Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

MẸ

Người đàn bà còn trẻ lắm, khó đoán tuổi. 20 hay 30? Gái quê mà được cái may mắn không quá lam lũ, cực nhọc, sẽ kéo dài thời hoa niên. Không phấn son, không se sua, không chưng diện, hiền khô, dịu dàng, trong veo. Gái một con trông mòn con mắt.

Cô ta ngồi trên chiếc phản gỗ gõ đen nhánh, láng lẩy, tay róc cau lảy lảy. Thật nhanh và cũng thật đều, như cái máy. Cách chiếc phản vài ba bước, người đàn ông, chồng, ở trần, mặc quần xà lỏn, đứng cầm tao nôi ru em nhè nhẹ. Em bé chưa đầy năm nằm trong chiếc nôi đan bằng tre, mây. Trời nóng, đứa bé vẫn được đắp kín nửa người bằng một chiếc khăn lông ố màu. Nó mở mắt nhìn trần thao láo, tay chân đạp chọi liên tục, miệng nút cái nấm vú của bầu sữa đã cạn phát ra những tiếng chùn chụt. Khi nấm vú chệch ra khỏi miệng, nó gù gù trong cổ họng nghe như tiếng chim cu gáy xa xa.

“Ngủ đi, ngủ đi, thằng chó.” Anh chồng có vẻ sốt ruột. “Tau còn phải cho heo ăng.”

Hai con heo trong chuồng nghe thấy thế, liền ré lên điếc tai, điếc óc. Chị vợ dịu dàng nhìn chồng, lẩm bẩm:

“Tứng từng. Noái khôn phải noái, hay thiệc. Ba hắng noái chữ nữa đi, ba hắng ơi.”

Chuồng heo nằm kế nhà bếp trong đó hai con heo một ốm một mập đang chạy lui chạy tới, đuôi xoắn tít, mỏ dướng lên cao, tru tréo đòi ăn. Đó là giống heo cỏ lông trắng, có vài miếng vá màu đen trên lưng, trên mông. Hai con heo cùng một lứa. Lúc anh chồng mới mua về nuôi, chúng lớn bằng nhau, còn bé bỏng lắm, bụng chưa phệ. Chỉ sau mấy tháng, một con lớn xổi, lớn gấp hai lần con kia nhờ tạp ăn. Cũng cùng được ăn uống chung một máng, thức ăn là thân cây chuối xắt mỏng, hoặc rong, bèo, trộn với cám, nấu lên cho nóng. Đổ thêm vào nước vo gạo. Đó là món ăn chính. Món ăn phụ thì hằm bà lằng. Bất cứ cái gì, chúng cũng ăn tưới. Vỏ trứng, vỏ tôm, vỏ cua, vỏ chuối, vỏ khoai, xương cá, chột nưa, … Một con táp táp xộc xộc, nuốt rột rột, vừa ăn vừa đưa vai, đưa bụng lấn con kia, mà con kia thì cứ chúi mỏ vào máng nút nước, bỏ cái. Anh chồng hai ba lần kêu người tới bán con heo kén ăn, chẳng ai thèm mua. Không lẽ bắt làm thịt, đành phải nuôi tiếp. Mà cũng nhờ có nó, con kia càng giành ăn, càng mau lớn.

Để có phân bón, chuồng heo được trải một lớp khá dày gồm rơm, rạ, lá chuối khô, vài mo cau, trên đó hai con heo tha hồ lăn lộn, ngủ nghê, ỉa, đái. Dơ dáy. Mùi hôi hám quen thuộc lẩn vẩn đây đó suốt ngày đêm. Thiếu cái mùi đặc biệt đó, chắc chắn hai con heo nhớ, mà chủ nó cũng nhớ. Sau một thời gian, lớp rơm rạ ấy biến thành phân đủ ngoai, thì được dọn sạch, mang ra vườn sau, chất thành một đống, chờ dịp bón vườn cau. Lớp rơm rạ mới được thay vào, sạch sẽ, thơm tho. Heo vui mừng, hớn hở hẳn lên, đuôi càng ngoắt tíu tít, miệng càng kêu éc éc. Cùng với mùi hôi hám, tiếng heo kêu cũng tạo thành âm thanh quen thuộc, thân thương.

Bên trên chuồng heo là một giàn tre cho gà ngủ ban đêm, cứ gọi là chuồng gà. Mái tranh sơ sài, liếp tre hở hang không rào kín. Có khi nửa khuya gà kêu toáng loạn. Anh chồng vùng dậy, chạy tới. Sạt một tiếng, một con chồn phóng ra khỏi chuồng gà. Con chó nhà chạy đuổi theo một đoạn ngắn. Con chồn biến mất trong lùm cây đen. Con chó bèn thị uy gâu gâu thêm mấy tiếng trước khi theo chủ vô nhà, tới ổ con cúi, quay quay, xong bò lên nằm, lim dim mắt.

Một mệ gà đang ấp trứng trong ổ rơm, ngày nào cũng được chị vợ cho ăn lúa xép, bắp hột, cơm cháy. Thỉnh thoảng vảy cá, ruột cá. Chị cẩn thận đặt bên cạnh ống tre chẻ làm đôi dùng để đựng đồ ăn một cái gáo dừa nhỏ chứa nước uống. Con gà mệ tuy thế cũng đôi lúc rời ổ nhảy ra khỏi chuồng, xuống sân, ra vườn, nhón chân, vươn mình, đập cánh, rồi liếc mắt nhìn quanh, trước khi chúi đầu xuống đất tìm thêm vài thức ăn lạ. Bụng còn đói chắc, hay thèm ngọn cỏ non, chiếc lá rau, con sâu, con trùn. Rồi rùng mình cho thoải mái, quay mỏ rúc vô nách rỉa lông, rỉa cánh, rồi vội vã nhảy lên chuồng ấp trứng tiếp. Nó chăm ấp trứng đến rạc cả người. Nó đã đẻ và ấp nhiều lứa trứng rồi, con của nó cũng đã đẻ, đã ấp, nên nó được gọi là gà mệ, hay mệ gà. Mệ là mẹ của mẹ. Ôn là ba của ba. Lông hơi xơ xác, mồng không còn đỏ tươi như thuở còn thanh xuân, thân hình có phần còm cõi.

Những con gà mái khác đi theo con gà trống đầu đàn kiếm ăn từ sáng sớm cho đến khi tắt mặt trời mới mò về chuồng. Mò? Đúng. Ham kiếm ăn cả ngày hết vườn nhà qua vườn hàng xóm gần, hàng xóm xa. Vịt còn có khi vui chơi, thư giãn, gà luôn luôn bận bịu vì miếng ăn. Cho đến chạng vạng, gà mới mò về, mắt không quen cái cảnh tượng tranh tối tranh sáng, nhớn nhác, cái đầu thụt vô thò ra, hai chân bước thấp bước cao, tìm chuồng.

Gà chỉ được chị vợ cho ăn ngày một lần. Ít thôi. “Cơm mô cho đầy miệng chó, ló mô cho đầy miệng gà.” Khoảng xế trưa, chị một tay nách một trẹt lúa xép, bắp mọt, sắn chang băm nhỏ, ra đứng giữa sân, tay kia bốc từng nạm thức ăn đó vãi ra quanh mình, miệng chu lại hô to “cu … cu, cúc … cúc, cu … cu … cù … cù … cù…” Thế là gà ào ào tuôn về. Có con vừa chạy vừa đập cánh để gia tăng tốc độ. Thỉnh thoảng có con bay bổng lên khỏi mặt đất. Những con khác thấy thế tỏ vẻ khâm phục hay sợ sệt cũng nên, sợ bọn ấy vừa hóa phép biến thành diều hâu chăng, vội ngừng chạy, thu mình nép xuống đất, miệng rú lên những tiếng kêu nho nhỏ “báo động cho đồng đội”, rồi chồm người chạy tiếp.

Mấy đàn chim sẻ từ những bụi hóp, bụi tre, cây khế, cây nhãn quanh nhà cũng lũ lượt bay tới, nhưng chỉ mon men nhảy chóc chóc đằng xa. Chúng không dám chen chân với đám gà hung dữ. Chỉ một thoáng, đồ ăn hết nhẵn. Tuy thế, con gà trống đầu đàn cũng kịp giở trò nịnh đầm, bươi móc đâu ra được vài ba hột lúa, hột bắp, mổ lấy mà không nuốt vô bụng, trái lại lên giọng kêu gọi những con gà mái, gà tơ đến, rồi nhả thức ăn trong mỏ ra mời mọc, rồi sè một bên cánh, nghiêng mình quay quanh một con gà mái nào nhanh chân tới trước. Cái kiểu sè cánh chạy quay quay trông chẳng khác một chàng đấu bò Tây Ban Nha hai tay dương tấm vải đỏ vờn vờn trước đầu con bò tót. Nhưng con gà trống có mục đích khác. Nó muốn xâm phạm tiết hạnh của con gà tơ đấy mà. Con gà mái tơ chỉ lạng mình một cái là tránh được ngay, vội cúi đầu đưa mỏ “thốt, thốt” cái của ngon từ mỏ con gà trống, rồi chạy đi nơi khác. Con gà trống lại giở cái trò đó với vài con gà mái khác, cũng công toi.

Hết sạch đồ ăn, đàn gà đứng chần chờ một chốc xem có được cho ăn thêm gì không, rồi tản mác dần. Con gà trống bèn vỗ cánh, nhón chân, vươn cổ gáy một tràng ăn mừng chiến công hụt, và đi mất dạng cùng với những con gà còn sót lại cuối cùng.

Có khi chị nhìn theo đàn gà, thở dài. Chị có cái tật vui buồn thất thường, bất chợt. Và nghĩ thầm, Rứa là bầy gà lại đi bươi bươi, móc móc, hai cấy chưng cào cào và cấy mỏ thốt thốt bậng bịu kiếm ăng khôn hở. Tội nghiệp. Vịt sướng hơng diều. Có mệt thì co một chưng đứng chơi ngó trời ngó đấc, dư mấy con dê đứng nửa chừng dốc thắc leo mắc ngó xa xuôi, hay hoặc mò xuống hoái kiếm tôm kiếm tép trong rong, trong bèo, hay hoặc đi lệt bệt xuống ao bơi lội, nghe tưởng dư tiếng bầy dê giẫm chưng trong buổi sớm mai sương xuống dư mưa, che hết mọi thứ, khôn thấy dê mô cả chỉ nghe tiếng nó bước, hay hoặc ngụp lặng dưới nước dững bữa trưa nắng cháy lưng. Mà cũng lạ, chỉ biếc con dê một lầng khi đi thăm cậu mợ ở Nam giao đã lâu lắm, Nam Giao đường đi lên dốc xuống dốc liềng liềng, núi đồi lổm nhổm khắp nơi, mà cứ dớ con dê hoài. Chắc là vì lầng thứ dứt trong đời thấy dê đứng thắc leo trên dốc đứng mà khôn bổ. Mà mình lại là tuổi coong gà, tuổi dậu. Đời mình về lâu về dài chắc là cũng khôn được thong dong. Phải chi có tuổi con vịt. Hay hoặc tuổi con heo cũng được. “Tuổi hợi nằm đợi mà ăng.” Ô, khôn được rồi. Heo khi đủ nặng, đủ béo, bị thọoc huyếc ngay. Cầu trời cho mình được dư ri cũng được cho tới khi về với ôn mệ. Mà khi mô thì về với ôn mệ. Chợt nghĩ tới đó, chị rưng rưng nước mắt, ngó quặt ra ngoài cươi.

Tuy thế cái sân chưa vắng hẳn. Khi không còn một còn gà nào nữa, mấy con chim sẻ bạo dạn nhảy cà tưng ra giữa sân nghiêng đầu nghe ngóng, mỏ không ngớt chiêm chiếp đòi ăn. Quả nhiên, chỉ một chốc sau, chị thương tình trở lại sân mang theo một dúm gạo trong lòng bàn tay, miệng không cúc cúc … cu cu … nữa, sợ gà trở lui. Chỉ vẫy nhẹ tay một cái. Đàn chim sẻ bay tới sà xuống trông giống những “chiếc lá rụng nghiêng”, tung tăng mổ mổ. Vui mắt quá, chị thầm nghĩ.

Chị quay đi vô nhà bỗng dưng quên mọi ý nghĩ buồn rầu, lòng nhẹ lâng lâng. Sực nhớ, miệng lại lẩm bẩm, Tứng từng, tứng từng. Ba hắng hay thiệt.

Kế đến là nhà bếp. Gọi là nhà bếp nhưng đúng ra chỉ là cái chái nhỏ, thấp, nơi đó có ba cái bếp lửa. Mỗi bếp gồm ba viên gạch đâu vào nhau. Bếp thứ nhất dùng để nấu cơm; bếp thứ hai kho thức ăn, có khi chiên, xào; bếp thứ ba dành cho nồi cám heo. Cơm nấu trong cái om đất, chụm bằng lửa rơm, ăn mới ngon, trên cái bếp thứ nhất. Đồ ăn được nấu trong cái quánh trên cái bếp giữa, như cá, thịt, canh, chụm bằng nè, hoặc nhánh cây khô. Bếp thứ ba ngoài cùng nấu nồi cám heo mới cần củi.

Anh nhiều lần kín đáo dòm vợ kho nấu. Chị một mình vừa nấu cơm, vừa kho cá hoặc luộc rau, hoặc nấu canh, vừa coi chừng nồi cám heo. Hai tay thoăn thoắt với đôi đũa trui, gạt tro lửa rơm ùn lên thành đống nơi bếp thứ nhất; lấy ống tre thổi phù phù vào nồi cám heo cho lửa mau bắt ở bếp thứ ba; vớ đôi đũa tre trở khúc cá cho vàng da và chín đều và tay kia thì đẩy đẩy mấy que nè, nhánh cây khô nơi bếp thứ hai. Canh chừng lửa cho vừa vặn trong ba cái bếp cùng một lúc. Đặc biệt là bếp lửa rơm, cái om cơm mau sôi, mau cạn. Nếu không khéo, cơm dưới cháy trên sống giữa nhão. Khói lên ùn ùn làm cay hai con mắt của chị, và mồ hôi tuôn ra ướt đẫm cái áo cánh, và hai gò má đỏ dậy lên như hai cục than hồng. Anh chồng đứng xa nhìn vợ nấu nướng, lim dim mắt, cười vu vơ.

Ngôi nhà tranh một gian hai chái. Gian giữa dành cho bàn thờ Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Chái bên phải bày một bộ ngựa gõ ít khi được dùng đến; chái bên trái có một cái giường tre của hai vợ chồng. Bên trên gần nóc của gian giữa, là cái tra dùng để chứa các thứ lặt vặt như dao, rựa, xà beng, nông cụ, và một cái bồ nhỏ đựng lúa. Cái tra cao, cách nền nhà đất nện gần ba thước. Mùa lụt nước vô nhà cũng không thể nào lên tới cái tra, không thể lọt vô bồ lúa. Thẳng góc với chái trái là nhà ngang, trong đó có cái phản nhỏ để ngồi róc cau, cái lò sấy cau, bộ bồ sề. Không có bàn ghế; ăn uống ngồi trên phản. Do đó khi có dịp đi vào một tiệm ăn nào đó – hiếm lắm, anh thì có được một lần trải qua, chị chưa bao giờ – gọi là đi kéo ghế. Tiếp đến là chuồng heo, chuồng gà, nhà bếp như đã nói. Bà con lối xóm hoặc người quen có tới chơi, thăm viếng, cũng vô nhà ngang thay vì chái phải với bộ ngựa gõ.

Ngôi nhà nhìn xéo xuống con hói nhỏ, nhiều rong bèo. Đó là nguồn thực phẩm vô tận của heo. Nhưng heo thích ăn thân chuốt xắt hơn; thịt heo do đó cũng trắng trẻo, thơm tho hơn. Nhưng đâu có đủ thân chuối cho nó ăn hoài.

Con hói cũng là nơi sinh hoạt khá tấp nập vào buổi trưa, buổi chiều. Mấy o con gái trong làng ngồi trên bến đá ven bờ hói giặt giũ, vo gạo, rửa chén đọi, làm cá, chặt thịt. Có khi giặt chiếu, cuốn tròn chiếc chiếu lại, đưa cao lên khỏi mặt nước, rồi đập mạnh xuống, tạo ra những tiếng kêu vang dội cả một vùng. Lũ trẻ con đứng lom khom lẫn sau những bụi tre hay gốc dừa câu cá rô, cá mại, cá cấn. Cá rô lớn bằng ba ngón tay chụm lại, câu sướng tay lắm, nó cắn mồi rồi lội nhanh dưới nước làm căng sợi dây câu, làm rùng rùng cái cần câu; cá mại chỉ to như ngón tay cái thôi, gặp “cá mại bà” to hơn, ăn béo ngậy; còn cá cấn thì nhỏ bằng đầu ngón tay út, màu sắc rực rỡ, vãy óng ánh xanh đỏ tím vàng, chuyên rúc rỉa phá mồi. Bọn con trai lớn hơn có thú vui khác, chúng nó trần truồng bơi lội bì bõm, hoặc nghịch phá giữa dòng hói. Thỉnh thoảng, một ông già gầy gò đội nón lá rách bươm ngồi co ro trên lá thuyền nhỏ như không thể nào nhỏ hơn, hai tay cầm hai mái chèo tí hon trông giống như hai con dao phay ve vẫy lượn lên lượn xuống con hói, cất rớ tôm, tép.

Hầu hết những gia đình trong cái xóm nhỏ đó đều làm nghề bửa cau.

Riêng láng giềng bên trái của anh chị lại làm nghề khác. Nghề xắt thuốc, bán thuốc. Chồng xắt thuốc. Vợ gói lại những lát thuốc đã được xắt hình tròn, méo, mỏng thành nhiều gói trong những miếng lá chuối tươi để thuốc dịu, hay vấn thuốc trong giấy quyến thành điếu sâu kèn, hay sắp những lát thuốc lên trên một cái nia nhỏ. Xong đem ra chợ Phổ bán.

Dân làng, đàn ông cũng như đàn bà, hầu hết đều hút thuốc vấn. Hút không hết điếu thuốc, hoặc muốn để dành, thì phần thuốc lá còn lại được dán lên chỗ nào thuận tay. Dễ dán lắm. Khỏi cần keo, hồ. Chỉ có việc đưa mẩu thuốc dư đó, nơi đầu thừa giấy, cho lướt qua cái lưỡi thè ra để nó vừa ướt, rồi dán. Những khi hết thuốc, không kịp mua hay không có tiền để mua, họ lột mấy miếng thuốc đã dán trên cột nhà, trên khung cửa, dưới chân phản, chân ngựa, xong đút vô miệng ngậm, tới bếp lửa gắp cục than hồng nhỏ xíu thắp thuốc. Hít hà được mấy hơi.

“Miếng trầu làm đầu câu chuyện”. Có điếu thuốc, câu chuyện đậm đà hơn. “Nào khi ra đi/Trầu ăn thuốc hút”. Nhiều khi cơn thèm nổi lên, không có ai để trò chuyện cũng phì phà điếu thuốc cho đỡ buồn. Về sau, thời buổi văn minh mà, đàn ông có người tiền bạc dư dả thì mua thuốc Tây hút. Mua nguyên bao hoặc mua thuốc lá lẻ. Điếu thuốc Tây hai đầu tròn bằng nhau. Phải hút cho càng hết điếu thuốc càng tốt, phỏng miệng cũng hút, đỡ tốn, vì không thể dán mẩu thuốc còn lại để dành. Mấy bà, mấy o rất bảo thủ, chỉ hút thuốc lá vấn sâu kèn. Không o nào dám hút thuốc Tây, sợ bị coi là đồ con gái hư. Y phục cũng thế. Đàn ông còn quần cụt, quần tây, áo sơ – mi; đàn bà, con gái, luôn luôn áo dài, quần dài cổ truyền.

Việc xắt thuốc rất đơn sơ, ngộ nghĩnh. Trước hết lá thuốc. Thường là lá thuốc Cẩm Lệ nổi tiếng, tức là thuốc trồng ở làng Cẩm Lệ, Quảng Nam. Lá thuốc được phơi, phóng, ướp bằng nước sền sệt sắc từ cọng lá thuốc, rồi được cuốn tròn và chặt, đường kính khoảng hai phân tây, nối tiếp nhau thành một cuộng dài khoảng một mét, trông giống như khúc dồi heo khổng lồ. Và khoanh lại thành khoanh tròn. Tiếp theo là cái bàn xắt thuốc. Một bửng gỗ vuông mỗi bề hơn hai gang tay, dày khoảng năm phân tây, đặt thẳng góc với một cái bệ gỗ vững chắc bên dưới. Ở giữa bửng gỗ đó có đục một cái lỗ hình tròn đường kính cũng khoảng hai phân tây, cho vừa với cuộng thuốc. Lắp vào cái bệ và sát cạnh với bửng gỗ là con dao sáng loáng hình bán nguyệt lớn hơn hai bàn tay đâu lại. Con dao có hai cái cán ở hai đầu.

Có lẽ anh láng giềng đã hành nghề xắt thuốc từ thuở bé. Anh ngồi nghiêng người suốt ngày cạnh bàn xắt thuốc. Trong khi bàn tay trái chỉ đẩy cuộng thuốc qua cái lỗ tròn trên cái bửng, bàn chân trái kẹp chặt một đầu cán dao, kềm chặt luôn cái bệ bên dưới, thì tay phải phải vận động nhiều và mạnh – cầm cứng cán dao đầu kia, ép sát lưỡi dao vào bửng gỗ, dập xuống kéo lên không ngớt, xắt lia lịa vào phần cuộng thuốc vừa mới thò ra khỏi lỗ tròn nhờ bàn tay trái đẩy. Những lát thuốc rất mỏng tròn hoặc bầu dục rơi nhanh và đều xuống cái trẹt đặt bên dưới. Cả người anh ta, vì thế, biến thành dị dạng. Hai ống chân như hai ống sậy, vai lệch, cánh tay và bàn tay trái nhỏ tong teo so với cánh tay phải gân guốc, bàn tay phải to đùng. Khoảng vài mươi phút xắt xong một khoanh thuốc lá. Khoanh khác được mang tới ngay.

Anh chị không có láng giềng bên phải. Phía bên phải của ngôi nhà là con đường hẻm chạy song song với con hói nhỏ dẫn ra ngôi chợ của làng, có tên là chợ Phổ.

Thật ra làng Nam Phổ, hồi đó, có năm thôn, còn gọi là giáp, nối dài theo thứ tự Tây, Nam, Thượng, Trung, Đông. Về sau có thêm Phổ Trì, tiếp theo là làng La Ỷ xinh đẹp nằm nơi khúc quanh của sông Hương, bên lở bên bồi. Về sau nữa, tên làng lại đổi khác. Mỗi giáp có cái đình riêng. Cái đình chung của làng là Đình Cả khá lớn; trước đình, bên kia con đương nhựa đen, có ao sen hình bán nguyệt nằm kế lũy tre lá ngà cao và rậm. Cái chợ chung của làng là chợ Phổ, thuộc địa phận của Giáp Nam, hay Phổ Nam. Cư dân của Phổ Đông, xóm Rột, thường đi chợ Nọ, gần hơn. Từ trụ sở huyện lỵ Phú Vang nhìn ra con đường nhựa nói trên (con đường này chạy dài xuống Thuận An), đi qua chiếc cầu gỗ bắc ngang một nhánh sông Hương, là đến chợ Nọ. Chợ Nọ thuộc làng Dương Nổ. Chợ Nọ nghe vui cái lỗ tai, phải khôn mạ hắng? Rứa tui đố có chợ mô tên chợ Tê hay khôn?

Ngôi nhà chính cùng với nhà ngang bao bọc hai cạnh của cái sân đất nện hình vuông. Ở một góc sân có cái bể cạn. Cạnh đó là một bụi bông trang lá dày xanh đậm, hầu như lúc nào cũng cho ra hoa đỏ thắm. Lá rất xanh, hoa rất đỏ. Bốn cây cau được trồng quanh bể cạn. Trên mỗi thân cau đều được cột chặt vào một mo cau uốn thành hình cái phễu chỉa vào gần mặt bể nước. Huế nhiều mưa. Nước mưa từ những tàu lá cau trên cao sẽ theo thân cây chảy ròng ròng xuống phễu, và từ đó chảy róc rách xuống bể cạn. Mùa mưa, bể cạn đầy. Trên mặt nước, mấy cánh bèo tí hon lúc la lúc lắc dưới cơn mưa, mấy cọng rêu xanh nhạt chìm chìm, nổi nổi, đàn cá mặt trăng nhỏ hơn cây tăm xỉa răng lăng quăng, luýt quýt. Bên trên mặt nước, thỉnh thoảng vài ba con chuồn chuồn kim lượn qua lượn lại. Chuồn chuồn kim nhỏ như cây kim may. Muốn làm quen với cá mặt trăng hả? Và khi nắng hửng lên, những con chim sẻ rất dạn dĩ, vì có “quen biết” với chị, nhảy nhót, vui chơi trên thành bể. Ngồi róc cau trên phản, chị thường nhìn mông ra bể cạn, lòng thư thái.

Trước mặt nhà, một bụi chè tàu làm bình phong. Sau nhà, vườn cau xanh biếc, mát mẻ, ngay hàng thẳng lối. Dọc theo những gốc cau là những con mương hẹp, cạn, thỉnh thoảng được chuyển nước vào. Cau được trồng khá gần nhau, nhờ vậy đến mùa thu hoạch, anh chồng chỉ cần trèo lên cây cau đầu tiên, cắt buồng cau xong khỏi phải mang xuống gốc, dùng dây thòng buồng cau xuống cho chị vợ đứng bên dưới đỡ lấy. Rồi cứ thế cắt tiếp. Một cây cau trong thời kỳ trẻ trung có thể trổ ra bốn, năm buồng. Xong, anh kéo dây lên, nghiêng mình đu chuyền qua cây cau khác, cắt những buồng cau khác. Cứ thế cho đến khi thu hoạch xong cây cau cuối cùng trong vườn, anh mới trụt xuống.

Muốn trèo cau dễ dàng, dùng cái nài giống như cái chiếc còng số 8 để đưa hai bàn chân vào. Cái nài giữ hai ống chân và cho hai bàn chân xòe ra ôm lấy thân cây cau; bên trên hai tay cũng ôm lấy thân cau; rồi hai chân đạp đẩy người lên, hai tay thì kéo; trèo, trèo. Vật liệu làm nài: cọng giữa của tàu lá chuối vừa khô, dai, đập dập, uốn cong thành vòng tròn, cột lại hai đầu. Bẻ quặt thành hình số 8.

Rải rác dăm ba cây chuối, một cây khế chua, mấy khóm rau thơm, rau húng, tía tô, nhiếp cá, rau khoai, và một cái giàn bằng tre cho leo lên vài dây bầu mé này, vài dây bí mé kia. Và đặc biệt, một cây nhãn, anh chị gọi là cây “dỡng”, tựa dày, hột nhỏ, rất ngọt, rất ngon.

Cau là nguồn sống quanh năm. Hết cau nhà, hai vợ chồng hái cau thuê, bửa cau thuê, người Bắc gọi là bổ cau, cho hàng xóm, hoặc cho những làng gần, làng xa. Có khi anh chị đi đến tận Mỹ Lợi cách nhà nhiều dặm đường, không đi xe, tốn tiền, đi bộ mà thôi, rồi lên đò qua mấy khúc sông. Cau Mỹ Lợi cũng khá ngon, nhưng không ngon bằng và không có tiếng tăm như cau Nam Phổ. Đây cau Nam Phổ: mỏng vỏ, nhỏ xơ, tơ lòng, trong ruột.

Chuối dành để cúng kỵ; khế, bắp chuối sứ, xắt mỏng để ăn chung với những món rau xanh. Trái khế còn được dùng làm khế xăm ngâm trong nước mưa đựng trong chiếc vại sành.

Nhưng cây nhãn mới đặc biệt. Mỗi năm nó cho một lứa trái; hai vợ chồng không dám ăn từ khi có đứa con trai đầu lòng. Hay nói đúng hơn chỉ ăn mót mấy trái long ra khỏi chùm, nằm trong cái lồng làm bằng mo cau có đục mấy lỗ thông hơi. Không có cái lồng, chim chóc sẽ quấy phá những chùm nhãn mơn mởn, và gió sẽ đu đưa làm rụng những trái nhãn chín tới, thơm lừng.

Vừa sinh đứa con, vợ bàn với chồng rằng cây nhãn phải là của riêng của “thằng chó”. Mỗi mùa có bao nhiêu nhãn bán hết, và “không được rớ tới” số tiền bán nhãn. Số tiền đặc biệt đó dành cho “thằng chó” khi lớn lên mua quần áo, sách vở, viết mực, những gì liên quan đến việc học hành của nó. Hai vợ chồng thương “thằng chó” lắm, nhịn ăn nhịn tiêu, cố gắng cho nó sau này sẽ đi kiếm năm ba chữ lận lưng làm vốn. Họ mong “thằng chó” nên người. Hay hơn thế nữa, thành tài.

Chị quá trẻ so với chồng. “Ba hắng” hơn “mạ hắng” trên 20 tuổi, cha mẹ đã qua đời, để lại một vườn cau nhỏ, và vài sào ruộng trên cánh đồng ngoài, nghĩa là bên ngoài lũy tre chắn ngang làm biên giới. Khác với cánh đồng ngoài, cánh đồng trong thuộc vào loại thượng đẳng điền, đất tốt, có dòng suối uốn quanh, sản xuất loại gạo thơm phức. Anh đã có một đời vợ. Vợ bị thương hàn chết sớm cùng cái bào thai nằm trong bụng mẹ. Năm năm sau anh mới cưới chị, năm kế tiếp sinh con. Thương và chiều chị như “chiều vong”. Chị “hiền khô”. Không phải vì được chồng thương mà “leo lên đầu, lên cổ” chồng mà ngồi, trái lại cũng thương chồng vô cùng, dịu dàng, kín đáo. Chị thường nói, Tui cũng thương ba hắng hung lắm, mà ba hắng mô có biếc. Và chị cũng thường tự hỏi, Hồi mới về, tui sợ mình hơng sợ cọp. Mình gầng bằng tuổi cha tui, bặm xị, dữ dằng. Rứa mà có khi mình chui cấy đầu bờm xờm vô bụ người ta có khác chi thằng chó khi đoái đoài bú. Lầng lầng hết sợ. Mà thương thì thương hơng.

Rồi cười. Ít khi bằng miệng mà bằng mắt, hai con mắt lóe ra những tia ấm áp, xôn xao, khuôn mặt bỗng sáng tỏa lên. Tay phải cầm dao, chiếc dao cau cán dài đến gần hai gang tay, lưỡi cũng dài và sắc lẻm. Cái cán dài được kẹp vô hông khi róc cau. Ngón cái của bàn tay trái ấn mạnh lên chủm cau, những ngón còn lại nâng lòng trái cau xoay nhanh. Lưỡi dao từ bàn tay phải róc vỏ trái cau, róc róc lia lịa như máy. Vỏ cau xanh, mỏng, rơi lả tả xuống cái nia lớn đặt bên dưới.

"Răng, răng. Ba hắng lại noái chữ đó hả."

Liếc mắt tình tứ nhìn chồng, chị nói tiếp:

"Tứng từng, tứng từng. Noái không phải noái, thức cười quá."

"Ở đó mà cười với khóc! Mà trửng với giỡng. Róc cau nỏ lo róc cho kịp, lại còong liếc liếc người ta. Coi chừng đức tay chừ."

“Ăng noái vô duyêng,” chị lẩm bẩm. “Noái khôn phải noái, vừa ngủ vừa róc cũng mô vô nấy. Diều khi róc cau suốc đêm, ngủ ngồi khi mô khôn biếc, cái lưng nghiêng qua nghiêng lại nghiêng tới nghiêng lui, dư mụ Tám lên đồng. Muống bổ sấp bổ ngửa. Cặp mắc thì dắm trít, hơi thở phì phì như nồi cơm đương cạng. Mà cũng biếc khi mô róc xong một trấy, lấy ngay trấy khác róc liền liền.” Nói thì thầm một mình. “Cho kịp chơ. Còong phải cắc chủm, rồi bửa, rồi sắp lên bồ, sề, sấy, rồi đếm từng thiêng, vô bao, rồi gánh tới dà mụ Đội. Trễ hẹng mụ chưởi cho túi mặc túi mũi. Mà thiệc ra mụ chưa chưởi mình, mụ thương, mà thấy mụ chưởi người khác mình cũng đủ tảng thầng hồn.” Quay qua nói với chồng. “Nên phải dờ ba hắng ru thằng chó. Tui mà ru hời ru hởi một chút thôi là hắng ngủ liền. Mà cũng dờ hắng khôn chịu ngủ, tui mới được nghe ba hắng noái chữ.”

Anh tính mở miệng, chị khoa tay chận:

“Khoang cái đã, tui chưa noái hết. Noái khôn phải noái, đức tay răng được mà đức. Muống chọc tui hả? Tui chọc lại cho mà coai.” Bỗng chị lên giọng to hơn, con chó mới lớn nằm ngủ trong cúi mở choàng mắt nhìn chị, đuôi ve vẫy nhè nhẹ. Chị cười:

"Duyêng nợ tứng từng. Hay thiệt. Hay dức trong bài noái chữ." Đỏ mặt. "Mà ba hắng ưa tứng từng thì có."

"Mạ hắng lại dắc chừng đó hả? Được, tui dớ mà. Túi ni hỉ."

Người đàn bà la toáng:

"Khôn phải, khôn phải mô. Vô duyêng. Tui học lui học tới chưa thuộc nên dờ ba hắng noái lại. Thằng chó théc chưa? Ba hắng nói chữ lại từ đầu tới đuôi cho tui nghe đi."

Nói thì thầm, Mình biếc diều câu hò ru em, ‘Seng xa hồ nên chi seng khô hồ cạng. Lựu nọ xa đào nên chi lựu ngã đào nghiêng. Vàng cầm trên tay rớt xuống khôn phiềng. Xa người bạng cũ biết mấy niêng cho hết buồng.’ Làm răng mà hay cho bằng ba hắng noái chữ. Tề, tề. Diều khi coong dỏ hàng xóm đứng sau bụi chè tàu rình nghe trộm. Hắng coai bộ muống mặng mà với ba hắng. Khôn sợ. Cứ vô đây nghe cho vui, có chị có em, tui khôn gheng mô.

Người đàn ông hả họng cười khoái chí, lòi cái răng mẻ chưa có tiền đi bịt bạc.

“Noái lại từ đầu thì noái lại. Sợ chi.” Lên giọng ê a như ông thầy pháp tụng kinh:

Mầng một bức thơ

Gởi về bổn hạc

Trước thăm da dạc

Sau viếng tình dơng

Duyêng nợ tứng từng …

Người đàn bà cười khúc khích:

“Đọ, đọ. Tứng từng, tứng từng.”

“Cứ chậng họng người ta hoài. Không noái nữa.”

“Thôi, thôi, ba hắng bớc giậng. Tui xin một chữ ngồi yêng.”

“Ngồi yêng răng được. Ngồi róc cau mau mau lên đi chơ.”

Người đàn bà dạ dạ. Người đàn ông nheo mắt cười lại, ê a tiếp, giở cái giọng thảm thiết:

Duyêng nợ tứng từng

Thủy chung dư dức

Chẳng qua chuyệng cực

Đôi đứa đôi phương

Chị vợ chớp chớp mắt:

“Tội nghiệp quá.”

“Tội chi mà tội. Tội lội xuống sông. Mai mốt có chồng tội lội lên. Mà để yêng cho người ta noái. Hể chậng họng một lần nữa, một lầng nữa thôi, dức định không nói nữa mô. Dớ đó nghe.”

Đạo ngãi tình thương

Trăm năm tạc dạ

Nào ai ở chạ

Trời đất chứng tri

Chị buột miệng:

“Rứa mới đáng là bậc … chi chi hè.”

“Thôi không noái nữa.”

Chị vợ hốt hoảng:

“Tui lại lỡ miệng ba hắng ơi. Tui dức định khôn dám hó hé một tiếng nữa mô. Ba hắng bớc giậng, bớt giậng. Cho tui dờ.”

“Có chắc không?”

“Chắc chơ răng khôn chắc.”

Anh liếc mắt một cái sắc lẻm, tiếp tục ê a, giọng càng não nuột hơn:

Nào khi ra đi

Trầu ăng thuốc hút

Vắng mặc một chút

Thương dớ ba ngày

Nào khi thiếp đó chàng đây

Châu rơi ước áo …[1]

Nghe ‘Châu rơi ước áo’, chị không thể nào ngăn được mối thương tâm, cũng không dám “hó hé” một tiếng nào cả, thành thử chỉ biết thút thít, nước mắt ứa ra ướt cả hai gò má. Con vện đang ngồi yên trong tổ con cúi làm bộ nghe ngóng cái gì đó bỗng nhỗm dậy nhìn người đàn ông rồi sủa ăng ẳng, ra chiều trách cứ. Con mèo mun nằm khoanh tròn trong chiếc rá như thể đang ngủ say cũng vươn mình uốn éo, rồi chậm chạp bò tới đưa bàn tay nho nhỏ xoa xoa vào đùi người đàn bà, an ủi. Người đàn ông buông tao nôi ngoảnh lại hơi ngạc nhiên nhìn con mèo, rồi trừng trừng ngó con Vện, lên giọng nói to như nạt nộ:

“Mi binh mạ hắng hả? Mi cả gang dám sủa tau hả?”

Vện nỏ sợ, ăng ẳng to hơn. Người chồng buông tao nôi ra, bước tới một bước. Thằng chó ọ ẹ trong nôi ra miệng. Vện phóng ra khỏi cái cúi rơm, chạy tọt ra ngoài hè, vừa chạy vừa sủa to. Con gà mệ đang ấp trứng trên giàn tre cục tác mấy tiếng bỡ ngỡ. Con chim khách đậu trên nhánh nè trước ngõ giật mình kêu thảng thốt. Anh cười khì:

“Mạ hắng mới xin Vện về nuôi. Vện dớ ơng theo phe mạ hắng. Sủa ỏm tỏi.”

Anh trở lại tao nôi, hai tay đẩy đẩy. Chị dịu dàng:

“Khôn răng mô. Ít bữa nữa Vện quen hơi ba hắng thì sẽ về phe ba hắng luông khôn biếc chừng. Tui sá kể chi.”

Anh hóm hỉnh:

“Mà răng mạ hắng mau chảy nước đấy ra rứa?”

“Ăng noái vô duyêng cảy. Bảy ngày khôn hết vô duyêng.”

Nói xong, chị lại thì thầm chỉ đủ cho chính mình nghe, Mình noái người ta vô duyêng, mà mình vô duyêng trước mới hiệng ngụy. Hở một chút là cầm khôn được nước mắc. Lằm loà lằm luện. Mà cấy chuyệng ni mô có thảm thương bằng chuyệng O Huyêng đi chợ Bà Riềng gặp lấy trò Siêu. Tưởng rằng Thầy Mẹ báng gả. Ai mô ngờ …

“Lại lằm bằm chuyệng chi rứa? Muống nộp tui hả?”

Chị hơi giật mình: “Khôn, khôn. Tui mô dám. Tui đương … tính tiềng.”

“Tiềng chi?”

“Tiềng chi kệ tui … Ờ thì là tiềng chợ, tiềng đò, tiềng cơm, tiềng gạo.” Năn nỉ:

“Ba hắng nì, khi hồi tui chạ chạ, lác lác quá. Xin lỗi nghe. Noái không phải noái ba hắng không noái chữ thì thôi, đã noái thì làm ơng noái cho hết.”

“Khôn. Dức định khôn là khôn. Mỏi miệng rồi. Cạy răng tui cũng khôn noái nữa.”

Chị có duyên. Tóc dài khi gội đầu không bối sẽ chấm tới mông. Mượt mà, đen mướt, đen như hàm răng được nhuộm đều và kỹ trước khi đi lấy chồng. Mặt mày xinh tươi, da trắng mịn, mắt dịu dàng, tin yêu. Người dong dỏng cao. Đặc biệt, mau nước mắt. Không biết chữ, nói năng quê một cục. Thích và thuộc nhiều câu hò, câu hát, câu đố, ca dao, tục ngữ. Như những o gái quê khác, siêng năng làm lụng, “chảu lảy”, chịu thương chịu khó. Tính tình rộng mở, yêu con nít, thân mật với bà con, láng giềng. Luôn luôn chịu thiệt về phần mình. Những lúc rảnh việc, khá hiếm hoi, chị ưa tới gợi chuyện với chồng. Chồng bận thì ưa một mình ngồi mộng mơ, “Mơ xa lại nghĩ gần.”

Róc cau xong chị lo cắt chủm. Cắt chủm xong, lo bửa. Người Bắc gọi là bổ – bổ cau. Chị vừa làm việc vừa hò khe khẽ:

Thương dau cau sáu bửa ba

Ghét dau cau sáu bửa ra thành mười.

Rồi chị thì thầm trong bụng:

Qua sông anh phải lụy đò

Túi trời anh phải lụy o báng dầu

“Mạ hắng hò câu chi rứa?”

“Câu anh lụy o báng dầu. Dưng câu ni ba hắng mì khoái hơn nì:

Còong trời còong nước còong noong

Còong o báng rượu anh còong say sưa

Anh bắt bẻ:

“Mạ hắng nói rứa là trậc rồi. Dà mình có rượu mô mà uống.”

Chị mắt long lanh:

“Anh say mô phải vì rượu. Say vì cấy o báng rượu chơ.”

Anh cười tình:

“Tui xin một chữ noái thiệc, mạ hắng mà tin tui dờ, mà khôn tin tui chịu. Tui khôn hề say sưa vì cấy o mô khác cả. Tui chỉ biếc say có một o thôi. Là tui say tít thò lò cấy o mít ước.”

Chị đỏ mặt. Chị xúc động muốn khóc khi nghe ba hắng “thổ lộ tâm can”. Cố nén:

“Ba hắng noái chi lạ rứa. Tui mô dám khôn tin.” Ngập ngừng. “Mà ba hắng … có muống uống rượu khôn? Mai mốt đi chợ tui mua.”

“Thôi, để khi khác. Tết dức rồi tính chuyệng rượu với chè.”

Chị vẫn ấm ức vì anh đành đoạn nửa chừng không chịu “noái chữ” cho hết bài:

“Chừ tui đố ba hắng. Hễ ba hắng trịt thì phải noái chữ tiếp cho tui nghe. Có chịu hay khôn thì noái một tiếng cho tui biếc.”

“Muống đố cấy chi thì cứ đố đi thử.”

Chị cười sung sướng:

“Bậng áo điều áo đỏ

Ngồi chỏ hỏ sau nương

là cấy chi?”

“Dễ ợc. Là bụi thơm.”

“Rứa còong, cũng:

Bậng áo điều áo đỏ

Ngồi chỏ hỏ trên trang

là cấy chi?”

Anh xì một tiếng:

“Cũng dễ òm. Là con cua.”

Chưa chịu thua, chị tiếp tục đố:

“Tại răng:

Ra đi ngó trước ngó sau

Ngó dà mấy cột, ngó cau mấy buồng

là đi mô mà phải lo lắng dữ rứa?”

Anh hóm hỉnh:

“Đi mô hả? Là mạ hắng bỏ dà bỏ cửa đi theo trai … theo tui.”

“Ba hắng noái lộn rồi. Cưới hoải đàng hoàng chơ có phải dư rứa mô.”

Nói thế, nhưng chị cũng đỏ mặt, cúi đầu nhìn trái cau đang xoay nhanh trong mấy ngón thon thon của bàn tay trái, trong khi lưỡi dao sáng loáng trong bàn tay phải róc róc nhịp nhàng và lẹ làng. Thật ra chị còn biết nhiều câu đố khác. Chẳng hạn: “Tròn vành vạnh như cạnh tía tô/Đi Nam đi Bắc đi mô cũng về” là cái nón, thì không sao. Nhưng: “Tròn vành vạnh như cạnh tía tô/ Đi Nam đi Bắc đi mô cũng không về” là nấm mộ, thì xui xẻo quá. Chị không muốn nói điều gì liên quan đến điềm gở. Anh lớn tuổi hơn chị nhiều. Chị muốn anh với chị sống bên nhau đời đời, kiếp kiếp. Anh được thể phản công:

“Hết sạch cả câu đối rồi hả? Chừ tới phiêng tui nghe:

Coong gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau

Coong trai Dương Nộ ngó chộ dực mình

Có đúng dư rứa khôn?”

Chị lúng túng:

“Noái khôn phải noái, tui có khi mô thấy dư rứa mô. Chắc ôn mệ mình xưa tê nghèo khổ cho nên đành phải …”

Anh ngừng đẩy tao nôi, đưa tay quạt đuổi con ruồi xanh đậu trên ngón chân cái của “thằng chó”, nhìn chị một cách thich thú:

“Răng khun rứa? Dưng mà trả lời theo cấy lối nớ thì cũng dư chưa trả lời. Rứa là khôn được. Tui phải đố câu khác. Đay:

Đầu rồng đuôi phượng le te

Mùa xuâng ấp trứng, mùa hè nở coong

là cấy chì chi rứa hè?”

Chị nghĩ tới nghĩ lui nát nước mà không ra. Cau mày, nhăn mũi, cắn răng. Đành chịu thua. Anh cười hả hê:

“Thì là cái của quý của mạ hắng đó.”

Mặt chị đỏ dậy lên như trái thơm sau nương, như con cua luộc cúng trên trang. Chị không thèm ngó anh nữa, nguây nguẩy cái đầu, có vẻ giận. Anh vội nói:

“Đừng tứng từng nghĩ bậy bạ. Là cây cau chớ có phải là cấy chi mô. Nghe tui noái đây nì. Gốc cau ngó dư cấy đầu coong rồng chúc xuống. Dống dư cấy đầu coong rồng nơi cột dà trong nội. Là trong cung vua. Còong mấy chùm lớ trên cao ngó dư cấy đuôi coong chim phượng chổng chổng lên trời le te. Giêng hai là mùa xuâng cau nở bông. Tháng năm tháng sáu mùa hè bông trổ thành buồng, thành trấy.”

Chị sung sướng quay đầu lại, miệng trầm trồ:

“Ba hắng hay chữ thiệt.”

Khi bửa cau, cầm những trái cau to nhỏ khác nhau trong lòng bàn tay trái, không chút đắn đo, chị biết ngay nên bửa nó ra làm 4 hay 5, hay 6 hay 7 … để có một rổ cau miếng nào ra miếng nấy bằng nhau đều đặn, láng lẩy, đẹp đẽ. Tiếp đến sắp cau vô sề. Cái sề trông giống như cái nia lớn, chỉ có khác là nia làm bằng tre đan kín, sề làm bằng tre đan thưa, chừa những lỗ mắt cáo. Nhiều cái sề được chồng lên cái bồ thành một chồng cao, bên dưới có cái lò lửa than to lớn phủ đầy tro cho sức nóng không gắt.

Đây là giai đoạn sấy cau. Thường sấy cau ban đêm, ban ngày chị còn phải làm nhiều việc khác. Chị không có đồng hồ reo, nhưng luôn luôn thức dậy đúng lúc thay đổi vị trí của từng cái sề một. Nếu không thay đổi kịp thời, những sề bên dưới sẽ cháy đen, sề cũng như cau trên sề, trong khi cau của những sề bên trên chưa ráo nước. Công việc “thay đổi mớ sề trên cấy bồ” do đó cũng là một khâu rất quan trọng đòi hỏi kinh nghiệm, chăm chút, thương khó.

“Mấy bữa ni bận bịu quá, mạ hắng không chợ không búa chi cả. Túi ni có chi ăn không?”

“Dạ. Để tui lo. Cho qua bữa thôi nghe.”

Chị đi một vòng quanh nương. Có khi đi ra ngoài xóm lui cui dòm ngó bên dưới bụi tre, bụi hóp, bụi cỏ coi thử có cỏ dại nào ăn được, như cỏ trai chẳng hạn, hoặc nấm không độc. Mươi phút sau, chị quay về tay cầm một nắm rau “hằm bà lằng” gọi là rau tập tàng, đọt bầu, bông bí, rau khoai, rau má, lá me đất, lá càng cua mọc hoang, vài thứ cỏ … Om cơm lửa rơm vừa chín tới, chị vội làm nước chấm. Cho vào cái đọi miệng loa vài muỗng ruốt, có vùng gọi là mắm tôm, một ít tóp mỡ lấy từ trong cụi, vài lá hành xanh, tỏi đập, vài lát ớt đỏ, thêm miếng đường đen nhỏ, cho nước vô, cầm đôi đũa quậy quậy, rồi bắc lên bếp. Mau sôi lắm. Vừa sôi, truống xuống, vắt vài lát chanh. Trong khi đó anh đã xẹt ra ngoài hè vói tay bẻ hai trái chuối chát non từ buồng chuối sứ lòng thòng cạnh chuồng gà. Khỏi cần rửa, chỉ xoa xoa, thổi thổi cho sạch bụi bặm, khỏi cần xắt thành lát mỏng, múc thêm một muỗng ruốt sống để nguyên trong muỗng khỏi cần chiết ra chén, để chấm chuối chát. Cầm nguyên trái chuối đút vô miệng cắn nghe rạo rạo. Thế là hai vợ chồng ăn một cách ngon lành bữa cơm tối nóng hổi.

Tuy nhiên dù khi chị không quá bận bịu, nghĩa là có thể sắp xếp việc nhà để “đi chợ, đi búa” hẳn hoi, bữa cơm cũng chỉ được bồi dưỡng thêm một khúc cá kho khô hay kho nước – cơm với cá như mạ với con – hoặc một tô canh khuyết, một loại tép biển, nấu với khế xăm ăn độn với bắp chuối; hay canh rau má, rau khoai, rau muống nấu với tép rong. Tép rong sống lẫn trong rong rêu nhỏ như cây kim may; tép giá to như cọng giá, đắt tiền hơn, xào với thịt thà.

Thỉnh thoảng, khi cau bán được giá, chị “làm liều” dọn thêm lên mâm một chén thịt kho tàu gồm mấy cục thịt mỡ núc ních, vài quả trứng vịt, dăm con tôm còn nguyên đầu. Chị thường nói, Tôm có đầu ăng mới đâu vô đó, mặng mà, đậm đà. Hoặc một dĩa thịt heo phay ba chỉ ăn với dưa cải và nước mắm ớt. Không uống rượu, tốn tiền, cũng không có đồ tráng miệng sau bữa ăn. Có khi mua được một trái cam, trái quýt, trái xoài, sẽ cắt ra làm hai hay làm bốn. Hai người ăn nhín nhín, để dành trong cụi phần lớn cho những bữa tráng miệng sau. Có khi quên đổ đầy nước vô bốn cái chén nhỏ đặt ở dưới bốn chân cụi, kiến bò vô cụi dành ăn ngay. Thì phủi kiến đi, hoặc thổi, không giết. Sợ sát sinh. Và lại để dành món tráng miệng ấy. Không hiểu sao nếu các món ăn bị “ruồi bu”, chị có tiếc cũng bỏ, nhưng “kiến đậu” thì “không răng mô”.

Cuộc sống khá kham khổ cứ thế đều đặn và chầm chậm trôi, không biến cố, không chứa chấp hay báo hiệu một mối lo âu, hay nguy khốn nào. Êm đềm như dòng nước chảy của con hói trước nhà. Ba năm sau, anh chị có thêm đứa con gái. Chật vật hơn. Mà tiếng cười cũng nhiều hơn. Có thêm tiếng khóc trẻ thơ nữa chứ, càng vui nhà vui cửa.

*

Hai mươi năm trôi qua. Yên ổn. Rồi giặc giã. Rồi bom đạn. Nhìn lại, thấy quá nhiều thay đổi và không ít đe dọa. Chuyện mới đó mà như chuyện đời xưa.

Nhà hàng xóm bên trái biến thành cái quán ca hát, quán ca-ra-ô-kê, do người khác làm chủ. Gia đình ông xắt thuốc trôi giạt tới nơi đâu không ai biết. Người cũ của cái xóm nhỏ đi tan tác khắp nơi. Mười phần còn lại một hai.

Thế gia đình “ba hắng, mạ hắng”?

Vẫn bám trụ.

Người ăn trầu càng ngày càng giảm đi nhiều. Anh chị đành phải bỏ nghề cau. Vườn cau không được chăm bón, xơ xác. Cau chết dần, lòng chị muốn chết theo. Thay vào đó là những luống khoai, luống sắn, người Miền Nam gọi là khoai mì. Khoai sắn bán đi không nuôi được một gia đình với bốn miệng ăn. Đành phải bán sào ruộng trên cánh đồng ngoài, giành giụm gượng sống qua ngày. Ngồi ăn núi lở. Tiền bán ruộng rồi cũng hết. Bí quá, anh vác cuốc đi làm công cho người khác, bữa đực, bữa cái. Chị để ý thấy mặt mũi anh ngày càng sạm đen, hai cánh tay nổi gân lên như trùn bò, hai bàn tay cứng ngắc, da dày cộm. Anh không một lời than van, và đồng thời cũng bớt cười giỡn, hóm hỉnh. Chị đau lòng. Mình phải đỡ ba hắng một tay, chị tính toán. Và bàn với anh chị sẽ theo anh ngày ngày đi làm việc cho người ta, làm vườn, làm tược, lôn khoai, lôn sắn, làm đất, làm cỏ, gánh thuê, gánh mướn … như ba hắng. Nhưng anh không chịu. Cuối cùng anh bằng lòng cho chị đi may thuê vá mướn nhiều nơi, khi ở các chợ Phổ, chợ Mai, chợ Nọ, lúc trong nhà những người có tiền. Cũng bữa đực, bữa cái. Ăn uống bữa đói, bữa no.

Tuy thế, thằng con trai vẫn được cho đi học; cây nhãn vẫn cho nhiều trái, tuy về sau khi nó đã già, hai, ba năm mới có một lứa trái to và ngon; đứa con gái chưa lớn lên mấy đã biết giúp làm việc nhà. Ban đêm nó được cha, anh chỉ vẽ cho học được chút chữ nghĩa. Chị nhân đó cũng học lóm cho tới khi biết đọc, biết viết. Nói năng bớt quê mùa. Chị sáng dạ, ý tứ, học lóm một cách dễ dàng. Bốn phép tính cọng, trừ, nhân, chia, chị đều có thể tính rợ rất mau và rất đúng. Thuở còn làm cau, chị đã từng tính toán lanh lẹ, hết thiên này tới thiên khác. Những con số nhảy múa trong đầu chỉ trong mấy giây rồi đâu vào đấy, ngăn nắp, thứ tự, rõ ràng. Những thiên cau được nhân ra thành tiền, chia ra cho những nhóm bạn hàng, không sai một ly. Còn cọng với trừ thì quá dễ đối với chị.

Đứa con gái mới 17 tuổi đã đi về nhà khác. Lấy chồng xa. Một anh “công tử” nhà khá giả, người miệt An Giang, Châu Đốc, nhân một chuyến ra thăm Huế cho biết kinh đô, vua chúa, nhưng không để ý chi mấy tới cung điện, lăng tẩm, hay sông núi hữu tình. Trái lại mê gái. Mê “như điếu đổ” đứa con gái thẹn thùng của anh chị chàng tình cờ gặp trong một buổi đi lễ chùa miền quê. Nàng nhất định không chịu lấy chàng, nhưng chàng lại nhất định lấy nàng.

Trước hoàn cảnh đó, ba hắng im lặng. Nhưng chị biết rõ lòng anh. Anh thương đứa con gái vô cùng, có lẽ còn thương hơn cả thằng con trai. Anh thường trầm trồ với chị, Lúc dỏ con ẹo đeo tui khôn hở, làm nớt cả ngày, khóc lè nhè luông miệng. Lớn lên thì gặp ai lạ là hổ ngươi, là đỏ mặc. Đụng một chút là chảy nước mắc. Cũng trắng trẻo, cũng hiềng hậu, cũng ẹo ẹo, cũng xinh đẹp. Răng mà giống mạ hắng dữ rứa – Chị đỏ mặt, cảm động, cặp mắt rưng rưng.

Chị nghĩ tiếp, Rứa mà ba hắng không chịu nói phô chi cả. Chắc là trong bụng đã bằng lòng gả con. Chắc là cũng đau như rứt ruột ra. Thôi, đành phải liều cho nó đi một bước, cho nó sung sướng, cho nó đổi đời.

Đám cưới đơn sơ, gấp rút, theo ý chàng. Cha mẹ chàng ở trong Nam chưa kịp ra. Ngày nàng theo chàng, nàng khóc như mưa. Chỉ một mình anh tiễn đưa tới bến xe đò, lặng thinh. Chị trốn biệt.

Bớt một miệng ăn, cuộc sống của ba người còn lại vẫn chật vật. Anh tập đi buôn. Anh theo một người bà con mua nón lá từ làng Triều Sơn – Triều Sơn chuyên nghề chằm nón – ngoại ô kinh thành Huế, mang ra bán tận ngoài Quảng Trị. Cũng không khá. Có chút chữ nghĩa, được người bạn cũ từ thời tiểu học rủ đi làm lơ xe, bán vé xe, tính toán sổ sách cho một xe đò Huế – Đà Nẵng. Có khá hơn. Nhưng trong một chuyến đi vào dịp Tết, xe anh bị mìn. Chiến tranh đã lan ra nhiều nơi, người ta giết nhau, người vô can bị vạ lây, nhưng thật ra có ai là người vô can hay không, xe anh lật xuống đèo Hải Vân. Anh chết.

Chị muốn chết theo chồng. Chị thường lẩm bẩm, Mình cũng đã gần 50 tuổi đời, sống thêm làm chi cho chật đất. Nhưng nghĩ lại còn con. Chị tạm thời giấu đứa con trai không cho nó biết ngay cái tai nạn khủng khiếp đó. Sợ nó kinh hoảng quên cả bài vở ở trường. Nó đang học hành chăm chỉ, và học giỏi. Chị cũng không cho đứa con gái ở xa biết cái tin cha chết. Chị nghĩ, Nó không biết thì nó đỡ khổ hơn. Một mình đi lãnh xác chồng về chôn tại cồn mồ bên kia con hói, gần làng. Khi mọi việc xong xuôi, chị mới cho con trai hay. “Gặp nó hàng ngày, giấu sao nổi”, chị than thở.

Chị thương chồng, thương con vô cùng. Thương luôn con nít hàng xóm. Đi chợ về có mấy cục kẹo cau – ruột làm bằng đường trong, bao bọc bởi đường đục, trông giống miếng cau tươi -, vài cái bánh quế, mua cho thằng con trai cưng. Nhưng hễ có mấy đứa nhỏ nào tới chơi với con, chị chia đều cho con và mấy đứa nhỏ kia. Bà con, xóm giềng ai cũng quý mến chị.

Chồng chết, chị ngẩn ngơ như người mất trí, thỉnh thoảng có những hành động kỳ quặc. Chị bận may vá luôn tay, không có đủ thì giờ để đi chợ, tự mình nấu nướng những món ăn cho anh hàng ngày. Bữa có bữa không, và thỉnh lên bàn thờ. Còn riêng chị, ăn chi cũng được. Đắng miệng, nhịn đói. Vì vậy, càng ngày chị càng ốm o, gầy mòn. Những lúc rảnh rỗi đôi chút, chị ba chân bốn cẳng chạy đi mua vài ba món ăn anh thích, đem qua mộ anh bên cồn mồ. Chị ngồi xuống bên mộ, đặt thức ăn lên nấm mồ, thắp ba cây nhang, lâm râm cúng vái. Nhiều khi vô ý chan vào đấy mấy giọt nước mắt. Rồi ngồi đó thật lâu, ngó quanh không thấy ai, chị nói chuyện lảm nhảm một mình, khi cười, khi khóc. Cuối cùng cũng phải đứng dậy ngoảnh mặt mà đi, mang về nhà những món đã cúng, trước cúng sau cấp, để dành cho thằng con trai đang bận đi học.

Buổi chiều đi học về, đứa con trai mừng rỡ:

“Mạ nì, đồ ăn mô mà nhiều quá ri, ngon quá ri.”

“Ba con cho con đó.”

Nó thèm thuồng liếc nhanh các món ăn, nuốt nước miếng không giấu giếm, rồi nói liếng thoắng một hơi dài:

“A, mạ vừa đi thăm mộ ba hả, ra răng, cỏ mọc nhiều chưa, một mình nhổ có sạch cỏ không đó, lâu ngày con bận lắm, học bài, bậy quá, ba có giận con không mạ.”

”Không răng mô con ơi. Con chăm học là ba vui rồi.”

“Con đói bụng quá. Ăn, ăn, ăn, mạ ơi.”

“Không, mạ còn no. Con ăn đi.”

Nó ăn ào ào như sắp chết đói tới nơi. Khi ăn gần hết, nó sực nhớ, nhìn mẹ, nói tỉnh bơ:

“Con để dành cho mạ đó. No chi mà no. Mạ ăn đi.”

Chị mỉm cười âu yếm nhìn con, thầm nghĩ, Tội nghiệp con tui quá. Lâu lâu mới được một bữa ăn đàng hoàng. Rồi chị tém tủm gắp các thức ăn còn dư cho vào chung một cái tô, lấy cái dĩa đậy lên, dớm người đứng dậy.

“Mạ làm chi rứa mạ?”

“Mạ cất vô cụi.”

Nó cười giòn tan:

“Cất mất ăn. Giấu gấu ăn. Thôi, mạ no thì để con ăn họong hết đi cho rồi.”

Chị nấu ăn ngon có tiếng. Khi còn anh, chị có dịp làm bánh canh đãi bà con trong những dịp như kỵ, chạp, Tết nhứt. Thường cũng mời vài người láng giềng ở gần tới ăn. Ai cũng khen ngon hết chỗ nói. Thì hãy liều bỏ việc may thuê vá mướn bất đắc dĩ, làm bánh canh gánh đi bán coi thử ra răng. Bánh canh Nam Phổ đã được nhiều người biết tới, mà chị cũng là người Nam Phổ. Hoạ may kiếm đủ tiền nuôi con học cho xong Trung Học. Đứa con gái thì đã được yên thân. Chị bàn bạc việc đó với thằng con trai. Nó cũng thương mạ lắm, chị biết, nhưng lại có cát tật ưa lý sự. Và hễ có dịp là “ăn hiếp” mạ.

“Mạ răng hay ưa thay đổi quá, ưa lộn xộn quá? Tụi Tây nó nói, ‘Cục đá cứ lăn hoài thì không bám được rêu.’”

“Nói chi mạ không hiểu.”

“Không hiểu Tây thì hiểu Tàu nghe mạ. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.

“Con nói chi rứa?”

“Con muốn nói mạ cứ tiếp tục may vá đi. Mạ khéo tay, lâu ngày thành thợ giỏi. Con thấy cái nghề đó hợp với mạ hơn.”

Cái nghề? Thiệt ra mình chỉ giỏi nghề cau mà thôi. Chừ hết cau, nhớ quá, phải cực chẳng đã đi may đi vá bậy bạ đắp đổi qua ngày. Nghề chi mà nghề. Nó có biết giùm cho như rứa hay không. May vá lại ế ẩm, nhà mô cũng có người biết may chút đỉnh, mạ kiếm có được bao nhiêu tiền mô. Đành thở dài nói lên điều mà chị không muốn cho con biết:

“May vá khó kiếm tiền lắm. Ăn xong bữa túi, lo chạy tiền cho bữa sáng. Mà cũng không đủ. Nợ nần khắp xóm.”

Thằng con trai nhíu mày khó chịu. Quắt mắt:

“Rứa thì con nghỉ học là cách hay nhất. Con sẽ đi kiếm chỗ đi dạy. Hay làm thư ký hãng này hãng nọ. Con biết tiệm Chụp Hình Tăng Vinh đang cần người phụ. A mà tiệm Xe Đạp Rồng Vàng trên đường Trần Hưng Đạo coi bộ được hơn. Họ cần người làm sổ sách. ”

Chị hoảng hốt:

“Đừng, đừng, con. Mạ lạy con. Ráng thêm vài năm nữa cho xong Tú Tài. Mạ vui mà ba con khuất mặt cũng bằng lòng. ”

“Nhưng bán bánh canh mệt lắm. Không cần nói, ai cũng biết. Chợ búa, nấu nướng, củi lửa, làm lụng, gánh gồng, vất vả. Mà chỉ một mình mạ. Mà … mà …mà mạ có biết gánh hay không? Có gánh nặng được hay không đó?”

“Răng lại không được. Đầu lạ sau quen.”

Bỗng nó chăm chăm nhìn vào mặt chị một cách xoi bói khiến chị ngỡ ngàng. Nó buột miệng:

“Hai hàm răng đen của mạ …”

Chị lặp lại nhiều lần câu nói:

“Con nói chi mạ không hiểu.”

“Con muốn nói … mấy o bán hàng rong muốn đắt hàng phải ngó cho được con mắt, phải ‘tân thời’. Răng đen xưa lắm mạ ơi. Cho con khen mạ một tiếng nghe. Mạ chưa già, và dù bị cái hàm răng đen phá tướng đi nữa, mạ vẫn còn … còn … còn … Nhưng con nói thiệt mạ đừng giận, cái hàm răng đen bóng đó đã hết thời rồi.”

Chị đỏ mặt, ngập ngừng:

“Thì … thì phải làm răng chừ?”

“Cạo họong nó đi.”

Chị lại hoảng hốt nhìn con. Rồi cố bình tâm lại, Xưa nghe lời ba hắn, nay e phải nghe hắn. Hắn có nhiều chữ nghĩa, mình làm răng nói cho lại. Nói không phải nói, phải nghe lời hắn thôi. Chị cố kiếm thêm một lý do, Xưa 17, 18 tuổi nhuộm răng đen mới được đi lấy chồng, nay chồng không còn, thì còn làm đẹp với ai. Cạo răng đi cho rảnh.

Gánh bánh canh của chị, thêm một ít bánh nậm, bánh bột lọc, bánh ướt, mà chị phải thức khuya dậy sớm làm lấy tất cả, được làng xóm gần xa săn đón, vồ vập. Nhiều người cảm thương hoàn cảnh của chị, thường khuyên chị chịu khó gánh lên chợ Đông Ba bán. Chưa xin được chỗ ngồi thì cứ ngồi đại ở một góc hè mô đó cũng được, lo chi. Rồi trước sau chi cũng xí được một chỗ trong chợ. Con em dâu tui cũng đã làm như rứa, một người mách nước. Chịu khó đi xa một chút mà kiếm được nhiều tiền lắm. Chị cười trừ. Lần lữa. Nói nhiều lần chị không nghe, có lẽ người ta nghĩ rằng chị nhát gan, hoặc tối dạ. Cù lần.

Nhưng chị có lý do riêng của chị không tiện nói ra. Chị sung sướng thấy có đứa con học giỏi tại ngôi trường lớn nhất và tiếng tăm của thành phố. Trong vài năm nữa sẽ đi thi Tú Tài. Chắc sẽ đậu. Sẽ cậu Tú như ai. Trường nó học gần chợ Đông Ba. Đi vài đoạn đường, rồi rẽ trái qua cầu Trường Tiền là tới. Biết đâu có khi nó cùng bạn bè trai có, gái có, toàn là trai thanh, gái lịch, toàn là những người hay chữ, đi qua phố, đi vô chợ, mua sắm món này thứ nọ, vui chơi, cười giỡn, vô tư. Rồi lỡ gặp chị. Biết mô đó. Cái áo dài cũ rích, vá víu mấy nơi. Nối vai vì cái đòn gánh hết ngày nọ tới ngày tê đè lên nặng trĩu; nối tay vì hay xăn lên kéo xuống cho tiện làm đủ thứ công việc vặt vãnh; cái quần dài lem luốc nhăn nheo vì chưa một lần được là, được ủi; hai bàn tay gầy guộc xương xóc vì lao động cực nhọc chứ đâu còn là bàn tay thơm tho của o gái Nam Phổ róc cau; hai bàn chân đất thì nứt nẻ, vì mang guốc, mang dép khó đi mau, lỡ vấp vào rể cây, cục đá trên những con đường xóm quanh co, rứa là tiêu tan cả nồi bánh canh nóng hổi.

Mà tóc tai thì phờ phạc, mặt mày thì hốc hác, cặp mắt thì tuồng như luôn luôn sẵn sàng tan ra thành những dòng, chị nhớ anh nói chữ, những dòng “Châu rơi ướt áo”. Chị không dám gánh gánh banh canh lên phố, vô chợ Đông Ba. Lỡ gặp, nó mất vui. Tủi thân.

Tủi thân cho ai? Cho nó hay cho mình? Không, chị không bao giờ cảm thấy tủi thân hay buồn lòng vì gánh bánh canh đè nặng lên vai, trái lại chỉ buồn vì ba hắng không còn để thấy con sắp “thành tài”, để cùng vui sống. Chắc tủi thân không đúng, chị ngẫm nghĩ. Mà là ngượng. Chị lo nó ngượng.

Quả thật hai năm sau thằng con trai thi đậu tú tài ngay kỳ đầu. Đậu khá cao.

Việc đầu tiên, chị bỏ hai buổi đi bán. Vui với con, nhang đèn tới chùa, sửa soạn một mâm phẩm vật tươm tất, cùng đứa con trai qua cồn mồ cúng tạ “ba hắng”. Chị luôn luôn nghĩ rằng ba hắng hay chữ mới sinh ra được một đứa con thi mô đậu nấy.

Cái sung sướng hả hê đó không kéo dài được bao lâu, hai mẹ con phải sống xa nhau. Lệnh động viên. Chiến tranh như tai trời, ách nước ập xuống, và kéo dài như không bao giờ dứt. Nó là đứa con trai một trong gia đình nhưng không phải là đứa con độc nhất. Nó có em gái. Nên theo luật lệ, nó phải vào nhập học tại Trường Huấn Luyện Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức gần Sài Gòn, tận trong Nam. Thời buổi giặc giã, con trai lớn lên ai cũng phải đi lính, chị biết.

Mẹ lại một mình gánh gánh bánh canh đi khắp xóm làng. Nhưng nay mẹ là một người mới. Mẹ cười ngoài miệng; mẹ cười trong lòng; mẹ nuôi nấng không ít hy vọng cho tương lai. Tương lai của con và của chính mình.

Sau mười tháng, anh ra trường với cấp bậc chuẩn úy Bộ binh. Anh xin được phục vụ tại vùng giới tuyến thuộc vỹ tuyến 17. Đó là tuyến lửa, là nơi Quốc Gia và Cộng Sản hờm súng chỉa vào nhau sẵn sàng nhả đạn. Lẽ dĩ nhiên yêu cầu của anh được thoả mãn ngay. Riêng anh cũng hài lòng. Đường sá không xa xôi, cách trở. Được một ngày phép cũng có thể tranh thủ về thăm mẹ. Thông minh, can trường, anh nhanh chóng lên cấp bậc thiếu uý.

Rồi Miền Nam thất trận, mẹ đâu có ngờ. Con đi tù Cải Tạo. Đứa con gái ở miệt Châu Đốc cùng chồng con vượt biển, không biết sống chết ra sao.

Mẹ vẫn ngày này qua ngày khác gánh gánh bánh canh đi quanh quẩn xóm làng. Nồi bánh canh nay nhẹ hơn nhiều, nhưng tóc mẹ lại bạc nhiều hơn dù mẹ mới hơn 50 tuổi. Thân hình gầy gò hơn, mặt mày ngơ ngác hơn, cặp mắt buồn hơn. Cái gánh lỏng chỏng nhẹ tơn, cái đòn gánh trơ trơ không uốn mình nhịp nhàng theo bước chân đi. Ế ẩm.

Nồi bánh canh trông như cái gai trước mắt của công an khóm phường. Lời nặng tiếng nhẹ – thứ đồ ăn xa xỉ ai dám cả gan đụng tới, thứ ngụy tặc con phải đi cải tạo, thứ nghèo hèn thua kém mà không biết thân phận của mình. Mặc kệ, mẹ gan lì. Hay đúng hơn, liều. Hễ còn người ăn, mẹ còn gánh đi bán, còn ráng kiếm tiền dành giụm đi thăm nuôi con trong tù. Dân làng ngày càng mạt rệp, cơm không đủ ăn kiếm đâu ra tiền mua quà, mua bánh. Nhưng vẫn có người còn tiền giấu giếm, ăn chui, ăn rúc, sợ công an biết được.

Rồi chuyện phải đến đã đến. Cũng không còn người nào có khả năng ăn bánh canh, bánh nậm, bánh ướt. Nồi bánh canh chuyển thành rổ khoai sắn nách tay. Hoặc đội lên đầu khi cánh tay rã rời. Mẹ có sáng kiến nấu thêm ấm nước “lá mồng năm” cho khách uống khỏi trả tiền, ăn khoai sắn đỡ nghẹn họng; rang thêm chén muối mè đậu phụng làm tăng thêm gia vị cho khoai sắn dễ nuốt. Với thời gian, mẹ trở thành hình ảnh quen thuộc của đám học trò con nít nghèo khổ quanh vùng bụng luôn luôn đói. Thỉnh thoảng mấy cụ kéo xe kéo, mấy mụ đi làm thuê, quên bới theo mo cơm trưa, cũng là khách hàng của mẹ.

Khi nào được lệnh thăm nuôi thằng con trong tù, mẹ đi ngay. Trước khi đi, mẹ lo vay mượn khắp xóm. Ai cũng nghèo rớt mồng tơi, mà ai cũng muốn giúp mẹ. Nhưng mẹ chỉ vay mượn thôi, không nhận của bố thí. Có chút tiền, mẹ trả nợ hết người này tới người khác. Vâng, từ khi ba hắng qua đời, không ai đối đáp, mẹ quên gần hết câu hò, điệu hát cũ. Ca dao, tục ngữ, cũng không muốn nhớ, vì nó có trúng trật chi mô đối với cuộc sống hiện tại có quá nhiều biến đổi, mẹ ngẫm nghĩ. Nhưng mẹ không quên câu nói, “Nợ trả lần, cháo húp quanh.”

Bỗng một hôm, như sét đánh ngang tai, mẹ được tin thằng con của mẹ đã trốn trại. Đã bị bắn bỏ. Chết điếng, mẹ nghỉ đi bán mấy bữa. Lo đi mua hoa, quả, nhang, đèn, đem tới đình, tới chùa, qua cồn mồ. Mẹ cẩu khẩn, xin Trời Phật, xin “ba hắng” phù hộ, che chở cho đứa con yêu quý. Và mong cái tin khủng khiếp đó chỉ là chuyện “nói chơi cho vui miệng”. Vâng, biết đâu. Hay là có thể người ta muốn doạ nạt mẹ, “khủng bố tinh thần” mẹ. Có người mách nước như thế. Đêm nào mẹ cũng nằm thao thức nhìn tượng Phật, nhìn tấm ảnh ba hắng trên bàn thờ, lòng ngổn ngang, bấn loạn. Có khi gà gáy sáng mẹ mới giật mình thảng thốt. Rồi cố chợp mắt một chút. Rồi ngồi nhỏm dậy tụng kinh, niệm Phật. Rồi nhóm lửa, bắc nồi.

Một buổi trưa vắng. Trời mùa đông lạnh dù vẫn còn sót chút nắng muộn màng, yếu ớt. Đã ba mươi Tết. Học trò con nít, khách hàng nghèo nàn thường xuyên của mẹ, đã nghỉ học, mẹ vẫn nách rổ khoai sắn đi quẩn quanh như người lữ hành lang thang không mục đích. Ở nhà buồn quá. Thì cứ đi biết đâu bòn mót được năm ba đồng. Đôi chân mệt nhọc, tuy nhiên, cũng còn đủ sức đưa mẹ tới nơi nghỉ ngơi quen thuộc hàng ngày.

Mẹ đặt rổ khoai sắn ngay dưới gốc cây bàng sum sê tỏa ra nhiều bóng mát. Vài ba con kiến mon men bò tới ngay. Mẹ lượm một chiếc lá bàng rụng đỏ ối khua khua đuổi nhẹ mấy con kiến đi chỗ khác. Chúng lì lợm, bò lên chiếc lá. Mẹ ném chiếc lá về phía gốc cây bàng. Đằng sau cây bàng, một cái am nhỏ bỏ hoang, mái ngói nhiều nơi đã vỡ lỗ chỗ, bốn tường đều rêu phong, nứt nẻ, loang lổ. Một con chim bé nhỏ đậu trong vòm lá kêu lên mấy tiếng, rồi vụt bay đi qua bên kia con hói. Mẹ nhìn theo cho đến khi mất dấu chim, rồi ngồi bệt xuống trong lòng chiếc nón lá rách. Mẹ thầm nghĩ, A bữa ni ba mươi Tết. Không chừng con chim nó muốn nhắc mình đi qua cồn thăm ba hắng.

Thật ra, trưa nào mẹ cũng tới đó ngồi nghỉ mệt một chốc trước khi nách rổ khoai sắn đi bán nơi khác. Là vì từ đấy nhìn qua khỏi con hói, như nhìn theo dấu con chim vừa bay đi, mẹ thấy cồn mồ, và những ngôi mộ rải rác. Khi cơn gió lốc nổi lên, bụi cát bay là là trên mặt đất trông như đám sương mù dày dặc. Như con quái vật khổng lồ trườn bò trên những nấm mồ lẻ loi. Xóm làng quanh quẩn đều nghèo, mồ mả toàn là những nấm đất cỏ mọc vàng, xanh. Không thấy ngôi mồ nào được xây bằng gạch hay đá.

Ngày còn con gái, mẹ sợ ma quỷ vô cùng. Có chồng mẹ vẫn cứ sợ, bị ba hắng chọc quê hoài. Một hôm, vào một buổi tối gần đến ngày Tết, ba hắng đứng sau chuồng gà hù mẹ, hù nho nhỏ thôi, khi mẹ ra đó đi tướt thêm một ít lá chuối gói bánh tét. Mẹ ngất xỉu. Ba hắng khiếp đảm, bồng mẹ vô nhà, săn sóc mẹ như săn sóc người đau “bịnh trượng”. Thức suốt đêm vỗ về, nước nôi, thiếu đường muốn ru mẹ như ru thằng chó. Sáng hôm sau mới ngủ dậy, bỏ cả việc sắp đặt, lau bàn thờ, chùi đồ đồng chuẩn bị Tết, ba hắng chạy ra chợ tìm mua cho được cua, trứng, thịt luộc, đem về đặt giữa cươi đã xuốc dọn sạch sẽ, cúng vái cho mẹ “hoàn hồn”.

Nhưng từ khi ba hắng mất, mẹ hết sợ ma. Mẹ ngồi một mình trong không gian trưa đúng ngọ như buổi trưa này, không gian bao la, tịch mịch, tức là vào thời khắc nghe nói hồn ma bóng quế ưa lảng vảng nơi dương thế. Mẹ mong trong đám bụi bay là là trên mặt đất kia có ba hắng lẩn quất. Nhiều lần mẹ tưởng như thấy ba hắng múa may, đùa giỡn, cười cợt với mẹ. Mẹ chắp hai tay khấn vái. Rồi thầm rủ ba hắng hãy cùng mẹ quay về thăm lại những năm tháng cũ.

Ngày xưa đơn sơ, dễ dãi, thân yêu. Sống tự nhiên như hít, như thở bầu không khí quanh mình. Như cây cỏ mơn mởn khắp xóm, như vườn cau xanh, như cây nhỡn với đàn ong, như tiếng gà gáy trưa, như con mèo con chó quấn quýt, như con hói lặng thinh đón chờ những con chuồn chuồn ớt đỏ rực bay tới “đạp nước”. Hay nhúng cái đuôi xuống mặt nước. Làm chi rứa? Cho mát hả? Mẹ bùi ngùi nghĩ tới câu, “Chuồn chuồn đạp nước kim cang/Bên em mở cửa …” mà cho đến bây giờ mẹ vẫn không hiểu muốn nói gì. Phải chăng đó là chuyện trai gái hẹn hò? Mẹ tiếc rằng khi ba hắng còn sống mẹ quên hỏi. Thỉnh thoảng có ông già ốm o chèo lá thuyền nhỏ xíu lộn lui lộn tới, giở lên, đặt xuống mấy cái rớ cất tôm, cất tép. Thường chẳng thấy con tôm con tép nào trong rớ cả. Tội ôn quá.

Nghèo mà vui. Nhưng ngày vui của mẹ ngắn quá. Những ngày hạnh phúc nhất là lúc mới về nhà chồng, thương chồng, chồng thương. Và thằng chó bụ bẫm, chân tay đạp chọi, miệng gù gù cùng bầu sữa. Và đứa con gái xinh tươi, ngoan ngoãn, ưa khóc nhè. Con ẹo. Và ba hắng hóm hỉnh, chữ nghĩa. Tứng từng.

Nay cuộc sống ngược ngạo, độc ác, tan tác, khó khăn, khổ sở, hoang mang. Ba hắng không còn, thằng chó cũng “không biết ra răng” như mẹ thường trả lời khi có người tò mò hỏi. Đứa con gái và chồng con cả năm không tin tức. Nước mắt mẹ tuôn ra nhỏ thành giọt. Đám bụi mờ bên cồn mồ trông càng nhoè nhoẹt qua làn nước mắt. Mặc. Không ai thấy, cứ để nó chảy dài xuống má, xuống cằm, thấm vô áo, vô ngực.

Bỗng một bóng người lấp ló sau miếu. Rồi chạy nhanh tới. Ôn, Mệ ơi! Trời, Đất, Phật, Thánh ơi! Thằng con trai của tui! Mẹ đứng bật người đứng dậy. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau. Mẹ nghẹn ngào, khóc không ra nước mắt, thổn thức:

“Thiệt là có Trời Phật độ. Có, ôn, mệ, có … có ba hắng … ngó tới.”

Thằng con suỵt suỵt:

“Răng mạ la to dữ rứa. Mạ nói nhỏ nhỏ lại một chút đi!”

Mẹ thì thào:

“Con ơi, chừ về nhà ngay đi. Ở đây nguy hiểm lắm. Mạ bỏ bán buổi chiều.”

“Không, không được mô.”

Mẹ ngạc nhiên:

“Răng rứa?”

“Chắc chắn tụi nó có đặt người rình con tại nhà mình. Con biết bữa trưa mạ hay tới đây. May quá, may quá. Trốn tránh, lén lút về đây, gặp được mạ liền.”

Mẹ thở dài nhẹ nhõm. Nước mắt mẹ bây giờ mới tha hồ tuôn ra thành dòng. Mẹ kéo vạt áo lau nước mắt đầm đìa, miệng mấp máy định nói gì thêm. Đứa con chận lại:

“Khoan, khoan. Để con nói tiếp. Ngày giờ gấp rút quá rồi. Con đem mạ đi trốn.”

“Hả? Hả? Khi mô?”

“Ngay tối nay. Con có đường dây.”

“Đi mô?”

“Vượt biên.”

Mẹ hoảng hốt:

“Mô được. Còn bàn thờ ba con ai lo. Còn nấm mộ bên tê ai săn sóc.”

“Mạ không chịu đi, con cũng phải đi một mình. Ở đây trước sau chi con cũng sẽ bị bắt, bị giết.”

Mẹ hoang mang. Nghĩ đến cái bàn thờ hương tàn khói lạnh, ngôi nhà không người ở sẽ đổ nát, ngôi mộ không ai coi ngó cỏ may sẽ lấp kín, sẽ san bằng như những nấm mồ hoang. Nước mắt mẹ lại tuôn ra.

”Mạ ơi, con phải đi ngay đêm nay. Nhưng con không muốn đi một mình. Con liều về đây tìm mạ. Mạ con mình còn ai nữa đâu.” Con quay ngoắt đầu nhìn nơi khác, không muốn cho mẹ thấy mình mềm lòng.

Mẹ ngập ngừng. Buồn bã chỉ tay qua phía cồn mồ:

“Ba con còn nằm đó, … mạ đi sao đành.”

“Không đành thì còn có cách ni. Qua mộ ba hốt vài nạm đất. Về nhà lấy tấm hình của ba trên bàn thờ. Mang theo.”

“Mà vượt biên đi mô? Xa không? Có xa hơn Quảng Trị, Quảng Nam? Mạ cả đời chưa bước chân ra khỏi xứ Huế.”

Con trả lời hơi gắt gỏng:

“Mạ nói chi lạ rứa. Vượt biên mô phải là chạy trốn tới mấy cái tỉnh quanh quẩn để trước sau chi cũng bị tóm cổ. Cứ ra biển cái đã. Gặp đảo ghé đảo. Gặp tàu lên tàu. Miễn sao trốn thoát khỏi cái đất nước ghê khiếp này.”

Mẹ dè dặt hỏi:

“Tới nơi mình không biết tiếng của người ta. Như câm … như điếc.”

Con cau mày, giọng nói gắt hẳn lên:

“Không răng cả. Không biết tiếng, đừng nói, đừng nghe. Người câm, người điếc ở nước họ vẫn sống nhăn răng như thường.” Dịu giọng lại. “Mạ yên chí đi, con sẽ nuôi mạ.”

Mẹ thở dài. Mắt nhìn xa như mắt con dê dốc Nam Giao. Nói một mình, Thôi con muốn răng tuỳ con. Con muốn đi mô cũng được. Con đi mô mạ đi theo nấy.

Mẹ muốn hỏi thêm nhiều chuyện ấm ức khác, nhưng sợ làm bực bội thằng con ưa chữ nghĩa, hay lý sự. Buồn rầu ngẫm nghĩ, Chắc xứ người cũng có chợ búa, có đò dọc đò ngang. Có cây cau, cây chuối, cây tre. Có ruộng nương, sông hói, đình, chùa, mồ mả. Cau chuối có cũng tốt, không có cũng không răng. Nhưng chắc phải có cây tre. Tre làm được đủ thứ chuyện trên đời. Làm đũa, làm quạt, làm cột nhà, làm phên, làm ghế, làm vạt giường, làm cây cầu lắc lẻo. Làm nia, làm thúng, làm mủng, làm rổ … Và làm đòn gánh. Mẹ nghĩ đến câu hò, Cực thì đòn gánh đè vai. Chớ để cho ai nặng nhẹ … Nghĩ đến gánh bánh canh, rồi rổ khoai sắn, và những đứa học trò con nít thiệt dễ thương. Xa chúng nó, cũng nhớ. Có đứa không có tiền mua đứng ngó quanh, làm như không chú ý chi cả. Thì cho. Nó rụt rè mãi mới ngửa hai bàn tay nhỏ xíu cầm lấy củ khoai, củ sắn nấu nguyên vỏ. Vỏ khoai nấu ăn cũng ngon. Nhưng vỏ sắn, mẹ nói, Độc lắm, dù nấu chín. Quăng đi. Nó ngần ngại một chút, tiếc rẻ, rồi cũng quăng. Mẹ nghĩ đến những ngày xưa xa thật xa, lúc còn ba hắng ru em “noái chữ”, lúc róc cau, rồi lúc thằng con trai chăm chỉ ăn học, đứa con gái ưa hổ ngươi, mau nước mắt, lúc cây nhỡn đâm bông kết trái và những đàn ong không biết từ đâu bay về. Và mẹ nghĩ đến tương lai mù mịt.

Mẹ ngập ngừng:

“Rứa có xa bằng nơi em con ở không con?”

Con lại muốn gắt. Nén được, cố dịu giọng:

“Xa hơn. Xa hơn nhiều. Mà vợ chồng nó cũng không còn ở An Giang, Châu Đốc nữa. Chúng nó cũng đã vượt biên lâu rồi, khi con chưa vô tù. Mạ quên rồi sao? Chẳng biết chúng nó đi về mô. Chẳng biết sống chết ra răng.”

“Còn sống.”

“Răng mạ biết.”

“Mạ nằm thấy.”

Mẹ còn muốn nói thêm nhiều, không dám nói. Còn lắm chuyện quá mà. Mẹ nói thầm trong bụng, Ba hắng bỏ mạ con tui mà đi vào dịp Tết, thì mạ con tui bữa ni ba mươi Tết cũng bắt chước ba hắng ra đi. Không chừng lại gặp nhau. Nghĩ như thế, mẹ chắp hai tay lâm râm khấn vái.

Tối hôm đó đêm ba mươi Tết. Mọi nơi tiệc tùng, cúng giao thừa, tiễn năm cũ, đón năm mới. Việc canh phòng chắc phải lỏng lẻo. Hai mẹ con ngồi lẫn sau một độn cát lùm lùm trên bãi biển Thuận An. Không trăng, không sao, không đèn. Đêm đen mênh mông, rùng rợn, trùm lên vạn vật. Tiếng nói khe khẽ, ngập ngừng, run rẩy của người mẹ, Ngồi đây … làm … làm … làm chi con, chưa thoát ra khỏi cửa miệng, đã bị gió ào ào đánh bạt. Và cũng đánh bạt ngay tiếng trả lời thì thầm của đứa con, Chờ … chờ … chờ người ta … dắt đi. Một khối đen đặc quánh, thăm thẳm. Không thấy trời, không thấy nước, không thấy cỏ cây, không thấy người. Chỉ nghe. Nghe tiếng biển gọi rì rào, âm u, bí ẩn như nó đã từng gọi như thế hàng ngàn năm. Vang dội vào trong lòng đứa con quả quyết, dứt khoát. Vào trong lòng người mẹ lo sợ, hoang mang.

8/2018


[1]

Mần một bức thơ

Gởi về bổn hạt

Trước thăm gia nhạc

Sau viếng tình nhơn

Duyên nợ Tấn Tần

Thủy chung như nhứt

Chẳng qua chuyện cực

Đôi đứa đôi phương

Đạo nghĩa tình thương

Trăm năm tạc dạ

Nào ai ở chạ

Trời đất chứng tri

Nào khi ra đi

Trầu ăn thuốc hút

Vắng mặt một chút

Thương nhớ ba ngày

Nào khi thiếp đó chàng đây

Châu rơi ướt áo …

bài đã đăng của Ngự Thuyết


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)