, thể loại và học thuật. 3- Một tập hợp các hoạt động nhận thức. Ba thành phần sinh hoạt thiết lập kế hoạch, bao gồm mục tiêu, tạo ra ý tưởng, và cấu trúc các ý tưởng đó. Xây dựng, sao chép, dàn trải, dẫn đến một số ngôn ngữ, cùng một lúc đánh giá văn bản, sửa đổi, rồi chọn lựa.

Quan điểm “thể loại hoạt động của nhận thức” có thể giải thích phần lớn phẩm chất văn bản được một số các nghiên cứu của các học giả như Hayes và Flower, Breervelt, van den Bergh, và Rijlaarsdam ủng hộ.

Sáng Tác 21 Trên Đường Chân Trời.

Từ thập niên 1990 đến cuối thế kỷ, học tập về sáng tác có thêm ba thay đổi: 1- Định hướng về khái niệm thể loại. Nghĩa là, một văn bản không chỉ tuân thủ những tiêu chuẩn ngôn ngữ mà còn tuân theo các tiêu chuẩn nội dung đã được xác định, cho phép có thể phân loại theo mục đích và hình thức. 2- Phương pháp tiếp cận văn hóa xã hội. Dựa trên lập luận, sự chọn lựa của người viết bị ảnh hưởng và được điều chỉnh bởi tác dụng xã hội, nhu cầu văn hóa, thông thường tiềm ẩn trong thói quen. 3- Sáng tác bước vào “thời đại kỹ thuật và thông tin,” “thời đại đa văn hóa,” với những chuẩn mực vừa khoa học vừa nhân văn. Sự thay đổi lớn này đưa sáng tác sang trang với những nghiên cứu còn mới lạ, với những điều kiện chưa quen thuộc.

Ba sự kiện chính yếu hiện hành trong xã hội ảnh hưởng đến nội dung và tinh thần sáng tác là “đa ngôn ngữ”, “đa văn hóa”, và “toàn cầu hóa.” Trong khi kỹ thuật điện tử làm lung lay quan niệm xây dựng văn bản. Theo Bezemer và Kress trong Writing in Multimodal Texts: A Social Semiotic Account of Designs for Learning. Written Communication, 2008, từ khi các cách thức thông tin xuất hiện tới tấp qua các dạng điện tử tạo ra nhiều phương tiện hiệu quả cho học hỏi, trong khi các hình ảnh khắp nơi chiếm ngự vai trò trình bày, giải thích đã làm yếu đi phần sáng tác qua văn bản. Sáng tác trở thành sản phẩm của thiết kế. Sáng tác chuyển thành ký hiệu hơn là chữ nghĩa.

Kỹ thuật phát triển, văn học thay đổi và sinh hoạt theo phương tiện kỹ thuật cung cấp. Để tiếp tục ý thức, phải đuổi kịp những tiến bộ mới để cập nhật và bảo tồn văn học, văn chương. Sáng tác sẽ phải đối diện trước những đòi hỏi đó.

Ví dụ: Sự kiện có thể dùng lời nói điều khiển não thông minh để viết thay vì dùng tay gõ trên bàn máy cho thấy lời nói có khả năng xâm lấn và chiếm thượng phong hơn văn viết trong tương lai. Diễn tiến cấu trúc lời nói khác với diễn tiến cấu trúc viết văn, dù cả hai đều sử dụng chung tri thức và phương tiện bộ nhớ. Một phân tích ngắn cho thấy, nói không nhất thiết phải tuân thủ văn phạm và có khả năng mông lung ý nghĩa của từ ngữ. Ngược lại viết chẳng những theo quy luật, hệ thống, còn có khả năng tái xét, sửa tạo. Ưu khuyết điểm của lời nói và văn viết có thể bổ túc cho nhau, tạo thành một thể loại văn bản khác với thể loại văn bản truyền thống. Bên cạnh hai hệ thống lời nói và văn viết còn có những hệ thống khác, cũng mang chung mục đích truyền thông, hoặc bày tỏ ý nghĩ cá nhân và xã hội. Ví dụ lối viết của báo chí, lối viết lời nhắn trên điện thoại di động, lối truyền đạt của các phương tiện điện tử… Liệu sẽ ảnh hưởng văn bản đến mức độ nào trong tương lai?

Lập luận trên cho thấy cơ hội sáng tác sẽ thay đổi là chuyện sẽ xảy đến. Thay đổi như thế nào? Thay đổi bao nhiêu? Những giả thuyết văn học thế giới từ đầu thế kỷ này cho thấy khả năng thay đổi cưu mang tính cách mạng, không phải chỉ cải thiện. Thậm chí, sự tiến bộ bất ngờ của khoa học và kỹ thuật có thể đảo lộn những nguyên lý và xáo trộn nền tảng văn học đã được xây dựng trong mấy mươi thế kỷ qua. Vì vậy sự thay đổi chắc chắn là quan trọng. Tuy nhiên, quan trọng hơn vẫn là chuẩn bị cho sự thay đổi. Sáng tác phải chuẩn bị cho những cuộc cách mạng văn học đang diễn hành trên đường chân trời.

Tài Liệu Tham Khảo.

Deane, Paul, Nora Odendahl, Thomas Quinlan, Mary Fowles, Cyndi Welsh, Jennifer Bivens – Tatum. 2008. Cognitive Models of Writing: Writing Proficiency as a Complex Intergrated Skill. ETS, Princeton, NJ.

Graham, Steve and Dolores Perin, 2007, A Report to Carnegie Corporation of New York, Writing Next. Alliance for Excellent Education.

Levy, C. Michael and Sarah Ransdell. 1966. The Science of Writing, Theories, Methods, Individual Differences, and Applications. Lawrence Erbaum Associates, Publishers Mahwah, New Jersey.

MacArthur, Charles A., Steve Graham, Jill Fitzgerald, 2006, Handbook of Writing Research. The Guilford Press, New York, London.

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)