Trang chính » Giới Tính, Kịch, Quan Điểm, Tôn Giáo Email bài này

Lời bạt cho hài kịch Cặp đôi giáo hoàng (phần 3)

contraceptives protest

Một phụ nữ Mỹ trước Tối Cao Pháp Viện Hoa kỳ với biểu ngữ “[Kinh Thánh] – Đừng Dùng Tôi Qua Thành Kiến của Ngươi (Holy Bible – Use Me Not For Your Bigotry”)

 

Bây giờ, xin nói về “chết mới chia tay” (until death do us part), theo luật hôn phối của Giáo Hội Công Giáo.

Thánh Kinh Tân Ước không nói về ngừa thai, nhưng qua Phúc Âm Thánh Matthew, Thánh Mark, và Thánh Luke, Đức Giê-Su đã nói về ly dị ngay thời gian đầu, trên bước đường giảng đạo.

Sau khi được rửa tội tại sông Jordan, Đức Giê-Su tới Galilee, tuyển chọn Tông Đồ, và bắt đầu giảng đạo. Sau “Bài Giảng Trên Núi” về “Phúc thật tám mối”, Người nói về sự quan trọng của việc tôn trọng luật pháp, và nhấn mạnh: “Đừng nghĩ rằng tôi đến để loại bỏ luật pháp hay các nhà tiên tri. Tôi không đến để phá bỏ, nhưng để kiện toàn” (Mt. 5:17) (Think not that I am come to destroy the law, or the prophets: I am not come to destroy, but to fulfill). Tiếp theo, Người nói về giết người (Mt. 5:21), về ngoại tình (Mt. 5:27, 28), và ly dị: “Đã có lời nói rằng, Ai bỏ vợ mình, phải viết cho nàng một chứng thư ly dị. Nhưng tôi nói với các anh em, Rằng bất cứ ai bỏ vợ mình, nếu không vì lý do gian dâm, sẽ đưa nàng tới chỗ ngoại tình: và ai sẽ lấy người bị ly dị này, cũng phạm tội ngoại tình” (Mt. 5:31, 32) (It hath been said, Whosoever shall put away his wife, let him give her a writing of divorcement: But I say unto you, That whosoever shall put away his wife, saving for the cause of fornication, causeth her to commit adultery: and whosoever shall marry her that is divorced, committeth adultery).

(Chú thích: Hai câu 31 và 32 trên đây trong Chương 5, Phúc Âm Thánh Mathew, trích từ King James New Testament, nhà xuất bản Jacob Johnson’s Philadelphia, ấn bản 1804. Chữ “fornication” (gian dâm) ở bản tiếng Anh, trong Phúc Âm bằng tiếng Latin dùng chữ “fornicatione”, in cùng với bản tiếng Hy Lạp dùng chữ “porneia”, do nhà Wingrave’s xuất bản năm 1794 ở London. Bản tiếng Pháp của nhà xuất bản Osterwald’s Paris, in năm 1802, dùng chữ “adultère”. Cả bốn Phúc Âm bằng bốn thứ tiếng, đều do Tổng Thống thứ ba của Mỹ, Thomas Jefferson, dùng để tạo thành tác phẩm cắt dán rất công phu, năm 1820: The Life and Morals of Jesus of Nazareth (Cuộc đời và Đạo lý của Giê-Su Na-Gia-Rét). Thánh Kinh Công Giáo, Douay-Rheims Catholic Bible, do cơ sở đại học Công Giáo ở Rheims (Pháp) xuất bản năm 1609, cũng dùng chữ “fornication”. Trong Holy Bible, Today’s New International Version, do Zondervan xuất bản ở Mỹ năm 2005, dùng hai chữ “sexual immorality”. Theo Kinh Thánh trọn bộ, Cựu Ứớc và Tân Ước, bản dịch tiếng Việt đã được phê chuẩn bởi Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, 1993, và Phạm Minh Mẫn, 1998, do nhà xuất bản Thành Phố HCM ấn hành 1998, dùng tới năm chữ: “hôn nhân bất hợp pháp”. ĐTT).

Về liên hệ hôn nhân, Đức Giê-Su giải thích: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra người nam và người nữ. Vì thế, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Có người hỏi: “Thế sao ông Mô-Sê lại truyền dậy cấp giấy ly dị mà bỏ vợ?” Người bảo họ: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-Sê đã cho các ông bỏ vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế. (Mt. 19:4-8).

Như vậy, cần phân biệt hai trường hợp ly dị:

Một là, vợ gian dâm, hay lang chạ vô luân, chồng được bỏ vợ. Nếu chồng ngoại tình, vợ có quyền ly dị không? Điều này không có nói, nhưng khó sẩy ra trong xã hội hai ngàn năm trước. Nếu không bắt được quả tang, ai là người có quyền kết án người vợ ngoại tình hay lang chạ? Lấy gì bảo đảm cho người vợ không bị oan? Tất nhiên, chỉ toà án có quyền quyết định. Quan toà đều thuộc nam giới, lấy gì bảo đảm họ vô tư khi xét xử? Rõ ràng phần thiệt nghiêng về phía nữ.

Hai là, những ai “lòng chai dạ đá”, tự ý bỏ vợ để lấy vợ khác, không cần biết vợ có gian dâm hay không, phải viết cho vợ mấy chữ chứng thực. Tuy nhiên, ly dị kiểu chai đá này, có hậu quả rắc rối: Nếu lấy vợ khác, bị coi như ngoại tình. Ai lấy người vợ bị ly dị, cũng bị coi như ngoại tình. Những ai không thuộc loại chai đá, đã thề khi làm phép hôn phối “until death do us part”, và không có bằng chứng vợ gian dâm, thì phải ở với nhau đến chết, mới được chia tay.

Cũng cần ghi thêm rằng, theo Phúc Âm, Đức Giê-Su không quan tâm nhiều về chuyện vợ chồng. Theo Người, chuyện vợ chồng thuộc về thể xác ở thế gian, là chuyện đời này: “Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (Mt. 22:30). Người còn nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Jn. 18:36).

Tóm lại, Luật Mô-Sê cho ly dị. Đức Giê-Su không chủ trương bỏ Luật cũ, có nghĩa Người cũng chấp nhận việc ly dị, trong trường hợp vợ gian dâm. Nhưng Giáo Hội Công Giáo chỉ căn cứ vào mấy chữ “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”, rồi cấm ngặt ly dị. Kể cả có gian dâm, cũng không được ly dị. Điều này chứng tỏ, Giáo Hội khắt khe hơn cả Chúa, người lập ra Giáo Hội.

Có bằng cớ hẳn hoi về việc này: Bản tin chính thức của Công Giáo TC – Todays Catholic, ngày 21 tháng 10, 2014, nói về việc Toà Án Địa Phận của Giáo Hội (Tribunal) bãi bỏ lệ phí xin tiêu huỷ hôn phối, nhắc đến quy định về hôn nhân trong Phúc Âm, nhưng chỉ liệt kê Phúc Âm theo Thánh Mark (Mark 10: 1-9), không kể Phúc Âm theo Thánh Matthew (Mt. 5: 32) như đã đề cập ở trên. Phúc Âm Thánh Mark (10:9) chỉ ghi “Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Không ghi câu nói của Đức Giê-Su “Bất cứ ai bỏ vợ, trừ trường hợp gian dâm”, được ghi trong Phúc Âm Thánh Matthew. Không phải Chúa nói một lần, mà hai lần, ở hai nơi khác nhau, hai thời gian khác nhau, và cho những người nghe khác nhau. Lần thứ nhất, ở Galilee, phía Tây Bắc Biển Galilee, thời gian mới bắt đầu giảng đạo, nói cho các tông đồ và dân chúng nghe (Mt. 5:32). Lần thứ nhì, ở phía Đông Nam Biển Galilee, miền Jordan. Chúa đã nổi tiếng sau một thời gian giảng đạo, một nhóm người Pharisees muốn thử thách, Người trả lời họ bằng cách lập lại gần như nguyên văn những gì đã nói trước: “Bất cứ ai bỏ vợ, trừ trường hợp gian dâm”… (Mt. 19:9). Đây là điều quan trọng. Chúa nói hai lần giống nhau về cùng một sự việc, không phải “nói qua rồi bỏ”, Giáo Hội không thể bỏ qua.

Trên một website chính thức khác của Công Giáo nói về ly dị, foryourmarriage.org/divorce, có liệt kê Phúc Âm theo Thánh Matthew, nhưng chỉ là (Mt. 19:3-6), bỏ câu quan trọng (Mt.5:32), và cả câu được lập lại (Mt.19:9): “Trừ trường hợp gian dâm, ai bỏ vợ lấy vợ khác là mang tội ngoại tình”. Qua câu này, ý Chúa đã rõ ràng: ”Trừ trường hợp gian dâm, bỏ vợ là mang tội”. Vậy, nếu có gian dâm, bỏ vợ là vô tội, nghĩa là được phép, trái hẳn với giải thích của Giáo Hội: “Chính Chúa đã dậy rằng hôn nhân là thường trực” .(Jesus himself taught that marriage is permanent). Đây là kiểu giải thích thiếu trung thực.

Ngoài ra, Giáo Lý Công Giáo, (Catechism of the Catholic Church, Second Edition.Citta del Vaticano, Rome: Libreria Edetrice Vaticana, 1997), do Vatican công bố qua mạng marysadvocates.org/catechism, cũng giải thích lời Chúa không đúng với Phúc Âm. Ví dụ, Giáo Lý điều 2382 nói rằng: “Chúa Giê-Su đã nhấn mạnh về ý định ban đầu của Tạo Hoá rằng hôn phối không thể xoá bỏ được. Người đã loại những điều lỡ lầm có trong Luật cũ. Giữa người đã rửa tội, ‘một cuộc hôn nhân đã được chứng thực và thành tựu (vợ chồng đã giao hợp) không thể bị huỷ bỏ bởi bất cứ quyền lực loài người nào hay vì bất cứ lý do nào ngoài sự chết’” (The Lord Jesus insisted on the original intention of the Creator who willed that marriage be indissoluble. He abrogates the accommodations that had slipped into the old Law. Between the baptized, “a ratified and consummated marriage cannot be dissolved by any human power or for any reason other than death’”. Như đã trình bầy, Đức Giê-Su từng nói rõ, Người đến không phải để loại bỏ Luật cũ. Người cũng không nói hôn nhân chỉ có thể huỷ bỏ bằng sự chết. Dù Người không chấp nhận cho những kẻ “lòng chai dạ đá” bỏ vợ bất cứ lúc nào để lấy vợ khác, nhưng Người chấp nhận chồng được bỏ vợ, vì lý do gian dâm. Rõ ràng Giáo Lý Công Giáo La Mã đã không theo đúng Phúc Âm, và diễn dịch không đúng lời Chúa.

Theo luật Giáo Hội, không có chuyện ly dị. Chỉ có thể tiêu huỷ hôn phối, gọi tắt là “tiêu hôn” (annulment). Ly dị là hôn nhân đã thành, hợp pháp, nhưng rồi vì lý do nào đó, không thể tồn tại, vợ chồng chia tay. Tiêu hôn, là hôn nhân tưởng như đã thành. Nhưng tưởng vậy mà không phải vậy. Khi tìm ra khuyết điểm, nếu chứng tỏ điều này quan trọng đến mức, nếu biết trước, hôn nhân không thể thành. Ví dụ, không thể hành xử nghĩa vụ vợ chồng (không đủ khả năng giao hợp), đã có gia đình, không được tự ý ưng thuận, kể cả bị bắt buộc, hay yếu kém về tinh thần (non-consummation of the marriage or bigamy; full and free consent for the marriage was not given, including forced unions or emotional or mental incapacity). Khi ấy, toà án hôn phối của Giáo Hội sẽ xử cho tiêu huỷ hôn nhân; coi cuộc hôn nhân như chưa bao giờ có, hai vai chính như chưa hề kết hôn.

Tóm lại, theo luật đời, người dân có thể ly dị, hay ly hôn. Theo luật đạo Công Giáo, chỉ có thể tiêu hôn, nếu có lý do chính đáng. Trên nguyên tắc, ly dị có vẻ dễ hơn tiêu hôn. Nhưng tiêu hôn, thuộc thẩm quyền Giáo Hội; những gì thuộc về Giáo Hội, chỉ có Chúa biết, dễ hay khó, tuỳ từng trường hợp. Chúa bảo người giầu vào nước Thiên Đàng, khó hơn lạc đà chui qua lỗ trôn kim. Nhưng người có thế lực dưới Thế, đôi khi tiêu hôn dễ hơn cây kim qua lỗ trôn lạc đà.

Một vụ tiêu biểu: Joseph Patrick Kennedy II, sinh năm 1952, con trai cả cố Nghị Sĩ Robert Kennedy, cháu Tổng Thống Kennedy; vợ là Sheila Rauch Kennedy, hai người thành hôn đầu năm 1979. Kết hôn sau chín năm quen thuộc và tìm hiểu. Kennedy, dòng dõi Công Giáo nhiều đời. Rauch, gốc Tin Lành, đồng ý dưỡng dục con theo Công Giáo, lễ cưới tại nhà thờ Công Giáo, có cả mục sư Tin Lành tham dự. Ban đầu, cuộc hôn nhân rất hạnh phúc, có hai con trai sinh đôi cuối năm 1980. Năm 1986, Kennedy đắc cử dân biểu Quốc Hội liên bang. Nhiệm vụ mới bắt phải rời nhà, công việc chính tại Washington, trong khi vợ và hai con vẫn sống tại Boston. Kennedy thân tình với một trong các phụ tá của mình, cô Anne Elizabeth Kelly. Năm 1991, hai vợ chồng Kennedy đồng ý chính thức ly dị, theo luật đời.

Hai năm sau, 1993, một hôm Sheila Rauch nhận được văn thư chính thức gửi tới nhà, mang con dấu của Giáo Phận Công Giáo Boston. Nội dung cho biết Kennedy, chồng cũ của bà đang chuẩn bị xuất hiện trước Toà Án Giáo Hội, để thề rằng, mối liên hệ giữa hai người trước đây chưa bao giờ là một cuộc hôn nhân thực sự. Để có thể lấy vợ khác theo phép đạo, Kennedy tự ý vận động tiêu hôn, không hề cho vợ cũ biết.

Đằng nào cũng đã ly dị theo luật đời, nhưng Sheila không thể chấp nhận ý niệm coi cuộc hôn nhân giữa hai người trước đây như không có, chưa bao giờ tồn tại. Nếu coi cuộc hôn nhân như chưa từng có, hai con ở đâu ra? Con hoang? Hơn nữa, hai người quen nhau chín năm trước khi cưới, không thể nói chưa tìm hiểu đủ, hay bị ép buộc. Lý do Kennedy đưa ra để xin tiêu hôn, là “thiếu khả năng tinh thần để kết hôn vào thời gian đám cưới” (mentally incapable of entering into marriage at the time of his wedding). Một sự dối trá được khuyến khích!

Kennedy và Anne Elizabeth Kelly lấy nhau theo luật đời cuối năm 1993. (Theo luật đạo, cả hai người này đều phạm tội ngoại tình). Ba năm sau, 1996, mặc dầu Sheila chống đối, Toà Hôn Phối Giáo Phận Boston vẫn xử cho tiêu huỷ hôn nhân giữa Sheila Rauch và Joseph Kennedy. Cùng với một số bạn hậu thuẫn, Sheila viết cả một cuốn sách để chống đối: Shattered Faith: A Woman’s Struggle to Stop the Catholic Church from Annulling Her Marriage (Đức tin đổ vỡ: Cuộc tranh đấu của một phụ nữ để chặn Giáo Hội Công Giáo tiêu huỷ hôn nhân của mình). Mặc dầu có thể kháng cáo ở Toà hôn phối trên đất Mỹ, Sheila đã chống án thẳng tới Toà Thánh ở Roma. Mười năm sau, Toà Roma xử, lật ngược bản án tiêu hôn cùa Toà Boston. Sheila Rauch phải đợi thêm một năm nữa, 2007, mới được chính thức cho biết mình thắng kiện.

Đây là một vụ tiêu biểu đáng chú ý, vừa ly dị theo luật đời, vừa tiêu hôn theo luật đạo. Đằng nào vợ chồng cũng chia tay. Theo luật đời, sự việc diễn ra êm thấm, ôn hoà, dựa trên thực tế. Cuộc hôn nhân chấm dứt do lựa chọn của đôi bên. Theo luật đạo, khuyến khích sự giả dối, toà dưới xử theo sự giả dối. Luật đời xử theo hoàn cảnh và nhu cầu của hai bên đương sự. Luật đạo, xử theo chiều hướng phù thịnh, bất công. Nếu Kennedy không thuộc gia đình giầu có và thế lực hàng đầu ở Boston, liệu giáo phận Boston có dễ dàng xử tiêu hôn theo yêu cầu của Kennedy? Sheila Rauch cũng có khả năng, thế lực, tạo được hậu thuẫn, và kiên trì 10 năm chống án tại Toà Thánh La Mã. Nếu thuộc loại thấp cổ bé miệng, liệu có thay đổi được bản án tiêu hôn của Tribunal Boston? Tôn giáo đề cao sự thật và lòng vị tha, trong khi quyết định trên sự giả dối và lòng vi kỷ. Đời có đạo đức giả, đạo cũng có giả đạo đức!

Vụ tiêu hôn giữa Kennedy và Rauch, tuy tiêu biểu, nhưng không phải duy nhất. Một bài báo của Michael Paulson trên New York Times ngày 24 tháng 01, 2015, cho biết vài chi tiết khác liên hệ tới người Công Giáo ly hôn. Bài báo cho biết, theo nghiên cứu của Georgetown University, một đại học Công Giáo ở Washington, có khoảng 28 phần trăm người Công Giáo ly dị. Tỷ lệ này thấp hơn quần chúng nói chung, nhưng tổng số cũng tới 11 triệu người. Trong số này, chỉ có 15 phần trăm làm thủ tục xin tiêu hôn. Tại sao ít người xin tiêu hôn? Bài báo cho biết, có người cảm thấy thủ tục xin tiêu hôn dễ dàng, không có gì đáng phàn nàn. Nhưng, bà Denise Stookesberry, 58 tuổi, ở St. Louis, nói: “Bạn đối phó với người chồng lạm dụng thuộc phái nam, rồi bạn phải tới một người nam để xin tiêu hôn, và một đám người nam ngồi tại bàn để quyết định liệu ý định của bạn có đúng không. Chắc chắn tôi là một phụ nữ lạc lõng”.

Vẫn theo bài báo trên, bà Andrea Webb, 47 tuổi, ở Palm Harbor, Florida, người không còn đi nhà thờ nữa, sau khi thấy rằng chỉ có thể đạt được quyết định tiêu hôn, nếu bà chỉ trích chồng cũ của mình, theo chiều hướng bà không tin đó là sự thật. Sau khi bà lấy chồng khác, mặc dù hôn nhân cũ không được tiêu huỷ, một linh mục cho biết bà trong tình trạng người phạm tội ngoại tình, nên không được chịu lễ. Bà cho hay, bà rất buồn rầu khi một linh mục bà biết, bị tố cáo lạm dụng thiếu niên. Bà nói: “Tôi không xứng đáng được chịu lễ, và người cho chịu lễ là một kẻ quấy nhiễu tình dục (molester). Có vẻ bất công kinh khủng!”

Một người khác, bà Carol Trankle, 72 tuổi, ở Rapid City, S.D., người đã bỏ đi nhà thờ từ 40 năm trước. Bà nói: “Tôi đã kết hôn – Tôi đã bước vào hôn nhân với ý định đúng, và nói khác đi là gian dối”.

***

Vào đầu thế kỷ này, hàng năm Giáo Hội Công Giáo Mỹ xử cho tiêu hôn khoảng sáu chục ngàn vụ, nghĩa là 60.000 cặp ly hôn, liên hệ tới 120.000 người. Với 11 triệu người Công Giáo ly dị, mỗi năm chỉ có hơn một trăm ngàn người được tiêu hôn theo phép đạo. Hàng chục triệu người còn lại, nếu tái hôn, bị coi như sống trong tình trạng tội lỗi. Dù không chính thức bỏ đạo, họ cũng không còn, hoặc không thể gắn bó với Giáo Hội nữa. Dù cương quyết cấm ngừa thai, Giáo Hội cũng khó bù nổi số suy giảm. Đấy là chuyện nước Mỹ, được coi như đạt tỷ lệ tiêu hôn cao nhất, chiếm 49 phần trăm trên toàn thế giới, theo thống kê 2011. Các nước khác thấp hơn nhiều: Ba Lan 6.4%, Brazil 5.6%, Ý 5.1%.

Tại một nước như Việt Nam, tiêu hôn còn hiếm hoi hơn nữa. Trước 1975, trong đại gia đình người viết này, có một cô cháu tàn đời vì không thể tiêu hôn. Lấy chồng từ thuở 15, chồng là thành viên Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo. Mới cưới được một tuần, chồng mất tích sau một trận đánh. Cô dâu thiếu niên theo gia đình mình di cư vào Nam. Bà mẹ, vốn sùng đạo, chỉ sợ, nếu có “chuyện gì” sẩy ra, không những con “mất linh hồn”, cha mẹ cũng bị “vạ lây”. Trong hai chục năm, bà đã đi khắp nơi, từ đồng bằng tới cao nguyên, cố tìm nhân chứng về số phận của chàng rể một tuần, để, nếu còn hy vọng tái hợp, con bà sẽ an phận đợi chờ; nếu chẳng may hết hy vọng, cũng đủ điều kiện giải thoát cho con. Lần bôn ba sau cùng, bà mang con út mới mấy tháng đi theo, lên Đà Lạt tìm nhân chứng. Trở về tay trắng: Nhân chứng không có, ít hôm sau, con nhỏ qua đời vì cảm lạnh!

Người viết cũng có chút kinh nghiệm bản thân về chuyện ngừa thai. Đầu thập niên 70 thế kỷ trước. Thời gian sau khi Tông Thư Humanae Vitae được phổ biến, người viết có một bài trên báo Hoà Bình, nêu ra một số nhận định trái chiều về văn kiện quan trọng này. Linh Mục Trần Du, gọi điện thoại phàn nàn, đại ý, Cha là Giáo Sư Đại Chủng Viện, dậy những người sắp làm linh mục, mà báo do Cha làm chủ nhiệm, có bài đi ngược với đường lối của Toà Thánh. Cha yêu cầu viết một bài khác, để hoá giải nội dung bài trước. Tôi lễ phép thưa với cha rằng, điều đó không thể được. Tôi không chống ai, chỉ trình bầy quan điểm của mình, sau khi đã suy nghĩ kỹ. Đồng thời, cũng trình bầy thêm về những điều khó chấp nhận qua nội dung Tông Thư. Ví dụ, nếu Giáo Hội quan niệm cấm ngừa thai là đúng, là mục tiêu chính, thì cho áp dụng phương pháp Knaus-Ogino là mâu thuẫn. Là ngừa thai trá hình. Ngừa thai không cần thuốc hay phương tiện. Vẫn là ngừa thai! Cha Du gắt lên: “Không ‘Gino gi niếc’ gì hết! Vợ chồng ngủ với nhau phải nhằm mục đích sinh con. Không muốn có con, thì nhịn. Có vậy thôi!” Cũng may, sau đó, Cha không bị Toà Giám Mục làm phiền. Nội vụ rồi cũng êm.

Trong khi ấy, Linh Mục Nguyễn Quang Lãm, bút hiệu Thiên Hổ, vốn là chủ nhiệm báo Xây Dựng đã đóng cửa, vì không có 20 triệu ký quỹ theo luật báo chí mới của Tổng Thống Thiệu, sang cộng tác với Hoà Bình. Cha Lãm nói với tôi: “Mày nói đúng, nhưng tao không thể viết bài bênh mày trên báo. Vì tao là linh mục”. Cha còn đồng ý ở điểm, cho ngừa thai không coi thường phụ nữ, mà còn cần thiết. Cha nói: “Trừ những người đi tu từ bé, hay chưa bao giờ kết hôn, với phụ nữ, khi đã biết rồi, ‘cái đó’ cũng cần. Nếu ít lâu không có, ngứa ngáy khó chịu lắm”. Một ý nghĩ vụt qua: “sao Cha biết”, nhưng không giám hỏi.

Tháng Tư 1975, vợ con đi Mỹ trước, cùng nhạc phụ và nhạc mẫu. Cả nhà được Giáo Xứ Công Giáo Blessed Sacrament bảo trợ, với lý do ưu tiên gia đình đông con. Giám Mục Thomas Welsh của Địa Phận Arlington ra tận phi trường Dulles đón. Cha chính xứ Anthony Just cũng có mặt; sau này, Cha được Toà Thánh phong chức Giám Mục. Ngày 13 tháng 6, 1975, tôi được gặp lại gia đình, mừng như sống lại. Ban Bảo Trợ của Xứ Đạo gửi tới một món quà mừng. Gồm chai xâm banh (champagne), và một gói nhỏ; bên trong là một tá Trojan.

Trong niềm vui phấn khởi, thoáng nghĩ tới Tông Thư của Đức Thánh Cha Phao Lồ. Chắc bên Mỹ không cấm!

bài đã đăng của Đinh Từ Thức


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)