Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Ly Hương (kỳ 1)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 22.01.2018

Nguyên tác “Leaving Maverley” trong tuyển tập truyện ngắn Dear Life (Cuộc Đời Yêu Dấu) của Alice Munro

 

image for Leaving Maverley

Ngày trước, mỗi thị trấn có một rạp chiếu bóng. Ở Maverley cũng có một rạp như thế, tên là Thủ đô, cái tên thường gặp thời ấy. Morgan Holly là chủ rạp, cũng là người điều khiển máy chiếu phim. Ông không ưa giao dịch với công chúng – chỉ ưa ngồi ở tầng trên trong góc nhỏ để điều khiển câu chuyện trên màn hình – vì vậy ông lấy làm bực mình khi cô bé đứng thu vé vào cửa cho ông biết cô sẽ nghỉ việc vì sắp có con. Thật ra ông có thể dự kiến điều này – vì cô lập gia đình đã nửa năm, và vào thuở đó bạn nên biến mất khỏi công chúng khi bụng bạn bắt đầu to ra – nhưng ông chủ vốn không thích thay đổi và chỉ riêng ý tưởng về việc nhân viên có thể có đời sống riêng tư làm ông rất ngạc nhiên.

May thay, cô nhân viên sắp nghỉ việc kiếm được cho ông một người thay thế. Một cô gái sống giữa phố có lần nói rằng cô muốn có công việc buổi tối. Cô không thể làm ban ngày vì còn phải giúp mẹ coi em. Thông minh đủ để chu tất công việc, mặc dù đó là một cô bé hay xấu hổ.

Morgan bảo chuyện đó tốt thôi –ông không muốn thuê một người thu vé đứng tán dóc huyên thuyên với khách hàng.

Vậy cô bé đến. Tên là Leah, câu hỏi đầu tiên và cuối cùng ông chủ hỏi cô là cái tên ấy có nghĩa gì. Cô nói rằng tên cô có nguồn gốc kinh thánh. Ông chủ nhận thấy cô không hề trang điểm và mái tóc dính chặt vào đầu, giữ ở đó bằng những cái kẹp. Ông hơi lo lắng, trong một lúc, liệu cô có đủ mười sáu tuổi chưa và có thể làm việc hợp pháp không, nhưng quan sát kỹ ông nhận thấy điều đó có thể là sự thật. Ông bảo cô sẽ làm việc mỗi ngày một suất phim, bắt đầu từ lúc tám giờ vào mỗi đêm trong tuần và hai suất, bắt đầu từ bảy giờ, các tối thứ bảy. Sau khi đóng cửa, cô sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra tiền vé thu được và khóa cất vào tủ.

Một vấn đề rắc rối còn lại: cô nói rằng cô có thể đi bộ về nhà vào những đêm trong tuần nhưng sẽ không được phép làm thế vào tối thứ Bảy, và cha cô không thể tới đón cô, vì ông cũng có việc ban đêm ở nhà máy xay lúa mì.

Morgan bảo ông không biết chuyện gì khiến cô phải sợ hãi ở một nơi như thế này, suýt nữa đã cho cô nghỉ việc, rồi nhớ ra có một người cảnh sát làm việc về đêm thường tranh thủ vài phút ghé rạp coi ké một đoạn phim. Có thể anh ta giúp được trong việc đưa Leah về nhà.

Cô bảo sẽ hỏi ý cha mình.

Cha cô đồng ý, nhưng kèm một vài điều kiện khác. Leah không được phép nhìn vô màn hình hay lắng nghe các đối thoại trong phim. Tôn giáo của gia đình không cho phép thế. Morgan liền bảo ông không thuê những người đi thu vé để họ tự do coi phim. Còn đối với các đối thoại phim, ông nói dối rằng rạp chiếu bóng có hệ thống cách âm.

Ray Elliot, cảnh sát viên, đã nhận làm ca đêm để rảnh tay giúp vợ một số việc ban ngày. Anh có thể ngủ bù khoảng năm giờ vào buổi sáng và chợp mắt một lát cuối chiều. Thường thời gian chợp mắt chẳng được là bao vì một số công việc phải làm hoặc vì anh và vợ anh, Isabel, cần trò chuyện. Họ không có con và thích trò chuyện với nhau về mọi thứ. Anh kể cho vợ nghe những tin tức của thị trấn, làm cô phá lên cười, và cô kể cho anh nghe những cuốn sách vừa đọc.

Ray tham gia chiến tranh vừa lúc mười tám tuổi. Anh chọn không quân, một binh chủng từng hứa hẹn, như người ta nói, về giấc mộng phiêu lưu và về cái chết mau lẹ. Anh là xạ thủ ở tầng trên – một vị trí mà Isabel không bao giờ tưởng tượng được rõ ràng – nhưng anh đã sống sót. Gần cuối chiến tranh anh được chuyển đến đơn vị mới, và chỉ trong vài tuần, phi hành đoàn cũ của anh, đồng đội mà anh đã bay nhiều lần với họ, bị bắn hạ và mất tích. Anh trở về quê với ý tưởng khá mơ hồ về việc cần làm, sao cho chúng thật có ý nghĩa với khoảng đời còn lại dành cho anh như một định mệnh, thật may mắn kỳ lạ, nhưng anh chưa biết đó là việc gì.

Trước hết anh phải học xong bậc trung học. Ở thị trấn nơi anh lớn lên có một trường đặc biệt dành cho cựu chiến binh, những người cố gắng hoàn tất trung học để thi vào đại học, nhờ công lao đóng góp của những người dân địa phương muốn tỏ lòng biết ơn các chiến sĩ. Giáo sư dạy Anh văn và văn học chính là Isabel. Cô ba mươi tuổi và đã có gia đình. Chồng cô cũng là một cựu chiến binh, nhưng có cấp bậc cao hơn hết thảy các học sinh trong lớp cô. Cô dự định đi dạy một năm ở trường này như một phương cách bày tỏ lòng yêu nước của mình, rồi sau đó xin nghỉ và xây dựng tổ ấm gia đình. Cô thảo luận công khai điều này với học sinh, bọn họ cũng nói với nhau, mà cô nghe được, rằng có một anh chàng nào đó có số quá là may.

Ray không thích nghe mấy chuyện ấy, vì lý do anh đã đem lòng yêu cô. Và cô cũng yêu anh, chuyện này xem ra còn đáng ngạc nhiên hơn nữa. Đó là một điều vô lý đối với nhiều người, trừ chính họ. Một cuộc ly dị – một vụ tai tiếng đối với gia đình cô, vốn thân mật và gần gũi, sự choáng váng đối với người chồng, kẻ lúc nào cũng muốn lấy cô làm vợ từ khi họ hãy còn thơ ấu. Ray ở vào hoàn cảnh dễ dàng hơn cô, bởi vì anh không có nhiều người trong gia đình để trò chuyện, và những người mà anh đã báo tin thì họ tự thấy mình không đủ xứng đáng với anh vì nay anh đã lập gia đình với kẻ cao sang, và anh cũng muốn tránh mặt họ trong tương lai. Nếu họ chờ ở anh một sự phủ nhận hay một lời bảo đảm nào đó, điều chờ đợi ấy không đến. Đối với Ray mọi chuyện đều có thể chấp nhận được, dù ít hay nhiều. Thời gian bắt đầu trở lại, tươi rói. Isabel bảo cô sẽ tiếp tục dạy học cho đến khi Ray xong đại học và ổn định trong bất cứ công việc nào mà anh dự định làm.

Nhưng kế hoạch thay đổi. Cô mắc bệnh. Thoạt đầu họ nghĩ đó là do suy sụp tinh thần. Sự xáo trộn đời sống. Cơn điên rồ kia.

Nhưng cơn đau đến. Đau bất cứ khi nào cô hít thở sâu. Đau dưới xương ức và bên vai trái. Cô lờ nó đi. Cô nói đùa về chuyện Thượng đế trừng phạt mình, về những hành vi phiêu lưu mạo hiểm và bảo Thượng đế chỉ mất thì giờ vì cô cũng chẳng tin tưởng mấy vào ngài.

Cô mắc một bệnh gọi là viêm màng ngoài tim. Đó là bệnh trầm trọng nhưng cô cứ để mặc thế cho đến khi suy kiệt. Mặc dù bệnh ấy không thể chữa lành nhưng vẫn có thể kiểm soát được, với ít nhiều khó khăn. Cô không đi dạy được nữa. Các bệnh nhiễm trùng đều nguy hiểm, và bệnh nhiễm trùng nào mà không lan tỏa nhanh trong lớp học? Ray trở thành người nuôi cô, và anh nhận công việc làm cảnh sát ở trong thị trấn nhỏ này, tên là Maverley, ngay gần biên giới. Anh không ngại làm việc, và cô, sau một thời gian, cũng không ngại về cuộc đời trở thành nửa quy ẩn của mình.

Có một điều họ không đề cập bao giờ. Mỗi người đều tự hỏi liệu người kia có lo buồn không nếu họ không có con. Dường như đối với Ray sự thất vọng có can dự đến việc Isabel tỏ ra muốn biết tất cả về cô gái mà anh có nhiệm vụ đưa về nhà tối thứ bảy.

“Chuyện đó thật đáng trách,” cô nói khi nghe về sự cấm đoán coi phim, và cô cảm thấy còn khó chịu hơn nữa khi anh bảo rằng cô gái kia bị buộc phải thôi học để ở nhà giúp cha mẹ.

“Và anh bảo rằng con bé thông minh.”

Ray thì không nhớ mình đã nói thế với vợ, anh có bảo là cô bé trông hay ngượng ngùng kỳ quặc, vì vậy khi hai người đi bộ về nhà, anh phải nặn óc ra để tìm cách trò chuyện. Một vài câu anh nghĩ ra được tỏ vẻ không tác dụng. Chẳng hạn như cô bé thích học môn nào nhất ở trường? Chuyện ấy phải được dùng ở thì quá khứ, và vì vậy cũng chẳng quan trọng chi việc cô bé có thích hay không. Hoặc, cô muốn làm gì khi lớn lên sau này? Thì cô đã lớn lên rồi, với tất cả những dự định và mục đích, và công việc của cô cũng đã được thu xếp xong, dù cô thích hay không. Cũng thế với câu hỏi cô có thích thị trấn này không, và liệu sau này đến một nơi nào khác cô có nhớ đến nó không – chẳng có ý nghĩa gì. Và hai người đã nói hết chuyện mà không đi vào chi tiết về tên gọi và tuổi tác của những đứa em trong gia đình cô. Khi anh hỏi thêm về mấy con chó và mấy con mèo, cô báo cáo với anh rằng cô chẳng nuôi một con thú nào cả.

Cuối cùng cô có một câu hỏi dành cho anh. Cô hỏi khán giả cười cái gì khi họ coi phim trong rạp tối hôm ấy.

Anh không nghĩ rằng anh cần phải nhắc cô về việc cô không nên lắng nghe truyện phim. Nhưng anh không thể nào nhớ được họ đã cười về chuyện gì. Vì vậy anh bảo là có những chuyện ngốc nghếch – thật ra cũng khó mà biết được khán giả cười chuyện gì. Anh nói anh không quan tâm nhiều lắm đến các cuốn phim, chỉ coi để coi vậy thôi, đoạn này đoạn khác. Anh hiếm khi theo dõi các cốt truyện.

“Cốt truyện,” cô nói.

Anh phải giải thích cho cô cốt truyện (1) nghĩa là gì – là cách những câu chuyện được kể lại. Từ hôm đó việc trò chuyện không còn khó khăn nữa. Anh cũng không cần phải nhắc nhở cô tốt nhất là không nên kể lại những chuyện gì khi về nhà. Cô hiểu. Anh không cần phải kể những chuyện cụ thể lắm- mà anh cũng không làm được – nhưng chỉ để giải thích về chuyện về những nhân vật xấu xa và những người ngây thơ vô tội, những kẻ xấu mới đầu rất khôn ngoan để thực hiện hành vi phạm tội và lừa cho người ta đi hát trong các câu lạc bộ về đêm (giống như các vũ trường) hoặc đôi khi, chỉ Chúa mới biết tại sao, hát trên những đỉnh núi hoặc trong những khung cảnh ngoài trời xa lạ và những hành động tiếp theo. Đôi khi phim có màu. Với những trang phục lộng lẫy nếu chuyện kể về quá khứ. Những diễn viên ăn mặc đẹp đóng trò giết người trên sân khấu. Nước mắt hóa học chảy dài trên gò má các thiếu nữ. Những con thú trong rừng rậm được mang lên sâu khấu từ sở thú, và bị chọc tức đến tức giận điên cuồng. Những người ngồi dậy sau khi bị giết chết bằng nhiều cách khác nhau, lúc ống kính không chĩa về phía họ. Sống và khỏe mạnh, mặc dù người ta vừa nhìn thấy họ bị bắn hạ hoặc đặt đầu lên tấm ván của đao phủ thủ, đầu họ lăn lông lốc.

“Anh nên nhẹ nhàng thôi,” vợ anh nói. “Anh có thể làm cho con bé ấy bị ác mộng.”

Ray bảo nếu thế thì anh sẽ ngạc nhiên. Và rõ ràng con bé có cách để hình dung ra vấn đề, hơn là chỉ bị cảnh giác và bị làm cho hoảng loạn. Ví dụ, cô chẳng bao giờ hỏi cái tấm ván của người đao phủ thủ trông ra sao hoặc tỏ ra ngạc nhiên về chuyện có những cái đầu lăn trên đó. Cô bé có một cái gì đó, anh bảo vợ, một điều gì đó làm cho cô muốn hấp thu hết những điều anh bảo, thay vì sợ hãi hoặc mê đắm hoang đường về những chuyện ấy. Một cách nào đó anh nghĩ cô bé đã hoàn toàn tự mình cách ly khỏi gia đình. Không phải tỏ ra khinh miệt hay không tử tế. Cô chỉ trầm tư suy nghĩ một cách sâu xa.

Rồi anh lại nói về việc anh cảm thấy có lỗi nhưng không biết tại sao.

“Cô bé không có một xu hướng hướng thượng, cách này hay cách khác.”

“Thế thì chúng ta sẽ bắt cóc nó đem đi,” Isabel bảo.

Anh cảnh cáo cô. Hãy nghiêm túc chứ em.

“Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện ấy.”

Không lâu sau lễ Giáng sinh (dù trời chưa lạnh lắm), ông chủ rạp Morgan tới trạm cảnh sát vào lúc nửa đêm, giữa tuần, để báo hung tin Leah mất tích.

Hôm đó cô bán xong vé như thường lệ, đóng các cửa sổ, đặt tiền vào nơi cần đặt, và rời chỗ làm việc về nhà, như ông biết. Chính ông cũng đã chuẩn bị xong các việc của mình khi buổi chiếu kết thúc, nhưng khi bước ra ngoài, một người đàn bà mà ông không hề biết bỗng xuất hiện hỏi chuyện gì đã xảy ra với Leah. Đó là người mẹ – mẹ của cô bé Leah. Người cha vẫn còn mãi ở nơi làm việc chỗ máy xay và Morgan nghĩ rằng cô bé có thể tới đó và gặp cha mình. Người mẹ dường như không biết ông nói điều gì, vì vậy ông đưa bà đến chỗ máy xay xem thử cô bé có ở đó không nhưng người mẹ khóc và xin ông đừng làm chuyện gì tương tự như thế. Thế rồi Morgan lái xe đưa bà về nhà, nghĩ cô bé bây giờ cũng đã trở về, nhưng thật không may, nên ông nghĩ tốt nhất mình đi tìm viên cảnh sát và thông báo.

Morgan ngần ngại phải mang tin dữ tới người cha.

Ray bảo họ có thể cùng đi tới nhà máy xay – một cơ hội mong manh sẽ gặp cô ta ở đó. Nhưng tất nhiên khi họ tìm được người cha, ông ta chẳng hề thấy cô đâu và ông ta lại tức điên lên về chuyện vợ mình dám bỏ nhà đi khơi khơi mà không có phép của ông.

Ray hỏi xem tin tức ở bạn bè của Leah nhưng không lấy làm ngạc nhiên khi biết rằng cô bé chẳng hề có bạn. Anh để Morgan về nhà và tự mình tới nhà của cô nơi người mẹ trong tình trạng gần như mất trí, như Morgan đã kể lại. Những đứa trẻ vẫn còn thức, hay một số đứa, chúng sững sờ câm lặng. Chúng run lên hoặc vì sợ hãi hoặc vì hiểu lầm trước một người lạ xuất hiện trong nhà hoặc là vì khí trời lạnh mà Ray nhận ra đang từ từ dâng lên ngay cả bên trong nhà. Có thể người cha đã đặt ra những quy luật về chuyện sưởi ấm trong gia đình.

Leah ra đi mặc một cái áo choàng mùa đông – đó là tất cả những gì anh biết khi trò chuyện với họ. Anh biết cái áo choàng nâu cũ trùm xuống như cái túi vải và nghĩ là nó cũng làm cho cô bé ấm được một lúc. Từ lúc Morgan xuất hiện cho đến giờ này, tuyết đã bắt đầu rơi thêm, mỗi lúc một dày.

Khi giờ làm việc hết, Ray về nhà và kể cho vợ nghe chuyện xảy ra. Rồi anh bước ra ngoài nhưng cô không tìm cách ngăn cản anh.

*

Một giờ sau Ray trở về, không có kết quả gì, rồi tin tức về việc các xa lộ sắp bị đóng do một cơn bão tuyết lớn.

Sáng hôm sau, quả nhiên cảnh tượng bão tuyết; cả thành phố lần đầu trong năm bị đông cứng lại, con đường chính là nơi duy nhất các xe ủi tuyết tìm cách để mở đường. Tất cả cửa tiệm đều đóng cửa, và ở khu vực nhà của Leah điện bị mất và không ai có thể làm gì để sửa chữa nó. Gió thổi quật ngã những thân cây xuống, như thể chúng đang tìm cách quét dọn sạch sẽ mặt đất.

Viên cảnh sát làm ban ngày nghĩ ra một việc mà Ray không nghĩ tới. Anh ta thường đi lễ nhà thờ và biết – hoặc vợ anh ta biết – rằng Leah đến ủi áo quần hàng tuần cho vợ ông mục sư. Anh và Ray tới nhà thờ để hỏi xem có tin tức về cô bé, nhưng không có tin tức gì, và sau giây phút bùng lên ngắn ngủi của hy vọng, mọi chuyện dường như đen tối hơn.

Ray hơi ngạc nhiên vì cô bé làm một công việc khác mà cô không hề nhắc tới. Mặc dù vậy, so sánh với việc ở rạp chiếu bóng, công việc ấy cũng không có vẻ gì là một sự thám hiểm bí mật.

Anh gắng ngủ một lúc vào buổi chiều và quả thật đã ngủ một hoặc hai giờ. Isabel cố gắng trò chuyện khi họ ăn tối nhưng chuyện trò không đi đến đâu. Ray vẫn nhắc đi nhắc lại về cuộc thăm viếng vị mục sư, rằng người vợ thật lo âu, tìm mọi cách giúp đỡ, trong khi ông ta – ông mục sư – thì cư xử không thích đáng như Ray hằng nghĩ. Ông ta mở cửa một cách khó chịu như thể bị làm phiền trong khi đang viết một bài giảng hay làm một việc gì tương tự. Ông gọi người vợ và khi đến bà đã phải nhắc ông về cô gái. Cố nhớ ra một cô gái đã từng tới nhà hàng tuần để ủi đồ? Leah? Rồi vị mục sư nói rằng ông hy vọng sẽ có tin tức sớm trong khi tìm cách để gài lại cánh cửa bị gió đập ra đập vào.

“Vậy chứ ông ta phải làm sao bây giờ?” Isabel nói “Cầu nguyện sao?”

Ray nghĩ chuyện đó cũng không phải là dở.

“Điều đó chỉ khiến mọi người bối rối và chứng tỏ sự vô vọng,” người vợ nói. Rồi cô nói thêm rằng ông mục sư kia có lẽ là người hiểu ý nghĩa các vấn đề. Một vài cố gắng để tìm kiếm cô bé được thực hiện. Bất chấp thời tiết xấu. Những căn phòng để đồ ở vườn sau, một chuồng ngựa cũ không dùng nhiều năm bị mở toang ra tìm kiếm phòng khi cô bé ẩn mình. Không có gì mới. Đài phát thanh địa phương thông báo và truyền đi bản mô tả về cô bé mất tích.

Nếu Leah đón xe dọc đường, Ray nghĩ cô có thể lên xe trước khi bão tuyết tới, chuyện ấy có thể tốt mà cũng có thể xấu.

Bản tin phát thanh tả cô người hơi thấp – Ray thì nghĩ ngược lại – và cô có mái tóc thẳng màu nâu. Anh cho là tóc cô bé màu nâu đậm, gần như đen.

Cha cô bé không tham dự vào cuộc tìm kiếm; mấy đứa em trai cũng thế. Tất nhiên những đứa con trai thì nhỏ tuổi hơn cô và chẳng bao giờ ra khỏi nhà nếu không được cha đồng ý. Khi Ray đi vòng quanh nhà rồi đi xuyên qua cửa, một cánh cửa chỉ mở hé, người cha cũng không phí thì giờ kể cho anh nghe rằng đứa con gái thật ra đã bỏ nhà ra đi. Sự trừng phạt của đứa con gái vượt quá mức tưởng tượng của người cha và giờ đây chỉ có Chúa mới biết nó đi đâu. Không ai mời Ray vào nhà để sưởi ấm một lát. Mà có lẽ trong nhà cũng chẳng có lò sưởi.

Cơn bão dịu đi, vào khoảng buổi trưa ngày hôm sau những chiếc xe ủi tuyết bắt đầu dọn dẹp đường phố. Những loại xe ủi tuyết của quận hạt làm việc trên các xa lộ lớn. Những người lái xe được khuyên là nên coi chừng vì họ có thể gặp một xác chết lạnh giá phơi mình giữa các đống tuyết.

Ngày hôm sau nữa, chiếc xe tải chở thư tới nơi mang theo một bức thư. Bức thư không gởi cho bất cứ ai trong gia đình Leah nhưng cho vị mục sư và người vợ. Bức thư của Leah, tường trình rằng cô vừa lập gia đình. Chàng rể chính là con trai của vị mục sư, một người thổi kèn saxophone trong ban nhạc jazz. Anh ta cũng viết thêm vài chữ “Ngạc nhiên Ngạc nhiên” vào cuối bức thư. Hoặc là người ta bảo nhau như thế, mặc dù Isabel thắc mắc là làm sao mọi người đều biết chuyện ấy, trừ khi người ta có thói quen bóc thư ra coi ở bưu điện.

Chàng thổi kèn sax không sống ở thị trấn này khi anh nhỏ tuổi. Lúc ấy cha anh làm việc tại một giáo phận khác. Và anh cũng ít khi về thăm. Không ai kể được nhân dáng anh ra sao. Anh không hề tới dự lễ ở nhà thờ. Đã từng mang về nhà một người phụ nữ cách đây vài năm. Trang điểm và sành điệu. Người ta bảo đó là vợ, nhưng rõ ràng không phải thế.

Cô bé đã tới nhà ông mục sư bao nhiêu lần rồi, ủi là quần áo, khi chàng lãng tử thổi kèn kia cũng ở đó? Một số người tò mò tìm hiểu thêm, có vẻ chỉ một lần thôi. Đó là điều Ray nghe kể ở trạm cảnh sát, nơi những lời đồn đại nở như pháo rang giữa những mụ đàn bà.

Isabel nghĩ đó là chuyện thú vị. Và không phải lỗi ở kẻ trốn nhà đi. Họ cũng không hề là nguyên nhân khiến cơn bão tuyết ập xuống.

Thế rồi chính cô cũng biết vài điều về chàng nhạc sĩ thổi kèn. Cô đã gặp anh tình cờ ở bưu điện một lần, khi anh về thăm nhà và cô đang có một ngày tốt đẹp, cảm thấy khỏe mạnh, muốn ra khỏi nhà. Cô đặt hàng một thứ gì đó như băng nhạc nhưng nó không đến. Anh hỏi cô thứ gì và cô bảo anh. Một điều gì đó mà cô không nhớ được rõ ràng. Anh kể cho cô nghe về sở thích chơi nhạc của anh. Một điều làm cho cô biết chắc rằng chàng thanh niên không phải người địa phương này. Cái cách mà anh nghiêng người vào cô và cái cách mà anh thở ra toàn mùi kẹo cao su thơm ngát hương trái cây. Anh không hề nhắc đến nhà mục sư, nhưng có một người nào đó kể cho cô nghe về mối quan hệ, sau khi anh chào tạm biệt và chúc cô may mắn.

Hơi có một chút tán tỉnh, hay là điều gì như cách chào đón của anh ta. Một điều gì hơi kỳ quặc về chuyện để cho chàng trai lạ tới nhà và đồng ý để anh nghe bản nhạc nếu nó được gởi tới. Cô hy vọng rằng đó chỉ là trò đùa.

Cô trêu Ray, nói rằng liệu có phải vì việc mô tả của anh đối với thế giới rộng lớn qua các cuốn phim đã khiến cho cô bé kia có ý tưởng bỏ nhà ra đi hay không.

Ray không trả lời và cũng không hề tin rằng mình lại rơi vào tâm trạng rối bời, buồn bã đến thế vào thời gian cô bé ấy mất tích. Tất nhiên anh cảm thấy an ủi nhiều khi biết chuyện gì xảy ra cho Leah.

Mặc dù thế, cô bé đã biến mất. Cũng không phải là một chuyện quá sức hiếm hoi hay vô vọng, chỉ là cô ta không còn ở đây nữa. Chán chường, anh thấy mình bị xúc phạm. Như thể cô bé đã trưng ra một hình ảnh mơ hồ về khuôn mặt khác của mình, của đời sống riêng của cô.

Cha mẹ và tất cả những đứa trẻ trong gia đình cô cũng biến mất, và chẳng ai biết họ đi về đâu.

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Alice Munro


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)