Trang chính » Dịch Thuật, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Màu Da và Ngôn Ngữ, Phê Bình Email bài này

Đọc thơ Jane Miller: Cách Nhận Diện ‘Kẻ Thù Vô Hình Mặc Áo Giáp’

 

LTS: Bài viết dưới đây góp ý cho hai bài:

(1) Ngu Yên Đọc Jane Miller: “Whether The Goat Is a Metaphor?” (“Phải Chăng Con Dê Là Ẩn Dụ?”) trên Da Màu (ngày 3 tháng 10, 2018);
(2) bản dịch “Dù có hay không con dê là ẩn dụ” trên blog Nguyễn Huy Hoàng (ngày 20 tháng 8, 2018).

Qua cách đọc và diễn dịch bài thơ “Whether the Goat is a Metaphor” của nhà thơ Jane Miller, Đinh Từ Bích Thúy quan tâm về từ vựng, cú pháp, trong khuôn khổ tác phẩm, cùng những so sánh và liên kết tư tưởng giữa các văn bản Anh, Việt, bối cảnh văn hóa, v.v., nhiều hơn là lý thuyết. Tại Hoa kỳ, trường phái The New Criticism (chú trọng về cấu trúc văn bản) và Reader’s Response (chú trọng về phản ứng/kiến thức của người đọc) đã tạo nhiều ảnh hưởng trong giới học giả và phê bình văn chương từ hậu bán thế kỷ 20.

 

alyosha and ivanushka
Tranh minh họa truyện cổ tích Nga “Cô chị Alyonushka và Cậu em Ivanushka”

 

Bài thơ “Có phải con dê là ẩn dụ” (“Whether the Goat is a Metaphor”) của nhà thơ Jane Miller là một thử nghiệm thú vị về tính chất đa dạng và linh động của Anh ngữ. Hai câu mở đầu tác phẩm Metamorphoses của Ovid, In nova fert animus mutatas dicere formas / corpora (tôi chủ ý diễn tả những hình thể được biến dạng thành những hiện thực mới) có thể được dùng như chìa khóa để “mở/đọc” bài thơ.

Tựa bài thơ, “Có phải con dê là ẩn dụ,” như cách nhà thơ Ngu Yên dịch “Phải chăng con dê là ẩn dụ,” hàm ý một nghi vấn thuộc về tu từ (“whether” trong tiếng Anh, thông thường là liên từ giữa hai sự chọn lựa, ở đây được dùng như cách đặt nghi vấn), mà câu trả lời có thể là một trong ba trường hợp:

(1) Sự khẳng định (đúng, con dê là ẩn dụ);

(2) Sự phủ định (không, con dê không phải là ẩn dụ); và

(3) Con dê có thể là một ẩn dụ trong nhiều ẩn dụ khác trong bài thơ, tùy cách hiểu của người đọc.

(Một dịch giả khác của bài thơ, Nguyễn Huy Hoàng, đã dịch tựa bài thơ là “Dù có hay không con dê là ẩn dụ”—cách dịch này tối nghĩa, vì câu hỏi không hẳn là sự hiện hữu, hoặc vô hiện hữu, của dê như ẩn dụ.)

Bài thơ của Jane Miller không giản dị, vì nó đòi hỏi người đọc hiểu rõ những ẩn dụ và đặc thù trong cú pháp Anh ngữ, lấy nguồn từ văn hóa và ngôn ngữ Tây Âu. Cả hai dịch giả, Ngu Yên và Nguyễn Huy Hoàng đã không nhận ra rằng chữ “kid” trong tiếng Anh vừa có nghĩa là “dê con” (từ chữ “kið” trong tiếng Norse cổ, hoặc từ chữ “kitze” trong tiếng Đức cổ), vừa có nghĩa là “đứa bé.” Hai vị Ngu Yên và Nguyễn Huy Hoàng chỉ dịch “kid” là đứa bé, mặc dù nghĩa này là nghĩa lóng, và chỉ trở thành nghĩa phổ thông trong thế kỷ 19, có nghĩa là sau nghĩa cổ nguyên thủy của “kid” là dê con.

Nếu “kid” vừa là dê con vừa là đứa bé, thì có phải dê con là ẩn dụ cho đứa bé? Theo định nghĩa phổ thông, ẩn dụ là cách mô tả một sự vật, sự kiện bằng cách so sánh, hoặc áp dụng trực tiếp hình ảnh của một sự vật hay sự kiện khác. Khái niệm ẩn dụ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp μεταφορά (metaphora), hay có nghĩa là "sự chuyển biến," tương tự như lời tuyên ngôn của Ovid cho tác phẩm Metamorphoses, “tôi chủ ý diễn tả những hình thể được biến dạng thành những hiện thực mới.” Có thể nói, mọi điển tích trong tác phẩm của Ovid đều là một diễn dịch linh động về khái niệm ẩn dụ, như truyện Daphne và Apollo, trong đó Daphne, một nàng tiên muốn gìn giữ phẩm tiết, đã được thần Peneus, cha nàng, biến thành cây nguyệt quế (bay laurel) để không bị thần Apollo cưỡng bức. Tên của Daphne, Δάφνη, trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là nguyệt quế, màu xanh vĩnh hằng của cây tượng trưng cho phẩm tiết cố hữu của nàng tiên. Theo cách suy luận này, thì sự tích Daphne và Apollo là ẩn dụ cho cây nguyệt quế, cũng như truyện Thạch Sùng của Việt Nam là ẩn dụ về con thằn lằn, hoặc nhân vật Sở Khanh trong truyện Kiều là ẩn dụ/hoán dụ cho nhiều sở khanh.

Như vậy, truyện cổ tích Nga mà Jane Miller đề cập trong bài thơ có thể củng cố lập luận "dê con là ẩn dụ cho đứa bé":

Truyện kể về thằng bé là như vầy
Vì uống nước từ móng dê nó đã hóa thành dê
Nếu chúng ta tách lọc nhiệm mầu từ đời sống,
chúng ta đạt đến nghệ thuật. Chị thằng bé, tóm tắt là
bị cột đá vào cổ rồi quẳng xuống sông.
Tiếng dê khóc động lòng hàng xóm thả lưới tơ
vớt con chị lên bờ. Nó nhào lộn ba vòng
sung sướng rồi đứng trên hai chân hoàn thân là thằng bé.

(The story of the boy is that
by drinking water from a hoof he’s turned into a goat.
If we separate magic from life,
we get art. His sister, long story short,
gets thrown into a river with a stone around her neck.
His weeping stirs the neighbors with a silken net
to scoop her out. He turns three somersaults
of joy and lands on two feet as a boy again.)

Ở phần Cám ơn/Xác định nguồn (Acknowledgment) của thi tập Who Is Trixie the Trasher? And Other Questions, tác giả Jane Miller cho biết bài thơ “Có phải con dê là ẩn dụ” (“Whether the Goat is a Metaphor”) được dựa trên cổ tích Nga “Cô chị Alyonushka và Cậu em Ivanushka” (“Sister Alyonushka and Brother Ivanushka”), từ tuyển tập Người Đẹp Vasilisa: Những Truyện Cổ Tích Nga (Vasilisa the Beautiful: Russian Fairy Tales), chủ biên Irina Zheleznova. Nhà thơ đã sáng tác bài thơ để đi kèm với hộp nhạc/tác phẩm điêu khắc di động trong “vũ trụ của những á thần nửa người nửa vật” của nghệ sĩ Yuliya Lanina trong chương trình triển lãm tại CAMIBAart Gallery, Austin, Texas, vào năm 2016.

Yulina Lanina

Nghệ sĩ Yuliya Lanina, Austin, Texas (2016)

Vì bài thơ được ra đời như một minh họa cho cuộc triển lãm nghệ thuật, hai câu thơ “Nếu chúng ta tách lọc nhiệm mầu từ đời sống,/ chúng ta đạt đến nghệ thuật” là một tuyên ngôn đề cao quá trình sáng tạo, kết tụ bởi ảo thuật/ẩn dụ của ngôn ngữ và trải nghiệm từ văn hóa và đời sống. Động từ “separate from” có lẽ nên được dịch là “tách lọc/thanh lọc … từ” thì rõ nghĩa hơn là “tách rời … từ” (nhà thơ Ngu Yên đã dịch câu “If we separate art from life / we get art” thành “Nếu tách rời ảo thuật khỏi đời sống, sẽ bắt gặp nghệ thuật.”)

Nhưng giả tỉ dê con không phải là ẩn dụ cho đứa bé, hoặc chỉ là một “ẩn dụ chết” thì sao? Theo nhà văn Trần Hữu Thục, trong bài “Nhận Diện Ẩn Dụ: Ẩn Dụ và Hoán Dụ” trên Da Màu:

Giở ra bất cứ cuốn tự điển nào, ta cũng tìm thấy khá nhiều từ, không chỉ có một nghĩa mà chứa đựng nhiều nghĩa khác nhau (đa nghĩa) ….Nếu phân tích kỹ, chúng đều mang tính ẩn dụ. Nhưng đó là những ẩn dụ đã được từ vựng hóa (lexicalisation/lexicalisé). Chúng mất ẩn dụ tính, trở thành những chữ bình thường với nghĩa rõ ràng, được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng bản ngữ. Chữ, như thế, có sử tính. Nói theo Georges Ludi, có một sự “tiến triển lịch sử” (évolution historique) từ ẩn dụ đến từ vựng.

Dựa trên suy luận của nhà văn Trần Hữu Thục, thì từ kid trong tiếng Anh, nếu chỉ được hiểu theo nghĩa (lóng) phổ thông và hiện đại là đứa bé, đã mất sự liên kết với nghĩa cổ là dê con, và do đó trở thành một từ vựng mang ý nghĩa riêng rẽ và độc lập.[1]

Tuy phần lớn các từ điển chỉ ghi xuất xứ chữ kid là dê con và không giải thích rõ ràng hoặc có chứng minh lịch sử cho nghĩa thứ hai của kid là đứa bé, tự điển Oxford-American (ed. 2001) phỏng đoán nghĩa lóng của kid như đứa bé đã lấy nguồn từ động từ kid—cũng phát xuất ở thế kỷ 19, có nghĩa là nói giỡn, nói đùa. Theo Oxford-American, khi mình nói giỡn mà làm người khác tưởng thật (mà trong tiếng Việt có nghĩa là mình cho họ đi tầu bay giấy!) thì mình sẽ làm người bị hỡm hóa thành trẻ con trong cách phơi bầy sự ngờ nghệch và cả tin của họ, từ đó hành động/động từ "nói giỡn/biến một người thành trẻ con" được rút gọn lại, và danh từ lóng ám chỉ đứa bé được ra đời.

Do đó, truyện cổ tích “Cô chị Alyonushka và Cậu em Ivanushka” mà Jane Miller đề cập trong bài thơ để liên kết dê con với cậu bé vẫn chỉ là một nghi vấn, hoặc giả thuyết.

Như vậy, nếu ta đọc một văn bản với những ngôn từ bấp bênh, đa nghĩa, có thể hay không bao hàm ẩn dụ, thì văn bản đó cũng có khả năng … nổi loạn, vì nó có thể được hiểu qua nhiều cách diễn dịch, tùy kinh nghiệm, cách sử dụng ngôn từ của độc giả hoặc dịch giả, hoặc tùy cách chấm câu cú pháp.

(Truyện Tấm Cám, một phiên bản Lọ Lem của Việt Nam, có thể được coi như thí dụ điển hình của một văn bản qua nhiều biến thể, tự nó dung chứa rất nhiều mâu thuẫn và nghi vấn. Ngay cả tên của Tấm và Cám đã có thể là ẩn dụ ở thời truyện mới được truyền bá, rồi đến những biến thể của Tấm, từ con chim vàng anh, đến quả thị, cũng như sự biến thể dã man của Cám thành … mắm ruốc ở đoạn cuối chuyện cổ tích.)

We go on talking and digging a pit in the earth
to spit-roast kid

Có thể được dịch là,

Chúng ta tiếp tục trò chuyện và đào hố
để nướng dê quay trục

(“kid” trong nguyên bản Anh ngữ không có mạo từ đi trước chữ “kid” nên được hiểu là có thể ở số nhiều (plural) hoặc số ít (singular) dê con bị nướng.)

We go on talking and digging a pit in the earth
to spit, roast, kid (sửa cách chấm câu từ nguyên bản “spit-roast kid” bằng cách thêm dấu phết giữa “spit,” “roast,” và “kid”)

Chúng ta tiếp tục trò chuyện và đào hố
rồi nhổ nước bọt (spit), chế diễu (roast –động từ lóng), và nói phét (kid – động từ lóng
– nói giỡn, nói phét)

since anyone working in a lively rhythm is not attached to the story

vì bất cứ ai là nhà thơ thì chẳng cần gắn bó với câu chuyện
vì bất cứ ai hòa mình vào nhịp điệu thì không vướng bận bởi sự tình

“anyone working in a lively rhythm” có thể được hiểu như: (1) một định nghĩa/cụm từ ẩn dụ cho nhà thơ–chính là người lao động với nhịp điệu, hoặc (2) định nghĩa cho một người có khuynh hướng sống trong thực tại, mà không bị hoàn cảnh lôi cuốn.

How, in heaven’s name, will dinner be served, and when?

Trời ơi, làm sao, đến chừng nào, mới có bữa cơm tối?

Nhưng nếu “cơm tối” là ẩn dụ cho bài thơ, thì câu trên cũng có thể được diễn dịch thành:

Trời ơi, làm sao, đến chừng nào, ta mới nuốt (hiểu) được bài thơ này?

Of the multitude of things, it is emptiness
that’s necessary now, now that you’ve had time
to wash and dress. As a form
of enlightenment, the most unsuspecting guest
is your enemy in armor, or invisible,
who will clap you on the back
when you choke on a bone at the banquet.

Trong đa sự, tính-không
là điều cốt yếu, hiện giờ bạn đã có đủ thì giờ
tắm rửa và thay quần áo. Như hiện thể
của giác ngộ, vị khách không ai ngờ
chính là kẻ thù của bạn mặc áo giáp, hoặc vô hình,
người sẽ vỗ mạnh vào lưng bạn
khi bạn bị nghẹn cổ vì mẩu xương ở bàn tiệc.

Ở đoạn cuối bài thơ, Jane Miller ám chỉ kịch Macbeth của Shakespeare, trong cảnh hồn ma Banquo, trước là trung thần của Macbeth nhưng đã bị Macbeth sai người ám sát, nay xuất hiện tại yến tiệc của Macbeth, và ngồi chễm chệ vào ghế của Macbeth như một cảnh báo lương tâm cho vị vua tham quyền (Act III, Scene IV). Vì hồn ma Banquo, trong áo giáp chiến trường, có thể chỉ là ảo giác tạo tác từ mặc cảm tội lỗi của Macbeth, nên đã được Shakespeare coi như “vô hình” vì không ai ở buổi tiệc, ngoài Macbeth, có thể nhìn thấy hồn ma. Diễn viên đóng vai Macbeth do đó phải diễn tả sự chấn động và kinh hoàng trên nét mặt khi thấy hồn ma vào dự bàn tiệc. Hồn ma Banquo cũng tượng trưng cho “hiện thể/sự khả thi của giác ngộ” cho Macbeth vì sau khi Macbeth nhìn thấy hồn ma, nhà vua mới thấm thía sự vô nghĩa của đời sống và tính chất phù du của quyền lực:

…. Đời chỉ là bóng hình hư ảo, tên diễn viên tồi
Nghênh ngang, rồi lo sợ, trong khoảnh khắc trên sân khấu
Cho đến lúc biệt âm. Đây là câu chuyện
Do thằng khùng kể lại, đầy âm thanh và cuồng nộ,
Chẳng có nghĩa gì.

Life’s but a walking shadow, a poor player
That struts and frets his hour upon the stage
And then is heard no more. It is a tale
Told by an idiot, full of sound and fury,
Signifying nothing.
)

(Macbeth, Act V, Scene V)

Cũng theo Jane Miller, “bất cứ ai mài miệt với nhịp điệu thì chẳng màng đến một câu chuyện/một ẩn dụ nhất định nào” (“since anyone working in a lively rhythm is not attached/to the story”). Mỗi một thử nghiệm nghệ thuật là một cách đặt lại câu hỏi để thay đổi tiền đề. Do đó, mọi vũ trụ, mọi câu chuyện, mọi ngữ cảnh, sẽ được biến đổi qua từng quá trình sáng tạo. Vĩnh viễn cũng là vô thường. Những mùa của thế gian cũng là những lâu đài.

Câu hỏi “Có phải con dê là ẩn dụ“ cũng là cách khảo sát từng từ vựng, cú pháp, trong quá trình sáng tạo, và trong cách đọc và diễn dịch một văn bản. Từ metaphor, có nghĩa là ẩn dụ, gốc Hy Lạp, ám chỉ hành động chuyển dịch (tương đương như từ translatio của La-tinh): sự cưu mang một vật thể từ bên này sang bên kia, sự dẫn dắt trong quá trình vượt biên. Nhưng phải cưu mang, phải dẫn dắt, như thế nào, hoặc nói theo Jane Miller, phải “làm cơm/dọn cơm” như thế nào để hợp tâm hồn hoặc khẩu vị của đối tượng? Có bao giờ quá trình chuyển dịch sẽ làm kẻ dẫn dắt hay đối tượng bị mất lòng tin, làm ta nhớ đến câu trả lời của Án Anh cho vua Sở, “Cây quít mọc ở đất Hoài Nam có quả rất ngọt, nhưng đem sang trồng ở đất Hoài Bắc thì quả lại chua….”

Câu hỏi của Jane Miller vẫn phải được hỏi như đầu mối (clue), để cảnh báo và nhắc nhở sự liên hệ đầy nghi vấn giữa dê con và đứa bé, giữa văn bản và cách tiếp thụ văn bản, giữa diễn ngôn và thực trạng, giữa thiên nhiên và ảo giác. “Kẻ thù vô hình mặc áo giáp” vừa là hồn ma của những ẩn dụ đã chết qua tiến trình lịch sử của một ngôn ngữ, vừa là yếu tố có thể hồi sinh ngôn ngữ. Vì vậy, câu hỏi của Jane Miller là xúc tác, là sáng thế, và người đọc chỉ có thể giác ngộ nếu chấp nhận ngôn ngữ là một khái niệm diệu ảo và bất trắc cho mọi người đọc di dân cũng như người đọc bản xứ.

Trong cách đọc một văn bản, mặc dù đôi lúc “kẻ thù” là những mâu thuẫn trong cách diễn dịch, hoặc nghịch lý có khả năng làm ta mắc nghẹn, sự chấp nhận/cởi mở về tính chất bất định của văn bản là nền tảng của dân chủ, vì chính sự chấp nhận này sẽ giúp ta có một cảm nhận sâu xa hơn về tác phẩm hoặc tác giả, thay vì cách đọc áp đặt, gượng ép qua thành kiến hoặc áp lực chính trị.

Dưới đây là bản dịch của người viết cho bài thơ “Có phải con dê là ẩn dụ”:

Có phải con dê là ẩn dụ

(bản dịch Đinh Từ Bích Thúy)

Chúng ta tiếp tục trò chuyện và đào hố
để nướng dê quay trục
vì bất cứ ai hòa mình vào nhịp điệu thì không vướng bận
bởi sự tình
Thằng bé tự cứu mình khi cứu sống con chị.
Sắp muộn rồi.
Truyện kể về thằng bé là như vầy
Vì uống nước từ móng dê nó đã hóa thành dê
Nếu chúng ta tá
ch lọc nhiệm mầu từ đời sống,
chúng ta đạt đến nghệ thuật. Chị thằng bé, tóm tắt là
bị cột đá vào cổ rồi quẳng xuống sông.
Tiếng dê khóc động lòng hàng xóm
thả lưới tơ
vớt con chị lên bờ. Nó nhào lộn ba vòng
sung sướng rồi đứng trên hai chân hoàn thân là thằng bé.
Trời ơi, làm sao, đến chừng nào, mới có bữa cơm tối?
ch lọc nghệ thuật từ đời sống, chúng ta đạt đến vô thường.
Chúng ta tiếp tục trò chuyện và đào hố
Ta có một triệu lẻ mười việc phải làm.
Trong đa sự, tính-không
là điều cốt yếu, hiện giờ bạn đã có đủ thì giờ
tắm rửa và thay quần áo. Như hiện thể
của giác ngộ, vị khách không ai ngờ
chính là kẻ thù của bạn mặc áo giáp, hoặc vô hình,
người sẽ vỗ mạnh vào lưng bạn
khi bạn bị nghẹn cổ vì mẩu xương ở bàn tiệc.

 

 

Whether the Goat is a Metaphor

(by Jane Miller)

We go on talking and digging a pit in the earth
to spit-roast kid,
since anyone working in a lively rhythm is not attached
to the story.
In saving her, he saves himself.
It’s getting late.
The story of the boy is that
by drinking water from a hoof he’s turned into a goat.
If we separate magic from life,
we get art. His sister, long story short,
gets thrown into a river with a stone around her neck.
His weeping stirs the neighbors with a silken net
to scoop her out. He turns three somersaults
of joy and lands on two feet as a boy again.
How, in heaven’s name, will dinner be served, and when?
Separate art from life, we get nothing.
We go on talking and digging.
I’ve got a million and ten things to do.
Of the multitude of things, it is emptiness
that’s necessary now, now that you’ve had time
to wash and dress. As a form
of enlightenment, the most unsuspecting guest
is your enemy in armor, or invisible,
who will clap you on the back
when you choke on a bone at the banquet.

 

 


 

[1]Nhà văn Trần Hữu Thục, trong tác phẩm biên khảo Ẩn Dụ: Cuộc Phiêu Lưu Của Chữ (Người Việt: 2015), Chương 6 (tr. 179-203), đề cập đến khái niệm “không có ẩn dụ trong từ điển, chỉ có ẩn dụ trong diễn ngôn"của Paul Ricoeur, triết gia thuộc thrường phái chú giải học (hermeneutics). Theo cách diễn giải của nhà văn Trần Hữu Thục về Ricoeur, khi tra tự điển về một chữ, ta chỉ thấy những “nghĩa" của nó. Một nghĩa (dù bóng hay đen) chỉ là một ký hiệu, không có gì đặc biệt vì người biên soạn quyển từ điển đã de-activate (ổn định hóa) nó. Nghĩa đó chỉ trở thành ẩn dụ khi ta activate/re-activate (hoạt hóa/tái hoạt hóa) nó, nghĩa là sử dụng nó trong một câu, một diễn ngôn, một ngữ cảnh. Do đó, khi Jane Miller đặt tựa đề bài thơ bằng một câu hỏi là nhà thơ đã có dụng ý. Chính dụng ý đó là “ẩn dụ” qua cách nhà thơ activate (ngầm) cả hai ý nghĩa của từ kid, là dê con và đứa bé, vốn đã có trong tự điển. Tuy nhiên, cách suy luận này coi ngôn ngữ như bản ngữ (thay vì ngoại ngữ), và mọi người đọc như bình đẳng trong kiến thức văn hóa/ngôn ngữ. Điều này có thể không phản ảnh hiện thực vì luôn có những chênh lệch trong cách đọc và hiểu một văn bản, khi người đọc không sử dụng ngoại ngữ như tiếng mẹ đẻ, hoặc chưa có đủ phương tiện tra cứu sử tính hoặc quá trình tiến hóa của từ vựng trong ngoại ngữ. Do đó, câu hỏi/tựa đề bài thơ của Jane Miller có thể sẽ không được hiểu như một ẩn dụ, khi người đọc chỉ hiếu một nghĩa của kid là đứa bé, mà chưa nhận ra rằng kid cũng là dê con.

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)