Trang chính » Dịch Thuật, Nhận Định, Sang Việt ngữ, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Văn Chương và Lưu Vong


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 8.07.2016

 

MVL essay cover

Cứ mỗi lần một nhà văn Mỹ Latinh ở Paris được phỏng vấn, một câu hỏi lúc nào cũng hiện ra: ‘Tại sao bạn sống bên ngoài đất nước của mình?’ Đây không chỉ đơn giản là sự tò mò; trong phần lớn các trường hợp, câu hỏi che giấu hoặc một sự sợ hãi hoặc một sự trách móc. Đối với một số người, cuộc sống lưu vong về mặt thể lý của một nhà văn là nguy hiểm, theo nghĩa đen, bởi vì sự thiếu tiếp xúc trực tiếp với phương cách hiện hữu hay phong cách nói năng (hai điều này gần như tương tự) của người dân đất nước mình có thể làm nghèo nàn ngôn ngữ của nhà văn và làm suy yếu hoặc làm sai lệch tầm nhìn của hắn về thực tại. Đối với những người khác, vấn đề này có một ý nghĩa đạo đức: chọn lựa sự lưu vong là vô đạo đức, là một sự phản bội đất nước. Ở những quốc gia mà đời sống văn hóa bị hạn chế hoặc không tồn tại, nhà văn—họ nghĩ—nên ở lại và chiến đấu cho sự phát triển của những sinh hoạt trí tuệ và nghệ thuật hầu nâng cao trình độ tinh thần của đất nước. Nếu thay vì làm như vậy, nhà văn chọn sự đi ra nước ngoài, thì hắn ta được dán ngay nhãn là một con người ích kỷ, một con người vô trách nhiệm hoặc một kẻ hèn nhát (hoặc là cả ba cùng một lúc).

Những câu trả lời của các nhà văn cho câu hỏi không thể tránh khỏi này thường rất đa dạng:

Tôi sống xa đất nước của tôi, vì tôi thấy khung cảnh văn hóa ở Paris, London hay Rome phấn khích hơn; hay bởi vì khoảng cách, thay vì sự chìm đắm trong hiện thực đất nước, mang lại cho tôi một cái nhìn thống nhất và trung thành về thực tại của tôi; hoặc đơn giản chỉ vì tôi muốn thế (tôi đang nói ở đây về những cuộc lưu vong văn học, không phải lưu vong chính trị). Thật sự, tất cả các câu trả lời này có thể được tóm tắt trong một điều: vì tôi thấy mình viết tốt hơn trong cuộc sống lưu vong. Tốt hơn trong trường hợp này nên được hiểu theo nghĩa tâm lý chứ không phải thẩm mỹ: nó có nghĩa là ‘được yên tĩnh hơn’ hoặc ‘có được sự xác tín hơn’. Sẽ chẳng có ai biết là những gì được viết trong cuộc sống lưu vong có phẩm chất tốt hơn không so với những gì được viết trên đất nước mình. Để trả lời cho nỗi sợ hãi rằng sự cách ly vật lý đối với thực tại của một người, về lâu về dài, có thể làm ảnh hưởng đến sáng tạo của người ấy, một nhà văn viết truyện phóng tưởng có thể lập luận rằng thực tại mà những hư cấu của hắn mô tả cũng đi cùng với hắn vòng quanh thế giới bởi lẽ những vị anh hùng có hai đầu, những đóa hồng ăn thịt người và những thành phố thủy tinh của hắn, được trình hiện từ những giấc mơ và những cơn phóng tưởng của hắn, chứ không phải từ bất kỳ sự quan sát nào về thế giới bên ngoài. Và hắn có thể thêm rằng sự thiếu tiếp xúc hàng ngày với ngôn ngữ của đồng bào mình không làm hắn lo lắng hoảng sợ gì; hắn mong muốn thể hiện mình trong một ngôn ngữ không vướng vào màu sắc địa phương, một ngôn ngữ trừu tượng, thậm chí kỳ lạ, mang tính cá nhân không thể nhầm lẫn được, vốn có thể được phát triển thông qua việc đọc sách.

Nhà văn hiện thực thì phải nhờ vào các ví dụ. Nếu chúng ta chỉ lấy trường hợp của văn học Peru, chúng ta có thể đưa ra một danh sách các cuốn sách quan trọng trong đó mô tả diện mạo và linh hồn của Peru một cách trung thực và đẹp đẽ, được viết bởi những con người đã trải qua một số năm tháng sống lưu vong, ba mươi năm trong trường hợp cuốn Comentarios reales của El Inca Garcilaso, và ít nhất là mười hai năm trong trường hợp quyển Poemas humanos của Vallejo. Trong cả hai ví dụ—có lẽ là đáng ngưỡng mộ nhất trong toàn bộ văn học Peru—khoảng cách trong thời gian và không gian không làm suy giảm hoặc xáo trộn cái nhìn về một thực tại cụ thể trong bản chất được hoán chuyển vào những ghi chép và vào những bài thơ đó. Trong văn học Mỹ Latinh, các ví dụ còn thậm chí nhiều hơn nữa. Ngay cả khi các giá trị văn học của những bài thơ [mang vóc dáng ca thi] của Bello có thể gây tranh cãi, tính chính xác trong những miêu tả về cây cối và động vật của ông là không thể bàn luận, và hệ thực vật và động vật mà ông đưa vào những bài thơ chỉ từ ký ức mình khi đang ở tại London đúng là những thảo mộc và muông thú ở châu Mỹ. Sarmiento đã viết những luận văn hay nhất của ông về đất nước mình, FacundoMemorias de provincia, trong khi sống ở rất xa Argentina. Không ai nghi ngờ sáng tác của Marti mang nét dân tộc sâu sắc, cho dù bốn phần năm của nó đã được viết trong cuộc sống lưu vong. Và phải chăng những mô tả về mặt phong tục hay dạng thức văn hóa mang màu sắc chủ nghĩa hiện thực địa phương/vùng miền trong những tiểu thuyết cuối cùng của Blest Gana, được viết nhiều thập kỷ sau khi ông đến Paris, không trung thành với thực tại của Chile bằng những cuốn sách ông viết khi ở Santiago?
Đấy chỉ đơn giản là một danh sách các ví dụ và số liệu thống kê trong trường hợp này để đưa ra một cái nhìn chứ không phải là để trình bày một luận cứ đâu vào đấy. Đó có phải là một dấu chỉ cho thấy lưu vong không làm giảm tính sáng tạo của nhà văn và sự vắng mặt thể lý đối với đất nước của hắn không bao hàm một sự mất mát, hoặc làm giảm giá cái nhìn về thực tại mà những cuốn sách của hắn tìm cách chuyển tải không? Bất kỳ sự khái quát nào về chủ đề này cũng có nguy cơ chết đuối trong sự phi lý. Bởi lẽ chắc chắn là chẳng khó khăn gì trong việc đưa ra nhiều ví dụ đối lập để cho thấy là, trong một số lớn các trường hợp, khi nhà văn rời bỏ đất nước của mình, họ đánh mất đi sự sáng tạo hoặc viết những cuốn sách làm méo mó cái thế giới mà họ cố gắng mô tả. Đối với những thống kê phản chứng này—chúng ta đã ở trong lĩnh vực của sự phi lý—người ta sẽ phải trả lời với một loại ví dụ khác trình hiện số lượng vô số các nhà văn, vốn chẳng bao giờ đặt chân lên một vùng đất xa lạ nào, đã viết những cuốn sách tầm thường hoặc không chính xác về quốc gia mình. Và nói thế nào đây về các nhà văn mà tài năng đã được chứng minh, vốn không hề sống lưu vong, đã viết các tác phẩm không phản ánh thực tại của đất nước họ? Jose Maria Eguren đã không cần phải rời khỏi Peru để mô tả một thế giới của những nàng tiên Bắc Âu và những câu truyện kỳ bí (như Bolivia Jaime Freyres, và Julian del Casal, những người, trong khi sống ở Cuba, đã viết chủ yếu về Pháp và Nhật). Họ không sống lưu vong một cách thể lý, nhưng văn chương của họ có thể được gọi là văn chương ‘lưu vong’ với cùng lý do như văn chương của Garcilaso hoặc Vallejo có thể được gọi là văn chương ‘cắm rễ trong một bối cảnh’.
Điều duy nhất mà chúng ta đã chứng minh là không có gì có thể được chứng minh trong lĩnh vực này, và rằng, như thế, trong thuật ngữ văn học, lưu vong không phải là một vấn đề tự nó. Đây là một vấn đề cá nhân có những đặc điểm khác nhau đối với mỗi nhà văn và có những kết quả khác nhau. Tiếp xúc vật lý với thực tại mang tính thuần lý của một nhà văn chẳng có nghĩa gì từ quan điểm sáng tạo; nó không quyết định những chủ đề của một nhà văn, cũng không quyết định trí tưởng tượng hay sức sống của ngôn ngữ hắn ta. Điều ấy cũng y như thế cho cuộc sống lưu vong. Sự vắng mặt mang tính vật lý đối với đất nước mình có khi đưa đến các tác phẩm phản ánh chính xác thực tại đó, và vào những lúc khác đưa đến những công trình bóp méo hiện thực. Chuyện một tác phẩm có là một sự lẩn trốn hoặc một sự phản ánh thực tại hay không, cũng như là nó có hay hay không, chẳng có liên quan gì đến vị trí địa lý của tác giả nó.
Vẫn còn những lời chỉ trích về mặt đạo đức nhắm vào nhà văn sống đời lưu vong. Chắc chắn là các nhà văn rời bỏ đất nước của mình cho thấy một sự thờ ơ đối với đồng bào họ, một sự thiếu đoàn kết với những diễn biến trong cuộc sống và với người dân của đất nước mình? Câu hỏi mang chứa một ý tưởng lầm lẫn và khinh bỉ dành cho văn học. Một nhà văn không có cách nào tốt hơn trong việc phục vụ đất nước mình bằng cách viết với nhiều kỷ luật và sự trung thực nhất có thể. Một nhà văn cho thấy kỷ luật và sự trung thực của mình bằng cách đặt cái ‘ơn gọi’ của hắn trên mọi thứ khác và bằng cách tổ chức cuộc sống mình xung quanh sáng tạo của hắn. Văn học là lòng trung thành đầu tiên của nhà văn, trách nhiệm đầu tiên của hắn, nghĩa vụ nguyên thủy của hắn. Nếu anh viết hay hơn ở nước mình, anh phải ở lại đó; nếu anh viết hay hơn trong cuộc lưu vong, anh phải ra đi. Có thể là sự vắng mặt của anh sẽ làm xã hội mất đi một con người lẽ ra là một nhà báo có hiệu quả, một giáo viên hoặc một người đề xướng văn hóa, nhưng cũng có thể là nhà báo, người giáo viên hoặc kẻ đề xướng văn hóa đó lấy mất đi của xã hội một nhà văn. Đây không phải là một câu hỏi để biết xem điều nào quan trọng hơn, hữu ích hơn; một ‘ơn gọi’ (đặc biệt là ‘ơn gọi’ của một nhà văn) không thể được quyết định trong bất kỳ cách thức xác thực nào theo các tiêu chí thương mại, lịch sử, xã hội hay đạo đức. Có thể là một người trai trẻ, từ bỏ văn chương để hiến thân cho việc giảng dạy hoặc đấu tranh cách mạng thì xứng đáng được vinh danh về mặt đạo đức và xã hội hơn người kia, kẻ ích kỷ, người chỉ nghĩ về chuyện viết lách. Nhưng từ quan điểm văn chương, một người hào phóng không nhất thiết là một hình mẫu đáng nêu gương hoặc, xét cho cùng, người ấy đưa ra một tấm gương xấu vì sự cao quý và chủ nghĩa anh hùng của anh ta cũng là một sự phản bội. Những người đòi hỏi một nhà văn phải hành xử theo một cung cách nào đó (một điều mà họ không yêu cầu đối với một bác sĩ hay một kiến ​​trúc sư chẳng hạn) thật sự đang biểu hiện một sự nghi ngờ thiết yếu về tính hữu ích của ‘ơn gọi’ của hắn ta. Họ đánh giá nhà văn qua cung cách của hắn, ý kiến ​​của hắn hoặc nơi hắn sống, và không phải bởi điều duy nhất mà hắn có thể được đánh giá: những cuốn sách của hắn. Họ có khuynh hướng đánh giá những cuốn sách dựa theo cuộc đời, lối sống của tác giả mà đáng lý ra là phải theo chiều ngược lại. Tự đáy lòng, họ không tin văn học có thể hữu ích và họ che giấu sự hoài nghi của mình bằng cách theo dõi với một con mắt ngờ vực (mang tính thẩm mỹ, đạo đức hay chính trị) cuộc sống của nhà văn. Cách duy nhất để giải tỏa những nghi ngờ này sẽ là việc chứng minh rằng văn học có một giá trị nào đó. Dù sao, vấn đề vẫn chưa được giải quyết vì tính hữu dụng của văn học, mặc dù hiển nhiên, cũng không thể kiểm chứng được trong thực tế.

 

London, tháng Một 1968
(trong tập tiểu luận Making Waves, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1996)

bài đã đăng của Mario Vargas Llosa


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)