Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Dịch Thuật, Truyện ngắn Email bài này

SỎI ĐÁ


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 13.09.2018

Trích từ tuyển tập truyện ngắn Dear Life (Cuộc Đời Yêu Dấu) của Alice Munro

gravel pit

 

Thuở ấy chúng tôi sống gần một hố sỏi. Đó không phải là loại lớn được đào bởi máy khổng lồ, chỉ là một cái hố nhỏ do một nông dân nào đó đào bán lấy tiền nhiều năm trước. Thực ra cũng khá cạn khiến bạn có thể nghĩ nó được dùng vào mục đích khác, như làm móng nhà, dù ngôi nhà ấy chưa bao giờ được xây lên.

Mẹ tôi vẫn thích lưu ý mọi người về điều này. “Chúng tôi sống bên cạnh một cái hố sỏi cũ gần bên con đường dịch vụ”, bà bảo, rồi cười, bởi vì bà rất hài lòng đã rũ bỏ mọi thứ liên quan đến ngôi nhà kia, con đường nọ – người chồng – với cuộc đời của bà trước đây.

Tôi chẳng mấy khi nhớ đến cuộc đời ấy. Đúng ra tôi nhớ rõ vài đoạn nhưng không mạch lạc nên bạn khó dựng nên một bức tranh hoàn hảo. Tất cả những gì còn lại trong tâm trí tôi về ngôi nhà là giấy dán tường với hình những chú gấu nhồi bông trong căn phòng cũ của tôi. Còn trong nhà mới, thực ra là một cái nhà kéo di động (1). Chị tôi, Caro, và tôi có một cái giường đôi, hai tầng chồng lên nhau, nhỏ hẹp. Thoạt tiên khi mới dọn về, chị Caro trò chuyện thật nhiều với tôi về ngôi nhà cũ, cố gắng làm cho tôi nhớ lại nó, tới thứ này thứ nọ. Chị Caro thường kể chuyện khi chúng tôi lên giường ngủ, câu chuyện kết thúc mỗi khi tôi chẳng thể nào nhớ lại, khiến chị rất đỗi bực mình. Đôi khi tôi nghĩ là tôi nhớ, nhưng vì ương ngạnh hoặc sợ nhớ sai tôi giả vờ quên tất.

Chúng tôi rời nhà tới cái nhà di động kia vào một mùa hè. Mang theo con chó. Blitzee. “Con Blitzee thích sống ở đây,” mẹ tôi nói thế, mà cũng đúng. Con chó nào mà chẳng thích bỏ lại một khu phố, dù với những sân cỏ lớn và những ngôi nhà to bự, để được tha hồ tung tăng ở vùng thôn dã thoáng mát? Nó sủa ăng ẳng mỗi khi thấy xe chạy qua như thể nó làm chủ con đường, thỉnh thoảng tha về nhà một con sóc hay một con chuột chũi giết được. Mới đầu Caro rất bực chuyện này, và Neal phải bỏ thời gian trò chuyện với chị ấy, giải thích về bản năng của loài chó và về nấc thang sống còn trong thiên nhiên, nơi tất phải có một vật này ăn thịt một vật kia.

“Nhưng nó có thức ăn của chó rồi,” Caro cãi, nhưng Neal trả lời. “Thế liệu nó không có thì sao? Nếu một ngày kia tất cả chúng ta biến mất và con chó phải tự chăm lo lấy mình?”

“Con sẽ không biến mất đi đâu cả,” Caro nói. “Con sẽ không biến mất, lúc nào con cũng săn sóc nó kia mà.”

“Con nghĩ vậy à?” Neal nói và mẹ tôi liền xen vào để lái câu chuyện theo hướng khác. Neal lúc nào cũng sẵn sàng nói chuyện về chủ đề những người Mỹ và bom nguyên tử, nhưng mẹ thì không nghĩ rằng chúng tôi sẵn sàng cho mấy đề tài ấy. Bà không biết rằng khi chú đề cập tới chuyện ấy tôi lại tưởng là chú đang nói về mấy ổ bánh nguyên tử nào đó. Tôi biết là có một điều gì lệch lạc trong cách suy nghĩ của tôi, nhưng tôi không dại gì mà đặt câu hỏi và lại bị người khác cười cho vào mũi.

Chú Neal là một kịch sĩ. Trong thị trấn có một nhà hát mùa hè chuyên nghiệp, thứ rất mới vào thời ấy, khiến cho một số người phấn khích và một số khác lấy làm lo lắng, sợ rằng nhà hát sẽ đem lại cho cuộc sống ở thị trấn sự xáo trộn và những thứ lăng nhăng khác. Mẹ và cha tôi ở trong số những người ủng hộ, nhưng mẹ tôi hoạt động tích cực hơn, vì bà có nhiều thì giờ. Cha tôi là nhân viên bảo hiểm và do công việc ông phải đi lại nhiều. Mẹ tôi trở nên bận rộn với những chương trình gây quỹ khác nhau cho nhà hát và tình nguyện làm không công như người kiểm soát vé và hướng dẫn chỗ ngồi ở trong rạp hát. Mẹ tôi xinh đẹp và khá trẻ khiến người ta nhầm bà với một nữ nghệ sĩ. Bà bắt đầu mặc áo quần như một nghệ sĩ thật, với khăn voan, váy đầm dài, những dây chuyền lủng lẳng ở cổ. Bà để tóc rũ ra có phần hoang dại và thôi không trang điểm như cũ. Tất nhiên vào lúc đó tôi chẳng hiểu gì, thậm chí không để ý đến những thay đổi ấy. Mẹ tôi là mẹ tôi. Nhưng chị Caro để ý. Và cha tôi cũng vậy. Mặc dù thế, tôi biết tính tình của ông và cảm xúc mà ông dành cho vợ, tôi nghĩ chắc ông cảm thấy tự hào vì vợ mình trông xinh đẹp với kiểu ăn mặc mới khiến bà trở nên duyên dáng biết bao giữa người khác trong rạp hát. Sau này khi cha tôi có dịp nhắc lại thời kỳ ấy ông vẫn nói rằng ông luôn ủng hộ các hoạt động nghệ thuật. Tôi có thể hình dung cảnh mẹ tôi ngượng chín người, ngượng rồi cười giả lả để che dấu ngượng ngập, nếu cha tôi đã dõng dạc tuyên bố điều này trước những người bạn từ nhà hát.

Thế rồi điều gì phải tới đã tới, ai cũng thấy, trừ cha tôi. Tôi không biết liệu chuyện ấy có xảy ra với những người thiện nguyện khác không. Tôi biết, mặc dù tôi không nhớ chắc rằng cha tôi đã khóc và suốt ngày đi sau lưng mẹ tôi, lẩn quẩn trong nhà, không rời mắt khỏi bà và không thể nào tin được chuyện mẹ tôi vừa kể. Và thay vì nói một câu nào đó để ông cảm thấy an ủi, bà lại kể một chuyện gì đó làm ông đau khổ hơn.

Mẹ nói với cha rằng đứa bé trong bụng là con của chú Neal.

Thế em có chắc không?

Chắc. Mẹ có ghi xuống ngày tháng.

Thế rồi chuyện gì xảy ra?

Cha tôi không khóc nữa. Ông phải trở lại làm việc. Mẹ tôi dọn đồ đạc và đưa chúng tôi đến ở với chú Neal trong cái nhà di động mà chú tìm được ở vùng ngoại ô. Sau đó mẹ tôi nói rằng mẹ cũng khóc. Nhưng bà nói thêm bà cảm thấy được sống lại. Có thể là lần đầu tiên trong đời mình, bà thực sự sống. Cảm thấy được trao cho một cơ hội, bà bắt đầu làm lại cuộc đời. Bà bước ra khỏi nhà đi lướt qua những chén nĩa bằng bạc, những đĩa sành sứ, những vật trang trí, và khu vườn đầy hoa và những cuốn sách trên kệ của mình. Bây giờ bà mới thực sự sống, chứ không phải chỉ đọc trong sách. Bà để lại những bộ quần áo treo lủng lẳng trong tủ áo và để lại những đôi giày cao gót nằm im lìm trên giá treo giầy cao vút. Chiếc nhẫn kim cương và chiếc nhẫn cưới nằm ngay ngắn trong hộc bàn. Áo đầm mặc ngủ bằng tơ lụa nằm trong ngăn tủ. Bà chỉ ước được khỏa thân và đi dạo thơ thẩn ở vùng quê, nơi chúng tôi dọn đến, khi thời tiết ấm áp cho phép.

Kế hoạch ấy không thực hiện được, bởi vì khi bà định làm thế, Caro liền bỏ chạy và núp trong cái giường cũi của mình và ngay cả Neal cũng nói rằng chú không hào hứng gì về chuyện ấy cả.

Thế chú đã nghĩ sao về tất cả mọi chuyện? Chú Neal. Cái triết lý của chú, như chú nói sau này, là hãy hoan nghênh bất cứ điều gì xảy ra cho bạn. Mọi thứ đều là món quà. Chúng ta cho đi và chúng ta nhận lại.

Tôi cảm thấy nghi ngờ về những người trò chuyện kiểu ấy, nhưng tôi biết rằng tôi không có quyền nghĩ thế.

Thật ra chú Neal cũng không hẳn là một diễn viên. Chú có dịp đóng kịch, chú bảo, như là một thứ thể nghiệm, thử việc mà thôi. Để tìm xem chú có thể biết được điều gì về khả năng của mình. Ở trường đại học trước khi bỏ học, Neal đã từng diễn một vai trong ban hợp xướng của vở kịch Vua Oedipus (2) . Chú cảm thấy thích – cảm giác được cho đi, được hòa quyện với người khác. Rồi một ngày kia trên đường phố Toronto, chú tình cờ gặp một người bạn sắp đi thử vai đóng kịch với một công ty nhà hát mùa hè ở thị trấn nhỏ. Chú liền đi theo, vì chẳng có việc gì khác để làm, và cuối cùng được nhận vai trong khi người bạn kia thì không được chọn. Chú đóng vai Banquo. Đôi khi người ta để cho nhân vật hồn ma Banquo xuất hiện, đôi khi không. Lần ấy họ muốn hồn ma xuất hiện và chú Neal vào vai thích hợp. Kích thước vừa vặn. Một con ma hiện hình thành người rõ ràng.

Chú đã nghĩ đến việc trải qua mùa đông ở thị trấn này, ngay trước khi mẹ tôi tuyên bố quyết định bất ngờ của bà. Trước đó chú đã chấm cái nhà di động. Chú có đủ kinh nghiệm làm thợ mộc để chọn công việc sửa chữa cho nhà hát, công việc ấy sẽ kéo dài cho đến mùa xuân năm sau. Chú cũng chỉ nghĩ xa đến thế là cùng.

Caro cũng không cần phải đổi trường. Chị ấy đứng đợi xe buýt ở cuối một khoảng đường ngắn chạy vòng qua cái hố sỏi. Caro phải kết bạn với những đứa trẻ ở thôn quê, và có lẽ đã phải giải thích điều chi đó với những đứa trẻ ở thị trấn mà chị ấy đã kết bạn năm trước đó, nhưng nếu Caro có gặp khó khăn gì về chuyện ấy thì tôi cũng chẳng hề nghe chị nói ra.

Con chó Blitzee lúc nào cũng đứng chờ chị tôi bên đường khi chị đi học về nhà.

Tôi không đến nhà trẻ bởi mẹ tôi không có xe hơi. Nhưng tôi chẳng lấy làm phiền không có bạn. Chị Caro, mỗi khi về nhà, là quá đủ cho tôi. Còn mẹ tôi lúc nào cũng vui cười. Mùa đông năm ấy khi tuyết bắt đầu rơi, mẹ tôi và tôi liền đắp một người bằng tuyết và bà hỏi, “Chúng ta sẽ gọi người tuyết này là Neal chứ?” Tôi bảo cũng được và chúng tôi trang trí lên nó nhiều thứ hoa hòe làm người tuyết trông thật vui nhộn. Rồi chúng tôi rắp tâm chạy ùa ra khỏi nhà khi xe chú vừa tới đầu ngõ và kêu lên, đây là Neal đây là Neal đây, nhưng đưa tay chỉ về phía người tuyết, làm chú Neal nhảy ra khỏi xe hơi nổi dóa và la lên rằng suýt nữa thì chú đã lái xe đâm vào tôi.

Đó là một trong vài lần hiếm hoi mà tôi thấy chú có cử chỉ như một người cha thực sự.

Những ngày mùa đông ngắn ngủi kia thật kỳ lạ đối với tôi – trong thành phố trước đó, đèn đường thường được bật lên lúc chiều tối. Nhưng trẻ con đã quen thuộc với những thay đổi. Đôi khi tôi tự hỏi mình về căn nhà cũ. Thật ra tôi cũng không nhớ nó lắm hay muốn về sống lại trong ngôi nhà ấy – tôi chỉ tự hỏi nó bây giờ ra sao, đi đâu rồi.

Thời gian hạnh phúc của mẹ tôi với chú Neal trải dài từ ban ngày sang đêm tối. Nếu tôi bỗng thức giấc và muốn đi vệ sinh, tôi liền gọi mẹ. Bà tới ngay, hạnh phúc, nhưng chẳng có vẻ gì vội vã, với một vài miếng quần áo hay khăn quàng quấn vội quanh người – cùng với mùi thơm mà tôi nghĩ là của những ngọn nến và của âm nhạc. Và của tình yêu.

Một điều gì xảy ra có vẻ không an lành được thế, nhưng tôi chẳng chú ý lắm để tìm hiểu nó. Con chó Blitzee, vốn không lớn, nhưng cũng không quá nhỏ để nằm trong áo khoác của chị Caro. Thế mà Caro cũng làm được việc ấy, tôi chẳng biết bằng cách nào. Không chỉ một lần mà hai lần. Chị giấu con chó trong áo khoác của mình khi ngồi trên xe buýt tới trường, và rồi thay vì tới trường, Caro mang con chó trở lại ngôi nhà cũ của chúng tôi, thật ra cũng chỉ cách đó một dãy phố. Đó là nơi cha tôi tìm thấy con chó nhỏ, nằm trong hiên nhà có vòm che mùa đông, với cửa không khóa, khi ông từ sở về nhà dùng bữa cơm trưa đơn độc. Thật ngạc nhiên thấy con chó nằm ở đó, tìm thấy đường về nhà như một con chó trong chuyện cổ tích. Caro gây nên chuyện lớn khi tuyên bố rằng không hề gặp con chó suốt cả buổi sáng, khiến cho ai nấy phát hoảng lên.Thế rồi chị đã hớ khi lập lại mưu kế này một tuần sau, và lần này mặc dù không ai trên xe buýt hoặc ở trường nghi ngờ gì về Caro, chính mẹ tôi đã bắt đầu nghi ngờ.

Tôi không nhớ có phải cha tôi đã mang con chó trả lại cho chúng tôi hay không. Tôi không thể nào hình dung ông tới đứng bên trong tòa nhà di động của chúng tôi, hay đứng ở cửa, hay ngay cả đi trên đường dẫn tới nó. Có thể chú Neal đã trở về ngôi nhà cũ của chúng tôi và mang con chó đi. Thật khó mà hình dung.

Nếu câu chuyện tôi kể gây cảm giác Caro là đứa con gái đau khổ, hay bày mưu tính kế tối ngày, thì không đúng đâu. Như tôi kể, chị đã từng cố gắng làm cho tôi phải nói ra nhiều chuyện, khi đi ngủ buổi tối, nhưng chị cũng không hay than thở buồn rầu. Tính Caro không hay hờn dỗi. Chị cũng không tìm cách gây cảm tình ở người khác. Chị thích những người nào thích chị, chị thích làm không khí sôi nổi lên bằng cách hứa làm một chuyện gì cho tôi với vẻ hoan hỉ. Nhưng chị thường nghĩ về chuyện ấy hơn cả tôi.

Bây giờ thì tôi nghĩ rằng Caro có tình tình giống mẹ tôi hơn ai nhất.

Chắc chắn chị đã bị tra hỏi về việc chị đã làm gì với con chó. Tôi có thể nghĩ ra thêm vài chuyện khi cố nhớ lại.

“Con làm thế để chơi thôi.”

“Thế con có muốn ra đi và sống với cha con không?”

Tôi tin là có người đã hỏi chị thế và Caro đã trả lời là không.

Tôi chẳng hỏi Caro gì cả. Điều chị ấy làm đối với tôi cũng không có gì kỳ lạ. Có lẽ mọi việc cũng thường xảy ra như thế với bọn trẻ nít như tôi – không có gì mà những đứa trẻ lớn tuổi hơn làm khiến chúng tôi phải cảm thấy ngạc nhiên.

Gia đình có một hộp thư bằng thiếc gắn trên cọc ngoài sân, gần đường. Mẹ tôi và tôi đi tới đó mỗi ngày, trừ những ngày mưa bão lớn, để xem có gì cho chúng tôi không. Hai mẹ con làm việc ấy sau khi tôi ngủ trưa dậy. Đôi khi đó là thời gian duy nhất mà chúng tôi ra khỏi nhà. Buổi sáng chúng tôi coi ti vi chương trình trẻ con – hoặc mẹ đọc sách trong khi tôi coi. (Mẹ vẫn không thôi đọc sách suốt một thời gian dài.) Chúng tôi hâm nóng những hộp súp làm thức ăn buổi trưa, rồi tôi đi nghỉ trong khi mẹ đọc sách. Cái bụng bà ngày càng lớn, và em bé hay đạp lung tung trong bụng mẹ khiến tôi cũng có thể cảm thấy được. Tên của nó là Brandy, không cần biết là trai hay gái.

Một ngày kia chúng tôi đi lấy thư và trước khi tới hộp thư, không xa, mẹ tôi bỗng dừng lại và đứng sững người im lặng.

“Im,” mẹ tôi bảo, mặc dù tôi chẳng nói gì cả mà cũng không hề lấy đôi ủng cào qua cào lại trên tuyết như mọi khi.

“Thì con vẫn im lặng mà,” tôi nói.

“Suỵt. Quay người lại.”

“Nhưng chúng ta chưa lấy thư.”

“Không cần. Cứ bước.”

Và tôi lập tức nhận ra con Blitzee, lúc nào cũng chạy theo chúng tôi, khi thì ngay phía trước, khi thì ngay phía sau, đã không còn ở đó nữa. Một con chó khác, đang đứng bên kia đường, cách hộp thư vài mét.

Mẹ tôi gọi điện thoại cho nhà hát khi vào trong nhà và để cho con chó Blitzee chạy tuột vào, lúc ấy nó đang đứng chờ chúng tôi bên cửa. Không ai trả lời điện thoại. Mẹ lại gọi nhà trường và nhờ một người nào đó yêu cầu người lái xe buýt chở Caro về tận nhà. Nhưng người tài xế không thể làm thế được, vì tuyết xuống nhiều quá từ lúc chú Neal xúc tuyết, nhưng người tài xế vẫn ngồi quan sát Caro cho đến khi chị ấy bước hẳn vô nhà. Không ai thấy một con chó sói nào cả.

Chú Neal cho rằng chẳng hề có một con chó sói nào như thế ở vùng này. Và nếu có, chú bảo, thì chúng sẽ không làm hại ai, chúng rất yếu như những con thú đang ngủ đông.

Caro nói chó sói không phải là loài ngủ đông. “Tụi con học được chuyện ấy ở trong nhà trường.”

Mẹ muốn chú Neal mua một khẩu súng.

“Em có nghĩ là anh sẽ đi mua một khẩu súng, vào rừng và bắn chết một con chó sói mẹ, có lẽ đang có một bầy con núp trong bụi rậm và cũng đang tìm cách bảo vệ chúng, như cách mà em đang bảo vệ các con của em chăng?” Chú Neal dịu dàng bảo vậy.

Caro nói, “Chỉ có hai. Chó sói chỉ sinh hai con mỗi lần thôi.”

“Được rồi, được rồi, yên nào, chú đang nói chuyện với mẹ con.”

“Anh thật không biết gì cả,” mẹ tôi nói. “Anh không biết liệu sói con có đang đói hay không.”

Tôi không bao giờ nghĩ là mẹ tôi lại nói với chú với lời lẽ như thế.

Chú nói, “Từ từ. Từ từ. Hãy suy nghĩ một lát xem. Súng là một cái gì rất nguy hiểm. Nếu anh đi mua một khẩu súng, thì thái độ của anh là thế nào đây? Như thế có phải cho rằng chiến tranh Việt Nam là điều tốt? Như thế thì thà anh đi đánh nhau ở Việt Nam còn hơn?”

“Nhưng anh không phải là một công dân Mỹ.”

“Em không chọc tức được anh đâu.”

Đó là những lời nói qua nói lại và cuối cùng chú Neal cũng không mua súng. Chúng tôi không bao giờ thấy lại những con chó sói nữa, nếu quả thật có một con như vậy. Tôi nghĩ là mẹ tôi từ đó không ra lấy thư nữa, nhưng cũng vì bụng bà quá lớn nên đi lại khó khăn.

Tuyết tan mau. Cành cây trụi hết lá và mẹ tôi bắt chị Caro phải mặc áo khoác vào buổi sáng, nhưng buổi chiều khi về nhà thì chị thường kéo lê cái áo sau lưng. Mẹ bảo trong bụng bà có hai đứa sinh đôi, nhưng bác sĩ bảo chỉ có một.

“Tuyệt,” chú Neal nói, thích thú cái ý tưởng có con song sinh. “Bác sĩ mà biết cái gì.”

Cái hố sỏi đã đầy lên vì tuyết tan ra và cả nước mưa. Vì vậy Caro phải đi sát bờ nước trên đường tới chỗ chị chờ xe buýt. Nơi đó trở thành một cái hồ nhỏ, yên tĩnh và đẹp lạ lùng dưới bầu trời trong sáng. Caro mặc dù chẳng hy vọng nhiều cũng hỏi rằng liệu bọn trẻ chúng tôi có thể chơi ở đó không.

Mẹ tôi bảo đừng có điên. “Cái hồ ấy phải sâu đến bốn, năm mét.”

Chú Neal nói, “Có thể chỉ sâu hai mét.”

Caro nói, “Ngay gần bờ thì không sâu thế đâu.”

Mẹ nói, sâu lắm. “Đéo. Nó sâu tận sát bờ, chứ không phải giống như ở bờ biển thoai thoải cát đâu. Phải tránh cho xa.”

Mẹ tôi bắt đầu nói chữ đéo ngày càng nhiều, nhiều hơn cả chú Neal, và nói với giọng rất bực bội.

“Chúng ta cũng đừng để cho con chó chạy tới gần đó chứ?” bà hỏi.

Chú Neal bảo cái đó không phải lo. “Chó có thể bơi được.”

Một ngày thứ bảy. Caro xem cuốn phim Kẻ khổng lồ thân thiện cùng với tôi, phê phán ồn ào làm hỏng cả thú xem phim. Chú Neal nằm trên ghế bành, kéo ra thành chiếc giường cho chú và mẹ tôi. Chú hút thứ thuốc lá riêng của chú, vì chú không thể hút ở chỗ làm việc cho nên vào cuối tuần chú hút nhiều hơn. Đôi khi Caro làm phiền, tới hỏi xin thử một hơi. Có một lần chú để cho chị ấy hút thử nhưng bảo đừng nói cho mẹ biết.

Tôi cũng ở đó nên chú cũng bảo tôi thế.

“Anh biết là hắn có thể bắt con tôi ra khỏi đây lập tức,” mẹ tôi bảo, “Đừng dại mà làm như vậy nữa.”

“Anh không làm thế nữa,” chú Neal cũng đồng ý. “Thế ổng lại đầu độc chúng nó bằng cách toàn cho ăn mấy thức ăn khô đóng gói sẵn thì sao?”

Mới đầu chúng tôi không gặp cha mình. Thế rồi sau lễ Giáng Sinh có chương trình được đi chơi với cha tôi vào các ngày thứ bảy. Sau mỗi lần thăm viếng bao giờ mẹ cũng hỏi chúng tôi có vui không. Khi nào tôi cũng trả lời có và nghĩ thế thật, bởi vì tôi nghĩ là nếu bạn đi coi phim hay ra bờ hồ ngắm cảnh hay được đi ăn trong một hiệu ăn, thế có nghĩa là bạn có một thời gian vui vẻ. Chị Caro cũng nói có, nhưng giọng của chị ấy làm như thể chuyện ấy không dính dáng gì tới mẹ tôi. Thế rồi cha tôi đi nghỉ lễ mùa đông ở Cuba (mẹ tôi phát biểu với chút ngạc nhiên nhưng có lẽ cũng tán đồng) và cha trở về với triệu chứng bị cảm cúm nặng, nên những cuộc gặp gỡ tạm hoãn. Đáng lẽ việc thăm viếng đã được tiếp diễn vào mùa xuân, nhưng đến nay thì vẫn chưa.

Sau khi truyền hình đã tắt, chị Caro và tôi đi ra ngoài chạy lòng vòng, như mẹ nói để thở hít một chút khí trời mát mẻ. Chúng tôi mang con chó theo.

Khi chúng tôi ra ngoài, việc đầu tiên làm là cởi khăn quàng ra, chúng đã được mẹ tôi quàng vào cổ mỗi đứa. Caro hỏi tôi muốn làm gì và tôi trả lời không biết. Chị hỏi cho có hình thức nhưng tôi trả lời thành thật. Chúng tôi để con chó dẫn đường và con Blitzee bao giờ cũng chạy ra phía cái hầm sỏi nhìn xuống. Gió thổi khiến mặt nước gợn lên những con sóng nhỏ, chúng tôi cảm thấy lạnh, lại quàng khăn trở lại. Tôi không nhớ chúng tôi đứng đó bao lâu, khi đi bộ dọc theo hầm sỏi, chỉ biết là người đứng ở nhà không thể nhìn thấy chúng tôi. Sau một lát, tôi nhận ra tôi đang được điều khiển.

Nghĩa là tôi sẽ trở về nhà và nói với chú Neal và mẹ tôi một điều gì đó.

Rằng con chó đã rơi xuống nước.

Con chó rơi xuống nước và Caro sợ là nó sẽ chìm mất.

Blitzee. Chết đuối.

Chết đuối.

Nhưng con Blitzee không nhảy xuống nước.

Cũng có thể nó nhảy. Và chị Caro cũng có thể nhảy xuống nước để cứu nó.

Tôi nhớ là tôi cãi lại với chị rằng Caro đâu có nhảy, chị không hề nhảy, chuyện ấy có thể xảy ra nhưng nó đâu đã xảy ra. Tôi cũng nhớ rằng chú Neal đã nói là chó không thể chìm.

Caro vẫn muốn tôi làm đúng những điều chị ấy căn dặn kỹ càng.

Tại sao?

Có thể tôi đã hỏi chị như thế, cũng có thể tôi đã đứng đó không vâng lời và cố ý tìm cách cãi lại chị.

Trong tâm trí mình tôi có thể thấy chị Caro bồng con chó nhỏ lên rồi tung nó ra xa, mặc dù con chó vẫn cố bám lấy cái áo khoác của chị. Thế rồi chị nhảy lùi lại. Caro nhảy lùi lại và chạy về phía bờ nước. Chạy, nhảy, ùm một cái xuống nước. Nhưng tôi không thể nào nhớ được tiếng bõm của nước khi cả hai tuần tự nhảy xuống. Không hề nghe tiếng bõm nhỏ của nước hay tiếng bùm lớn hơn. Có lẽ vào lúc ấy tôi đã trở về nhà chăng-chắc là vậy.

Khi tôi nằm mơ thấy điều ấy, lúc nào tôi cũng chạy. Và trong giấc mơ của tôi lúc nào tôi cũng chạy, cũng chạy, không phải về phía căn nhà mà ngược lại về phía cái hố sỏi. Tôi có thể nhìn thấy con Blitzee trồi lên ngụp xuống và Caro bơi về phía nó, bơi một cách mạnh mẽ, lao tới để cứu con chó lên. Tôi có thể nhìn thấy chiếc áo choàng của chị ấy màu sọc nâu nhạt, cái khăn quàng cổ, khuôn mặt thành công tự hào, mái tóc đỏ sẫm, những đường uốn lượn cong của tóc trôi bập bềnh trên sóng nước. Tất cả những điều tôi có thể làm là nhìn ngắm và hạnh phúc – chẳng ai cần đến tôi cả vào lúc ấy.

Thật ra điều tôi làm chỉ là đi bộ về phía căn nhà. Và khi vào nhà rồi tôi đã ngồi xuống như thể đó là một cái băng ghế dài trong khi thật ra chiếc nhà di động không hề có thứ gì để ngồi như thế. Tôi đã ngồi xuống và chờ đợi điều sắp xảy ra.

Tôi biết như thế vì đó là một thực tế đã xảy ra. Tôi không biết, dù vậy, tôi định làm gì hay suy nghĩ ra sao. Tôi cứ chờ đợi, có lẽ thế, một màn mới trong vở kịch của Caro, hay trong vở kịch của con chó.

Tôi không nhớ tôi đã ngồi đó lâu bao nhiêu, năm phút, hay nhiều hơn? Hay ít hơn? Trời không lạnh lắm.

Tôi đã từng đi thăm một chuyên gia tâm lý về chuyện này và bà ấy thuyết phục tôi rằng có lẽ tôi đã tìm cách để mở cánh cửa của căn nhà di động nhưng nó bị khóa lại. Khóa lại bởi vì mẹ tôi và chú Neal đang nằm ngủ với nhau và khóa lại để khỏi bị làm phiền. Nếu tôi đã từng gõ lên cánh cửa thì chắc họ sẽ giận lắm. Người chuyên viên cố vấn lấy làm hài lòng đã đưa tôi đến kết luận này, và tôi cũng lấy làm thỏa mãn nữa. Trong một lúc. Nhưng rồi tôi không nghĩ rằng điều đó thực sự đã xảy ra. Tôi không nghĩ là họ đã khóa cửa lại, bởi vì tôi biết có một lần họ đã từng không khóa cửa khi chị Caro tình cờ bước vào, trông thấy cảnh ấy, và họ cười phá lên khi nhìn thấy vẻ sửng sốt trên mặt chị Caro.

Có thể tôi đã nhớ rằng chú Neal đã từng nói chó thì không bị chết đuối, nghĩa là chị Caro tìm cách cứu con Blitzee là không cần thiết. Thế là chuyện của chị ấy tạo ra trò chơi kia không thể tồn tại. Bao nhiêu là trò chơi mà Caro nghĩ ra.

Liệu tôi đã từng nghĩ rằng chị ấy biết bơi. Vào chín tuổi nhiều đứa cũng biết bơi. Thực tế là Caro đã từng đi học một lớp vào mùa hè năm trước, và rồi chúng tôi rời nhà đến cái nhà di động và chị ấy chẳng còn được đi học nữa. Hay là Caro nghĩ rằng chị ấy có thể biết bơi đủ rồi. Mà tôi thì lại tưởng rằng chị ấy có thể làm được bất cứ điều gì mình muốn.

Người cố vấn tâm lý không tin rằng tôi cảm thấy khó chịu vô cùng khi phải tuân theo những lời chỉ dẫn của Caro nhưng cảm tưởng ấy của tôi là có thật. Nhưng điều đấy có vẻ cũng không đúng. Nếu tôi đã lớn hơn nữa thì có thể tôi chống trả. Vào lúc ấy tôi vẫn còn thần tượng chị Caro lắm và tin rằng chị ấy sẽ làm đầy ắp thế giới của mình.

Tôi ngồi đó bao lâu? Chắc không lâu lắm. Và thế nào tôi cũng đã gõ cửa. Sau một lúc. Sau một phút hay hai phút. Dù thế nào mẹ tôi cũng đã mở cửa không biết vì sao. Như có một linh cảm dị thường.

Kế đó, tôi đã lọt vào bên trong nhà. Mẹ tôi gào thét và cố để làm cho chú Neal biết chuyện gì xảy ra. Chú ấy đứng dậy cố gắng trò chuyện với mẹ tôi, chạm tay vào người bà, với một vẻ nhẹ nhõm, dịu dàng và khuyên nhủ. Nhưng đó không phải là chuyện mẹ tôi muốn chút nào, bà giằng tay chú ra và chạy vọt ra khỏi cửa. Chú lắc đầu và nhìn xuống những bàn chân trần của mình, với những ngón chân to bất lực.

Tôi nghĩ là chú có nói một điều gì đó với tôi với cái giọng buồn rầu như hát. Kỳ lạ.

Tôi không còn nhớ một chi tiết nào khác nữa.

Mẹ tôi không nhảy ùm xuống nước. Bà cũng không vì vậy mà bị sinh non. Đứa em trai của tôi Brent, chỉ sinh ra sau đó một tuần hay mười ngày, sau lễ an táng, và nó sinh ra đủ ngày đủ tháng. Trong thời gian chờ đợi để sinh con, mẹ tôi ở đâu thì tôi không nhớ. Có thể bà được giữ lại trong bệnh viện và được cho thuốc an thần với liều tối đa vì lý do sức khỏe.

Tôi nhớ ngày đám tang rất rõ ràng. Một người đàn bà vui vẻ và dễ chịu vô cùng mà tôi không biết tên là Josie – dẫn tôi đi chơi. Chúng tôi đi thăm nơi này nơi nọ, một vài tòa nhà búp bê khá lớn, để tôi vào đó, rồi cho tôi ăn vào buổi trưa với những món ăn mà tôi thích nhưng không ăn quá nhiều khiến tôi phải đau bụng. Josie là người mà sau này tôi biết rõ. Cô là bạn của cha tôi, hai người quen nhau ở Cuba, và sau khi cha tôi và mẹ tôi li dị, cô trở thành mẹ kế của tôi, người vợ thứ hai của cha tôi.

Mẹ tôi từ từ bình phục. Bà phải thế thôi. Bà cần coi sóc Brent vừa mới sinh và đa phần là chăm sóc tôi. Tôi nghĩ là tôi đã ở bên nhà của cha tôi và Josie khi mẹ tôi bắt đầu ổn định trong căn nhà nơi bà dự định ở suốt đời. Tôi không nhớ đã từng tới thăm Brent ở đó cho đến khi nó đủ lớn để ngồi trên chiếc ghế cao của trẻ con.

Mẹ tôi trở lại công việc ở nhà hát. Mới đầu mẹ làm việc như một người thiện nguyện, dẫn đườNg cho khách, nhưng vào thời gian tôi đi học, bà có một việc thực sự ăn lương, và có việc quanh năm. Bà là người quản lý kinh doanh của rạp hát. Cái rạp hát vẫn tồn tại được, việc kinh doanh khi lên khi xuống, nhưng đến giờ vẫn còn.

Chú Neal không tin tưởng vào các cuộc lễ tang, vì vậy chú đã không đến dự tang lễ của chị Caro. Chú cũng chưa bao giờ nhìn thấy mặt của Brent. Chú viết một bức thư – tôi biết điều này rất lâu về sau – nói rằng bởi vì chú không có ý định làm cha, vì vậy tốt nhất là ra khỏi cuộc đời của mẹ tôi ngay từ đầu. Tôi cũng không bao giờ nhắc đến chú với đứa em trai của tôi, bởi vì tôi nghĩ điều đó có thể làm cho mẹ tôi khó chịu, cũng vì Brent không có tí gì giống với chú Neal cả, mà trong khi đó lại có vẻ giống ba tôi khiến tôi đôi lúc cũng tự hỏi chuyện gì đã xảy ra vào thời gian mẹ tôi thụ thai. Cha tôi chẳng bao giờ nói gì về điều đó và sẽ không bao giờ. Cha tôi đối xử với Brent cũng như đối với tôi nhưng vì ông thuộc loại lúc nào cũng làm thế cả.

Cha tôi và dì Josie không có con với nhau nhưng họ chẳng lấy làm phiền chi. Dì Josie là người duy nhất từng nói về Caro, mặc dù không thường xuyên lắm. Dì nói rằng cha tôi không đổ lỗi cho mẹ tôi. Ông cũng nói rằng ông quá bận rộn khi mẹ tôi muốn có một chút hạnh phúc thoải mái. Ông cần phải có người nhắc nhở và ông đã nhận được sự nhắc nhở ấy, không có gì phải đau khổ hối hận về chuyện đó. Nếu không có cái nhắc nhở ấy thì chẳng bao giờ ông tìm thấy dì Josie và hai người chẳng bao giờ có thể hạnh phúc như bây giờ.

“Hai người nào?” Tôi hỏi thế để thách thức ông và ông có thể trả lời một cách rõ ràng, “Josie. Josie, tất nhiên.”

Mẹ tôi không thể nào nhớ lại thời gian ấy, mà tôi cũng không muốn nhắc nhở làm chi. Tôi biết rằng mẹ tôi đã từng lái xe tới chỗ chúng tôi ở, và thấy mọi chuyện đều thay đổi như ngôi nhà kia mà bạn thấy bây giờ đã được xây trên nền cũ, bà nhắc đến điều ấy với một vẻ bực bội, tôi cũng đi xuống vùng đất cũ nhưng chẳng dám nói với ai. Tất cả những điều có thể được làm trong gia đình vào thời ấy có thể được xem là lỗi lầm.

Ngay cả hố sỏi bây giờ cũng biến thành căn nhà, mặt đất phía dưới đã được nâng cao lên.

Tôi có một người yêu đồng tính, Ruthann, trẻ hơn tôi nhưng tôi nghĩ khôn ngoan hơn tôi. Hoặc tối thiểu là lạc quan hơn về chuyện xua đuổi tà ma. Tôi sẽ không bao giờ có dịp gặp chú Neal nữa nếu như cô bạn của tôi không thúc giục tôi. Tất nhiên trong một thời gian lâu tôi chẳng hề nghĩ tới mà cũng chẳng có cách nào liên lạc trở lại. Chính là chú ấy cuối cùng đã viết thư cho tôi. Mấy dòng ngắn ngủi để chúc mừng, chú viết thế, sau khi nhìn thấy bức hình của tôi trên tờ báo của hội cựu sinh viên Alumni Gazette. Tôi thật không hiểu sao chú lại có dịp đọc tờ báo ấy. Tôi đã nhận được một danh dự hàn lâm thật ra chỉ có giá trị trong một cộng đồng hạn hẹp, ngoài ra không có ý nghĩa gì nhiều.

Chú Neal sống đâu khoảng năm mươi dặm cách chỗ tôi đang dạy học, cũng là nơi tôi từng tới học đại học ở đó. Tự hỏi liệu thời gian tôi còn là sinh viên, chú ấy có ở đó không. Rất gần. Hay chú ấy trở thành một nhà nghiên cứu, học giả?

Mới đầu tôi không có ý định hồi âm, nhưng khi kể cho Ruthann, nó bảo tôi nên trả lời chú. Thế là tôi gửi cho chú một bức điện thư, và rồi hai bên sắp xếp gặp nhau. Tôi gặp chú ở cái thị trấn của chú ấy, trong không khí không có vẻ gì là căng thẳng ở một quán cà phê ở đại học. Tôi tự dặn mình nếu chú ấy trông có vẻ đáng sợ – tôi không biết rõ tôi có ý gì khi nghĩ đến điều ấy – tôi sẽ bước ra thẳng.

Chú Neal trông có vẻ thấp hơn hồi trước, như những người lớn mà chúng ta đã quen biết từ lúc bé, khi gặp lại thường là vậy. Tóc thưa và cắt ngắn đến sát da đầu. Chú mời tôi một tách trà. Chú cũng uống trà.

Chú làm gì để sống?

Chú bảo chú dạy kèm học sinh luyện thi. Cũng giúp đỡ họ viết các tiểu luận. Đôi khi chú cũng viết hộ các luận án. Tất nhiên chú lấy tiền.

“Dĩ nhiên đây không phải là kỹ nghệ làm triệu phú,” chú nói.

Chú Neal sống trong một khu nhà tồi tàn. Hay chỉ khá hơn tồi tàn một chút. Chú thích thế. Tìm mua quần áo ở mấy tiệm rẻ tiền. Cái đó cũng được.

“Hợp với nguyên tắc của chú.”

Tôi không chúc mừng chú gì về cách sống này, nói thật lòng, tôi không nghĩ là chú chờ đợi một lời chúc mừng nào từ tôi cả.

“Dù sao, chú không nghĩ là đời sống của mình có gì hay ho. Chú chỉ nghĩ là cháu cũng muốn tìm hiểu thêm về chuyện đã xảy ra.”

Tôi lắng nghe, không biết trả lời thế nào.

“Bữa đó chú đang say ma túy,” chú Neal bảo. “Thêm nữa chú không biết bơi. Thời mới lớn chú không có một cái hồ bơi nào để tập cả. Chú đã từng suýt chết đuối rồi. Đó có phải là điều mà cháu muốn biết không?”

Tôi trả lời rằng tôi không hề bận tâm gì về chú ấy cả.

Thế là chú biến thành nhân vật thứ ba. Khi ấy tôi liền hỏi, “Chị Caro đã tính toán thế nào trong đầu chị ấy?”

Người chuyên viên tâm lý đã khuyên tôi rằng chúng ta không thể nào biết được sự thật. “Có thể là chính Caro cũng không biết mình muốn gì, ngoài chuyện được sự săn sóc của người lớn? Tôi không nghĩ là Caro có ý định muốn chết đuối. Có lẽ Caro chỉ muốn có người chú tâm đến nỗi buồn của mình, về chuyện gia đình ly tán?”

Ruthann đã từng nói, “Caro đã làm thế để bắt mẹ tôi thực hiện những điều mà Caro muốn? Giúp mẹ tôi tu tỉnh và quay lại với cha tôi?”

Chú Neal nói, “Chuyện ấy chẳng có chi quan trọng nữa. Có thể Caro nghĩ là mình có thể bơi giỏi hơn. Có thể nó không biết là áo choàng mùa đông nặng đến thế hay có thể không có người nào đi qua đó để cứu nó.”

Chú nói thêm, “Đừng phí nhiều thời gian lo nghĩ nữa. Đừng nên bị ám ảnh về chuyện giả thử cháu đã chạy nhanh hơn và đã kịp báo tin cho người lớn. Đừng nên ân hận điều gì hết, nghe chưa?

Tôi trả lời là tôi cũng có nghĩ đến những thứ mà chú nói, nhưng không, tôi không ân hận gì cả.

“Điều cần thiết là phải sống hạnh phúc,” chú Neal bảo. “Bất kể chuyện gì đã xảy ra, tập sống thế đi. Cháu có thể làm được. Mọi chuyện sẽ càng ngày càng dễ thở hơn. Không dính dáng gì tới số mệnh hết. Rồi cháu sẽ thấy mọi chuyện tốt lạ lùng. Chấp nhận tất cả rồi bi kịch sẽ biến mất. Hoặc bi kịch sẽ nhẹ đi, cách này hay cách khác, rồi cháu cứ vậy, thơ thới bình an với cuộc đời.”

Thôi, tạm biệt nhé.

Tôi hiểu điều chú Neal muốn nói. Thực ra đó là điều cần phải làm. Thế nhưng, trong tâm trí tôi, chị Caro vẫn mãi mãi nhắm thẳng bờ nước và ném mình xuống đó, hiên ngang và thắng thế, còn tôi vẫn đứng im trên bờ, mong chờ ở chị một lời giải thích, và chờ nghe tiếng của làn nước kia bắn lên tung tóe từ mặt hồ yên tĩnh.

___________________________

Chú thích:

(1) Trailer, di chuyển được bằng cách kéo theo sau xe hơi, thường dùng ở Bắc Mỹ. Tương tự như mobile homes, nhưng mobile homes thường chỉ các nhà được chế tạo để ở trên đất – thay vì được di chuyển – lâu dài thơn.

(2) Oedipus Rex, hoặc Oedipus the King, vở kịch nổi tiếng của Sophocles.

bài đã đăng của Alice Munro


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)