Trang chính » Tạp ghi Email bài này

Tạp ghi tháng 9


Trong thời gian vừa qua, Da Màu cho đi hai bài viết khá dài, một của Nguyễn Nhân Trí và một của Đinh Từ Thức. Xin ghi lại vài cảm nghĩ.

Vô ngã

Thú thật, tuy biết lý thuyết tiến hóa của Darwin ngay từ khi còn học trung học, nhưng tôi chưa hề có dịp tìm hiểu sâu hơn. Chỉ biết một cách đại khái: con người là thành quả của một quá trình tiến hóa lâu dài từ con vật, và quy luật tiến hoá dựa trên sự cạnh tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua…Cũng biết đó là lý thuyết đi ngược hẳn với thuyết Sáng Tạo của Thiên Chúa giáo.

Đây là lần đầu tiên, tôi được đọc toàn bộ quan điểm của Darwin, qua một bảng tóm lược và luận giảng đầy đủ của tác giả Nguyễn Nhân Trí. Tôi đọc bài viết nhẩn nha như đọc một truyện dài với những ngạc nhiên thích thú về công trình tìm tòi đầy công sức và thiện tâm về sự sống của sinh vật trên địa cầu của một nhà khoa học cách đây hơn 150 năm. “Nhân vật” chính – nếu có thể gọi là nhân vật – không phải là con người, lại càng không phải là một người nào đó riêng biệt, cô Thúy, anh Tư, chị Nhung… mà là chủng loại, một tập hợp của những sinh vật cùng loại. Chúng đã có mặt, và cứ thế, sinh sôi nẩy nở. Để làm gì? Không biết. Cứ sinh sản, sinh sản miết. Nếu đủ điều kiện là cứ sinh sản. Mỗi một cá thể dần dà biến mất nhưng chủng loại thì vẫn còn. Một con kiến là con kiến và là chủng loại kiến.Tất cả mọi cá nhân, mọi tập thể, mọi chủng loại trong thiên nhiên đều tìm đủ mọi cách để phát triển dòng giống của chúng tiếp tục vào tương lai.” Đó là câu chuyện dài, trải dài cả trăm ngàn năm hoặc hơn thế. “Darwin tin rằng chỉ trong vòng vài ngàn năm, có nhiều trường hợp chỉ cần vài trăm năm (và gần đây có thí nghiệm cho thấy chỉ cần vài mươi năm), là nhiều động thực vật dưới sự quản lý của con người đã có thể biến đổi thành ra những sinh vật hoàn toàn khác biệt so với những sinh vật tổ tiên của chúng. Trong khi đó có thể mất hàng trăm ngàn năm để những sinh vật trong thiên nhiên đạt được các biến đổi tương tự.”

Lý thuyết Darwin phóng chiếu một cái nhìn xuyên thời gian, xuyên không gian, để tìm ra một điều đơn giản: sống là chuyển dịch. Darwin gọi là tiến hóa. Tôi thì tôi cho rằng đó là biến hóa. Một quá trình động. Thích nghi là động. Chọn lọc là động. Thuyết Darwin là một thuyết biến dịch. Biến dịch sinh ra biến thể. “Sự biến thể xảy ra thường xuyên trong thiên nhiên giữa thế hệ cha mẹ và con cháu. Mọi sinh vật trong một môi trường sống đều tranh đấu không ngừng để sinh tồn. Sự tranh đấu để sống còn dẫn đến sự chọn lọc tự nhiên: chỉ có những biến thể có ích lợi sẽ được bảo tồn và di truyền xuống các thế hệ tương lai. Những biến thể nầy tích tụ chồng chất dần dần tạo ra những chủng loại mới. Những chủng loại mới nầy càng lúc càng tiến hóa phức tạp và thích ứng hơn với môi trường sống của chúng.”

Sự t(b)iến hóa của một chủng loại có thể là một đường thẳng có khởi đầu, có kết thúc (do không thích nghi nên có điểm đến cuối cùng: tuyệt chủng), nhưng sự t(b)iến hóa của mọi chủng loại, của sinh vật nói chung là mãi mãi, là không cùng đích. Cũng không theo đường vòng, không luân hồi. Không “một vòng tiều tụy”. “Chọn lọc tự nhiên áp dụng không ngừng nghỉ lên toàn bộ tất cả mọi sinh vật qua một thời gian vô hạn định từ khi sự sống bắt đầu. Hơn nữa, sự chọn lọc tự nhiên không dựa trên sự thiên vị, hay nhu cầu, hay sở thích nào cả.” Quả là như thế: không thiên vị, không nhu cầu, không sở thích. Một quá trình vô tâm toàn diện.

Cách tự thích nghi, cách bành trướng của thực vật vốn vô tri vô giác thật thú vị. Thực vật thì có nhiều cách để có thể được di chuyển từ nơi nầy sang nơi khác, ngay cả vượt qua những đại dương. “Nhiều hạt trái cây có thể chịu đựng được nước mặn và nổi trôi từ lục địa nầy sang lục địa khác.” Không những thế, chúng biết “lợi dụng” động vật. “Nhiều hạt trái cây có thể nương nhờ chim chóc trong lông, chân, mỏ, bao tử của chúng để du hành những khoảng cách rất xa.” Chẳng hạn như “Có những loài cá ăn hạt cây rong rêu trong các ao hồ nước ngọt; khi các loài chim như cò, vạc sau khi nuốt ăn những con cá nầy bay đến những ao hồ khác ở xa rồi phóng uế ở đó thì các hạt cây rong rêu trên sẽ được di chuyển sang địa điểm mới để sinh sôi nẩy nở.” Sự cộng tác để sinh tồn giữa thực vật và động vật thật đáng ngạc nhiên. “Các loài hoa cũng có vẻ như đều có nhụy ngọt hay màu sắc rực rỡ để quyến dụ các loài ong, bướm đến để giúp chúng trong quá trình thụ phấn với các hoa khác. Trong khi đó các loài ong cũng đều có cấu trúc cơ thể thon nhỏ để có thể chui sâu vào lòng các loại hoa để hút được nhụy mang về dùng làm thức ăn cho chúng.”

Trong cuộc t(b)iến hóa đó, đôi khi có trường hợp lạ, bất ngờ: “…trên mũi kim chích của loài ong mật có những răng cưa mọc ngược, điều nầy làm cho con ong mật sau khi đâm chích một sinh vật khác sẽ không thể rút kim ra được và sẽ chết.” Sao kỳ quặc vậy? Ở đây, cái chết lại chính là cái sống. Phải chết cá nhân để bảo vệ cái sống chủng loại. Đúng ra, không có chuyện chết, chỉ có chuyện tồn tại. Với một cá thể, đó là chết. Nhưng với củng loại, đó là tồn tại. Chết ở đây cũng là thích nghi, cũng là chọn lọc. Sống và chết ở đây không liên quan gì với hạnh phúc hay đau khổ. Và do đó, không cần phải than van, thương tiếc.

T(B)iến hóa, nói chung, cũng là một cuộc chiến thầm lặng và gay cấn. Tại sao cái đuôi của loài hươu cao cổ chỉ để đuổi ruồi muỗi, lại có thể t(b)iến hóa để giữ một chức năng không thiết yếu một cách hoàn hảo như vậy? “Nếu hiểu biết rằng việc chăn nuôi trâu bò và các súc vật khác có thành công hay không ở vùng đất nào trong Nam Mỹ lệ thuộc hoàn toàn vào khả năng chịu đựng ruồi muỗi của các con thú nầy thì chúng ta sẽ thấy rằng cái đuôi của loài hươu cao cổ là một dụng cụ rất cần thiết cho sự sinh sống và phát triển của chúng. Tuy ruồi muỗi không thể giết chết các thú vật lớn nhưng sự cắn đốt liên tục sẽ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chúng, làm cho chúng dễ bị bệnh hay không thể ăn uống đầy đủ hay dễ bị các thú dữ giết hại hơn.” Chả là vì, “Trong một môi trường sống, mỗi sinh vật đều đóng một vai trò quan trọng trong sự sống còn của nhiều sinh vật khác. Mỗi sinh vật đều có thể săn bắt hoặc bị săn bắt bởi một hay nhiều sinh vật khác.”

T(B)iến hóa là một chuyển động có vẻ như rất có mục đích, thực ra, lại vô mục đích và vô cảm chẳng khác gì các định tinh, hành tinh cứ quay quay đều, quay quanh nhau, quay mãi, vô tận…Đến đâu, làm gì, để đạt được cái gì? Bất khả tư nghì. T(B)iến hoá, nhìn chung, là một tiến trình buồn. Đó là hoạt cảnh của một quá trình “nối dõi tông đường” liên tục và miên viễn. Thành rồi trụ rồi hoại rồi không rồi thành rồi trụ… Cứ thế. Con người cùng những sản phẩm vật chất vô cùng tinh vi (điện tử, máy tính, google, vệ tinh nhân tạo, trạm không gian…) và những sản phẩm tinh thần vô cùng cao quý (các ý niệm về cái Tuyệt Đối, Thượng Đế, cõi Vĩnh Hằng, Chân Như, Niết Bàn) rất đáng tự hào của nó, dù tiến bộ, hiện đại và được cập nhật hoàn hảo đến đâu, dường chẳng có nghĩa lý gì với con số hàng trăm ngàn, hay hàng triệu năm kể từ khi sinh vật đầu tiên xuất hiện và không biết khi nào thì chúng bị biến mất toàn diện. Trong cuộc t(b)iến hóa chủng loại liên tục đó, mọi sinh vật đã tiêu tốn và phung phí không biết bao nhiêu là năng lực, vừa để sống, vừa để thích nghi, vừa để tranh đấu, vừa để tồn tại. Một quá trình tiêu hao năng lực vô cùng lớn. Để làm gì? Chẳng để làm gì cả. Sực nhớ đến Lavoisier khi ông đề cập đến các phản ứng hóa học: Rien ne se perd, rien ne se crée, tout se transforme! Không có gì mất đi, chẳng có gì tạo ra, tất cả chỉ là chuyển đổi.

Đọc Darwin, tôi thấy thích thú vì những phát hiện mới mẻ của nhà khoa học, nhưng buồn vì cảm thấy mình hoàn toàn…vô nghĩa. Trong cuộc t(b)iến hóa này, không có tôi, cũng không có chúng ta. Chỉ có sự sống và một diễn trình vô cùng tận. “Darwin đã hàm ý rằng con người chỉ là một trong những sinh vật đã trải qua một quá trình tiến hóa từ những chủng loại tiền sinh khác cũng không khác gì bất cứ con thú nào khác đã từng sống trên địa cầu nầy.” Mỗi một con người = con người = loài người. Và nằm trong dòng sinh diệt miên man cùng với muôn loài. Riêng mà rất chung.

Đọc Darwin, tôi cảm thấy mình đâm ra…vô ngã!

Ngã

Cùng trong lúc đó, “Cặp đôi giáo hoàng” của tác giả Đinh Từ Thức đưa tôi trở lại “trần gian”, trở lại cái thế giới rất người, rất “ngã”. Với những vấn nạn hàng ngày nhức nhối. Thay vì là chủng loại, một cái gì rất chung, qua đó, mỗi một cá thể có mặt và biến mất một cách hồn nhiên thì bây giờ là con người, một hữu-thể-tại-thế, một hữu-thể-xã-hội, một hữu-thể-tâm-linh. Và từ đó, một hữu-thể-hạnh-phúc-và-đau-khổ. Những khái niệm đó khiến con người trở thành một cái gì rất riêng, tách khỏi cuộc t(b)iến hóa vô tâm và vô ngã của sự sống. “Cặp đôi giáo hoàng” hư cấu trong hiện thực và hiện thực trong hư cấu. Tác giả không chỉ đặt vấn đề, mà thực ra, phản ảnh hỉện thực của giáo hội Công Giáo trong một thế giới đang thay đổi.

“Khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đến Ireland vào năm 1979, lần đầu tiên một vị giáo hoàng tới thăm Ireland, ngừa thai và ly dị vẫn bị coi là bất hợp pháp, và ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo gần như tuyệt đối trong xã hội cực kỳ bảo thủ của Ireland. (…) Ireland hiện giờ nằm dưới quyền lãnh đạo của một vị thủ tướng đồng tính. Ba năm trước, nước này trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới chấp nhận các cuộc hôn nhân đồng tính qua cuộc trưng cầu ý kiến bằng phiếu phổ thông. Cuối tháng 5, Ireland chấm dứt một trong những chế độ cấm phá thai nghiêm ngặt nhất trong thế giới Tây phương. Cả hai cuộc trưng cầu dân ý đều giành được sự ủng hộ của đại đa số, bất chấp sự phản đối của Giáo hội Công giáo. (…) Giáo dân dự thánh lễ hàng tuần ở Ireland xấp xỉ 80% cách đây 40 năm về trước, giờ chỉ còn khoảng 35%. Năm ngoái, chỉ có một nửa các cặp tân hôn tổ chức lễ cưới tại nhà thờ.” ( Đài VOA tiếng việt)[1]

Trong chuyến công du này, hàng trăm ngàn người từ khắp nơi trên thế giới, từ khắp đất nước Ái Nhĩ Lan và cả từ vùng Bắc Ái Nhĩ Lan đến dự thánh lễ do Giáo Hoàng Francis chủ trì. Tuy vậy, con số vẫn còn nhỏ hơn nhiều so với hơn hai triệu người tham dự thánh lễ do Giáo Hoàng John Paul II 40 chủ trì năm trước. Trong lúc đó, hàng ngàn người khác tụ họp ở nhiều nơi lên tiếng chống đối các vụ lạm dụng tình dục trẻ em tại một số giáo phận.[2] Minister Leo Varadkar, vị thủ tưóng đồng tính đầu tiên của Ái Nhĩ Lan, tuyên bố, “Giáo Hội Công Giáo vẫn là phần quan trọng nhưng không còn là trung tâm điểm của xã hội chúng tôi như cách đây 40 năm. (…) Tương quan giữa nhà nước và giáo hội đã thay đổi vì có quá nhiều vụ lạm dụng tình dục với trẻ em xảy ra.” Đã thế, chuyến công du còn bị che mờ bởi một sự kiện khác: Tổng Giám Mục Carlo Maria Vigano, cựu Sứ Thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ, trong một lá thư dài 11 trang, đã kêu gọi Đức Giáo Hoàng Francis từ chức vì không giải quyết kịp thời vụ lạm tình dục của cựu Hồng Y Theodore McCarrick. Dư luận suy đoán rằng, sự kiện này nằm trong một âm mưu của giới tăng lữ bảo thủ muốn lật đổ vị giáo hoàng đương nhiệm có quan điểm khá cấp tiến này.

Có thể nói, qua “Cặp đôi giáo hoàng”, thay vì quanh co, dè dặt, sử dụng lối nói uyển ngữ vốn thường thấy khi đề cập đến những khía cạnh tôn giáo nhạy cảm, tác giả Đinh Từ Thức đã rất thẳng thắn, quyết liệt, đi thẳng vào vấn đề nhằm thúc đẩy một sự cải cách triệt để, hầu đưa giáo hội Công Giáo tiếp cận được với một thời đại đang càng ngày càng thay đổi. Tất cả những vấn nạn mà giáo hội đang đối đầu được tác giả đưa ngay trong phần mở đầu: hình ảnh sôi động của một cuộc biểu tình đòi hỏi ngừa thai, đòi được quyền ly dị, đòi hỏi phụ nữ làm linh mục, và lên án tình trạng lạm dụng tình dục trẻ em. Và một trong những “hư cấu” gây “sốc” nhất là tác giả cho hai vị giáo hoàng thử sống như vợ chồng – một cặp đôi đồng tính! – trong vòng 24 tiếng đồng hồ để có kinh nghiệm về đời sống gia đình.

Đề cập đến chuyện rao giảng kinh thánh, tác giả viết: “Một đằng, chúng ta rao giảng Thiên Chúa là đấng Toàn Năng, lòng lành vô cùng, Chúa thương yêu tất cả mọi người, lo cho mọi người tất cả mọi sự, và sẵn sàng tha mọi lỗi lầm. Trong khi ấy, chúng ta cũng mô tả một Thiên Chúa dữ dằn và khó tính vô cùng. Một Thiên Chúa luôn đòi được thờ lậy, tung hô, đa nghi, và sẵn sàng thẳng tay trừng phạt con cái mình rất nặng; kể cả hành hạ đời đời dưới Hoả Ngục, tất cả những ai làm phật lòng Người. Tóm lại, cùng lúc, chúng ta vẽ ra một Thiên Chúa vừa nhân từ, vừa dữ dằn như con ngáo ộp.”

Đề cập đến sự thay đổi, tác giả đề nghị: “Nhiều sinh hoạt nay đã hoàn toàn đổi khác, không còn hợp thời nữa. Tất nhiên, chúng ta không thể thay đổi Lời Chúa cho hợp thời, nhưng những gì đã trở thành xa lạ trong đời thường, thì nên trân trọng giữ gìn như di vật cổ, làm tài liệu tham khảo, hơn là phổ biến rộng rãi, khiến người đời không hiểu, hay thắc mắc.” (…) Vì thế, trong một số trường hợp, chúng ta có thể dựa vào Ý Chúa, để giải thích một cách tránh được tranh cãi trong xã hội ngày nay.”

Một trong những vấn đề quan trọng là chuyện ngừa thai. Theo tác giả, “Mọi tiến bộ, kể cả khám phá khoa học, cũng đều do Thiên Chúa. Ngày nay, nhờ khoa học và nhờ ơn Chúa, người ta có thể làm ra babies mà không cần làm tình. Vậy, ngược lại, cũng có thể cho làm tình mà không cần làm babies.” Tại sao? Ông giải thích rõ: “Sự phối hợp thể xác giữa hai vợ chồng, dù nhằm mục đích sinh sản hay không, trước hết là tột đỉnh của tình yêu cao cả do Chúa đã xếp đặt. Thay vì chúc phúc, khuyến khích cho sự thể hiện tình yêu tự nhiên này của các cặp vợ chồng đạo hạnh, trong hàng ngàn năm, qua việc cấm ngừa thai, Giáo Hội đã gieo vào tâm hồn trong sáng của họ cảm tưởng phạm tội mỗi lần yêu nhau. Chúa xuống thế chịu chết chuộc tội, để con cái Chúa thoát khỏi tội lỗi, được sống hạnh phúc, trong khi Giáo Hội chúng ta tạo ra tội lỗi quàng vào cổ giáo dân. Yêu thương nhau một cách chính đáng, mà phải đi xưng tội và ăn năn đền tội để được tha thứ. Điều này, chẳng những vô lý, mà còn độc ác.” (…) “Sự truyền giống chỉ là một yếu tố song hành với hoà hợp thể xác tự nhiên giữa nam và nữ, dựa trên sự ưng thuận hoàn toàn của đôi bên. Chọn cả hai hay một trong hai yếu tố, là quyết định tối thượng của vợ chồng. Giáo Hội cấm ngừa thai là không phù hợp với Phúc Âm. Cũng như nhà cầm quyền nào bắt buộc dân phải ngừa thai, là vi phạm quyền con người. Nếu lệnh cấm ngừa thai của Giáo Hội và lệnh bắt ngừa thai của Chính Quyền cùng được ban hành, người công dân giáo hữu bị đặt trong tình trạng bế tắc: theo đạo thì phạm luật, theo luật thì phạm tội.”

Ngắn gọn, rõ ràng và dứt khoát!

Trong phần cuối, tác giả đề cập đến phép lạ. “Nhưng chúng ta không thể công nhận sai lầm liên hệ tới phép lạ. Vì phép lạ tồn tại nhờ lòng tin, nếu thừa nhận sai lầm, lòng tin bị lung lay, không còn phép lạ. Ngài thừa biết, ngay từ đầu, Phép Lạ đối với tôn giáo chúng ta có vai trò quan trọng như thế nào. Làm suy giảm lòng tin vào phép lạ, không phải là tự bắn vào chân, mà tự bắn vào tim mình.”

Và vở kịch kết thúc bằng hình ảnh của cuộc biểu tình: “Trong khi ấy, có tiếng ồn ào của đông đảo người biểu tình vọng lại từ bên ngoài, với những tiếng hô nổi bật: Make Love, Not Babies!, Divorce Now!, Why Not Female Popa?, Pedophiles go to Hell!

Tôi tự hỏi: Con người có cần đến Phép Lạ để giúp giải quyết được vấn nạn này một cách ôn thỏa?! Hay thực ra, tất cả đều vốn nằm trong tầm tay của “con người”.

Ngoài phần hư cấu, tác giả Đinh Từ Thức còn có phần lời bạt, trình bày rõ quan điểm của mình. Ông xác nhận rằng “những tình tiết giả tưởng chứa đựng trong vở kịch này đã bắt nguồn từ những sự việc có thật, đã và đang ảnh hưởng tới hàng tỉ người trên khắp thế giới, trải qua hàng ngàn năm.” Về hôn nhân, tác giả kể câu chuyện trong gia đình về một cô cháu “tàn đời” vì bị kẹt trong luật đạo, không thể tiêu hôn:

“Trước 1975, trong đại gia đình người viết này, có một cô cháu tàn đời vì không thể tiêu hôn. Lấy chồng từ thuở 15, chồng là thành viên Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo. Mới cưới được một tuần, chồng mất tích sau một trận đánh. Cô dâu thiếu niên theo gia đình mình di cư vào Nam. Bà mẹ, vốn sùng đạo, chỉ sợ, nếu có “chuyện gì” sẩy ra, không những con “mất linh hồn”, cha mẹ cũng bị “vạ lây”. Trong hai chục năm, bà đã đi khắp nơi, từ đồng bằng tới cao nguyên, cố tìm nhân chứng về số phận của chàng rể một tuần, để, nếu còn hy vọng tái hợp, con bà sẽ an phận đợi chờ; nếu chẳng may hết hy vọng, cũng đủ điều kiện giải thoát cho con. Lần bôn ba sau cùng, bà mang con út mới mấy tháng đi theo, lên Đà Lạt tìm nhân chứng. Trở về tay trắng: Nhân chứng không có, ít hôm sau, con nhỏ qua đời vì cảm lạnh!”

Tôi có một người bạn, học thức cao, có đạo, nhưng tư tưởng cởi mở, chơi thân với người có đạo cũng như không có đạo. Anh lấy vợ cùng đạo, có một con. Sau 1975, anh bị đi ở tủ. Mấy năm sau, cô vợ ở nhà ngoại tình, quyết định ly dị. Tòa gửi giấy lên trại cải tạo, gọi anh ra tòa nhiều lần. Tuy bị buộc phải ký giấy ly dị theo luật đời, sau 10 năm ở tù về, rồi sang định cư ở Mỹ, cho đến bây giờ, đã quá thất thập cổ lai hy, anh vẫn ở vậy, tuân theo luật đạo, nhất định không lấy vợ, dù bao nhiêu người khuyên bảo. Một linh mục quen cũng khuyên anh lấy vợ, nhưng khi anh hỏi, vậy thì cha có chịu chứng cho con không, ông linh mục lắc đầu. Tôi hỏi anh tại sao lại khắc khe với mình như thế? Anh bảo anh lo sợ mất linh hồn. Tôi thắc mắc: Nhưng vợ anh bỏ anh chứ anh có phản bội đâu, anh có vi phạm luật đạo đâu? Anh bảo: biết đâu đến phút cuối đời, lúc hấp hối, cô ấy hối hận, chịu trở lại với tôi, thì lúc ấy, tội tôi to lớn đến như thế nào.

Thật hết ý!

Thực ra, theo tác giả Đinh Từ Thức, “…Luật Mô-Sê cho ly dị. Đức Giê-Su không chủ trương bỏ Luật cũ, có nghĩa Người cũng chấp nhận việc ly dị, trong trường hợp vợ gian dâm. Giáo Hội Công Giáo chỉ căn cứ vào mấy chữ “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”, rồi cấm ngặt ly dị. Kể cả có gian dâm, cũng không được ly dị. Điều này chứng tỏ, Giáo Hội khắt khe hơn cả Chúa, người lập ra Giáo Hội.”

TDN


[1] https://www.voatiengviet.com/a/duc-giao-hoang-tham-ireland-giua-con-khung-hoang-lam-dung-tinh-duc/4541410.html

[2] Xem Guardian: https://www.theguardian.com/world/2018/aug/26/thousands-greet-pope-francis-on-arrival-in-irish-village-of-knock#img-1

Và Reuters: https://www.reuters.com/article/us-pope-ireland/pope-travels-to-transformed-ireland-as-abuse-crises-rage-idUSKCN1L9290

bài đã đăng của Trần Doãn Nho


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)