Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Gieo hạt

 

 

Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện về lão.
Một ông già thích mặc vest đen, thắt cravat và leo lên bục diễn thuyết.
Dĩ nhiên, lão phải có một thứ gì đó, khiến tôi chú ý ngoài vài đặc điểm hình dạng và tính cách quái đản.

 

1.

Lão có những loại hạt kì quái. Lão thường xuyên úp mở khoe khoang về nó. Sau khi nhấp chén trà, cha tôi im lặng. Ông dửng dưng, không hề tỏ thái độ gì. Tôi không hề lạ lẫm với tính cách của cha. Rất nhiều lần, tôi để ý, cha đều dửng dưng như thế trước vài sự khoe khoang của những người bạn hàng xóm. Lão đã khoe về loại hạt này với cha tôi mấy bận. Nhưng, cha vẫn dửng dưng, im lặng. Riêng tôi lại ngước mắt nhìn chăm chăm và tưởng tượng về nó: “Hẳn, là điều kì diệu nào đó trong truyện cổ tích”. Trẻ con, ai chẳng tò mò?

Một ngày, tôi nghe cha nói lẩm bẩm: “lại sắp đến hội nghị ấy nữa rồi, phải sang nhà lão thôi”. Tôi lẽo đẽo theo cha. Trẻ con ai chẳng ham vui. Sau vài tuần trà, dăm ba câu chuyện thì thào to nhỏ giữa lão và cha. Tôi lại mang mang nghe lỏm được lão đang khoe khoang về những loại hạt đấy. Tôi quyết định thử mạnh dạn ngỏ lời xin xỏ. À, tôi lại đang nghĩ về những hạt đậu thần kì trong truyện cổ tích. Trẻ con chỉ thường mơ về những điều kì diệu. Lão gầm gừ, lừ mắt nhìn tôi, rồi dứt khoát gằn giọng từ chối. Đó là khi tôi còn bé, và cha tôi chưa ra đồng nằm. Đó là khi cha tôi vẫn còn qua lại với lão như một người bạn thân thiết.

Một dịp khác, tôi tiếp tục đeo đẳng việc xin xỏ này khi bắt gặp lão ở hội nghị gieo trồng. Hội nghị thường niên của nông dân. Lúc này, tôi đã là một chàng thanh niên, có đôi mắt giống hệt cha ngày ấy, nhưng, không hẳn đã hết tò mò. Cha tôi vẫn nằm ngoài đồng. Tôi vẫn là một đứa trẻ luôn tò mò về những điều bí ẩn người ta thường giấu kín ở phía sau bức màn tối nào đó. Hoặc giả chỉ là những loại hạt, mà tôi nghĩ, nó có thể mang đến một điều kì diệu như trong truyện cổ tích ngày xưa.

Tại hội nghị gieo trồng, những người nông dân mặc vest đen và thắt cravat đọc thứ diễn văn chán ngắt, đã được soạn thảo sẵn theo từng mục lớn, nhỏ. (Họ, chỉ việc lép nhép nói trước micro, không cần biết những thứ mà họ đang tuôn ra đó có mang lại hiệu quả bên ngoài thực tế). Lão cũng vậy thôi, lão chẳng khác gì những người nông dân mặc vest đen và thắt cravat ngồi dưới hội trường ấy. Lão cũng thường lải nhải như một chú bò nhai lại mớ cỏ từ khi còn tươi cho đến lúc héo quắt rồi trôi tuột xuống dạ dày, sau đó ựa lên và tiếp tục nhai hòng cổ vũ cho việc tiết kiệm thức ăn.

Mỗi lần tham dự hội nghị gieo trồng, tôi chỉ có một cảm giác duy nhất là lỗ tai tôi luôn lùng bùng, óc não tôi luôn căng ra hết cỡ. Những chú ong kêu ro ro quấn quýt, khiến tôi mờ mắt. Và, họ, những nông dân mặc vest đen, thắt cravat đấy vẫn đang diễn thuyết say sưa theo từng mục nhỏ trong văn bản đã soạn thảo sẵn. Này thì: nghị quyết. Này thì: phê bình, kiểm điểm. Này thì: lợn, gà, heo, bò, trâu chó. Này thì, tụng ca những mùa xuân năm tấn an hùng. Này thì, kế hoạch năm năm, mười năm. Hay là VAC đủ kiểu. Nhà tôi nghèo vẫn hoàn nghèo. Tôi chẳng hiểu những thứ chữ nghĩa đấy, nhưng, nhìn các ngài nông dân mặc vest đen, thắt cravat chỉn chu vẫn hăng say diễn thuyết, rồi sau đó về nhà băm bèo, hót phân cho lợn, tôi lại cảm thấy cơn buồn nôn dờn dợn.

Tôi là một nông dân tiêu biểu, hẳn nhiên cũng được mời đến dự hội nghị gieo trồng, tổ chức hàng năm vào tháng giêng. (tháng giáp hạt cho vụ mùa mới của vùng chiêm trũng, tháng đón xuân). Người ta tổ chức những hội nghị như thế này, nhằm để tìm kiếm loại hạt giống tốt nhất cho vụ mùa sau, vụ mùa sau nữa. Ấy vậy, chưa năm nào tôi cảm thấy hài lòng với những bài phát biểu tham gia trao đổi, nghị luận về việc chọn hạt để gieo trồng. Dăm ba kẻ ễnh ương, khua tay múa chân trước bục diễn thuyết, hòng mong được chú ý đến, mong nhận lấy những tràng pháo tay rầm rộ, vô nghĩa lí. Lão là một trong những người đóng vai trò khá quan trọng, điều khiển và chia sẻ kinh nghiệm của kẻ đi trước. Tôi biết, lão quan trọng thêm ở một điểm khác, đó là lão đang nắm giữ trong tay mình nhiều bí mật về mùa vụ, về hạt giống, về tất tần tật những gì liên quan đến chuyện trồng trọt này kia. Nhưng, lão, cái lão già cáu bẳn ấy, chưa hề mở lòng về những thứ lão đã cố tình cất giấu rất kĩ trong chiếc túi hạt, thường đeo trước ngực mình. (hoặc là, có thể, những loại hạt mà lão vẫn cất giấu kín đáo ấy, thỉnh thoảng tôi nghĩ, chúng chưa hẳn là hạt mầm mang lại sự tốt đẹp cho mùa màng no ấm).

Năm nay, lão vẫn tiếp tục hào hứng đăng kí diễn thuyết, phát biểu, khua tay múa chân trên bục diễn giảng, dù rằng mỗi lần lão mở miệng, người ta chỉ thấy vài chiếc răng vàng xỉn, mọc lổm chổm vẩu ra, như muốn đè nát cả môi. Bài diễn thuyết của lão thường nghiêng về việc chỉ trích, vạch lá tìm sâu, đòi hỏi sự tiến bộ vượt bậc này nọ. Nhưng, theo tôi nhận thấy, từ thời mặc quần lủng đít, len lén theo cha đến hội trường này ngắm nghía sự xôm tụ ấy, và nghe những bài diễn thuyết chán ngắt về chim chóc, sâu bọ, hoa màu, tôi chẳng phát hiện thêm điều gì thú vị hơn nữa. Nhất là bài diễn thuyết của lão. Những bài diễn thuyết lặp đi lặp lại từng chi tiết, kể cả hành động của người diễn thuyết. Hội nghị gieo trồng vẫn tổ chức thường niên, kinh phí luôn luôn được chi trả rất thoáng. Gia đình tôi vẫn nghèo, vẫn thiếu gạo. Tôi vẫn phải mặc quần lủng đít đến trường để nghe những mùa xuân êm đềm trong cành lá.

 

2.

Cha mất. Tôi nghĩ, học chữ cũng chẳng giúp ích gì cho cái dạ dày rỗng. Tôi quyết định theo chân mẹ ra đồng, đợi những mùa lúa xanh non đòng đòng cho đến ngày trĩu nặng cành những hạt vàng mây mẩy. Rồi, tôi cao bằng cha, khuôn mặt ram rám nắng như cha. Đôi mắt thẳm sâu như bầu trời đã mất của cha. Mẹ tôi già yếu. Tôi thay cha ra đồng, gieo những mùa hạt xuống đất, nuôi mẹ. Nhưng, nhà tôi vẫn thế, vẫn mái ngói cũ kỹ đã xanh màu rêu mục ruỗng theo năm tháng. Tôi lại nghĩ đến thứ hạt bí ẩn của lão ấy. “Có thể, chúng sẽ là thứ hạt mang đến sự đổi thay mới mẻ hơn cho những người nông dân như tôi, như cha tôi, như mẹ tôi chăng? Người trưởng thành, trong lúc gian nan, và nản lòng thường mơ mộng như một đứa trẻ”, tôi thì thào qua kẽ môi khi đến mùa gieo hạt.

Đến tuổi về với đất. Mẹ tôi ra đồng, theo cha. Gieo hạt. Nắm hạt khó nhọc cuối cùng của một đời người. Ngày mẹ xanh cỏ. Tôi hái mớ bông lúa cắm lên mộ cha và mẹ, xin phép rời quê ra thành phố, không ngẫm ngợi về hạt và những mùa gieo trồng ở quê hương nghèo khổ nữa. Nghe đâu, lão ấy cũng đã bỏ nhà bỏ cửa, bỏ quê hương, bỏ những buổi diễn thuyết theo con cháu đi biệt xứ. Tôi không rõ nguyên nhân. Những tưởng tôi sẽ không màng đến những mùa gieo hạt, vậy mà, về thành phố, tôi vẫn muốn làm nông dân, nối nghiệp tông tổ. Tôi không giỏi chữ nghĩa, nhưng tôi giỏi gieo trồng và luôn muốn tìm kiếm những phương thức gieo trồng tốt nhất, mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân. Tôi trở thành một nông dân tiêu biểu của thành phố. Ở đây, cũng thường tổ chức những hội nghị gieo trồng như thế. Tôi luôn luôn được những người nông dân quanh vùng tin tưởng cử đi tham dự hội nghị ấy. Nhưng, tôi không bao giờ tham gia diễn thuyết, chỉ lắng nghe và im lặng trở về gieo hạt trên những cánh đồng.

 

3.

Mùa xuân năm đó. Tôi tình cờ gặp lại lão. Con ngươi trong mắt lão không còn sắc lẻm như ngày xưa nữa. Nó đã chuyển sang màu trắng đục. Trắng như những sợi tóc trên đầu lão bây giờ. Dấu ấn của thời gian không buông tha bất cứ một ai. Nó, như lẽ tất yếu được quy chiếu lên kiếp sống của một đời người.

Lão không nhận ra tôi ngay, nhưng, tôi vẫn ghé đến, ngồi bên cạnh lão. Tôi thấy chiếc túi nhỏ lấp lửng đeo trước ngực. Ngày xưa, tôi nhớ, hình như cha từng nói với mẹ tôi về một loại hạt thần kì nào đó, chúng có thể mang lại no ấm cho tất cả mọi người mãi mãi. Nhưng, cha chỉ nói một lần duy nhất rồi thôi. Cha im bặt cho đến khi ra đồng làm bạn với trăng sao, giun dế. Tôi ngẫm nghĩ và thắc mắc mãi về sự im lặng của cha. Trí tò mò con trẻ trong tôi nhiều lần trỗi dậy, rồi tôi tưởng tượng về việc, hẳn cha đã từng khuyên lão nên chia sẻ điều đó trong những buổi hội nghị gieo trồng tổ chức thường niên. Nhưng, sau đó, chẳng hề thấy ai xôn xao chuyện về các loại hạt bí ẩn ấy, nên tôi tự nhủ thầm kiểu ghen ghét, đố kị: “chắc chắn lão kềm kẹp và cố tình giữ chặt lấy thứ hạt ấy chỉ để dành cho riêng gia đình lão, họ tộc lão đời đời kiếp kiếp giàu sang, no ấm, mặc kệ kẻ khác”. Cha tôi mất. Nhưng, tôi không nhận biết được điều gì hơn ngoài sự im lặng đáng sợ của cha cho đến ngày ra đồng nằm nghe tiếng gió thảng thốt chạy đuổi nhau biết bao mùa trăng đi qua trên quê hương nghèo nàn, đói khổ.

Gặp lại lão, ở hội nghị gieo trồng ngay tại thành phố sang trọng này, tôi nghĩ, tôi nên hỏi thăm về hạt giống ấy, thứ hạt mà lão đã hào hứng đem khoe khoang và lạnh lùng cất giấu biệt tăm biệt tích. Tôi vẫn không thể hiểu sự im lặng của cha, nhưng lại tự cho rằng, có lẽ cha đã từng u uất phiền não mãi về nó cho đến ngày rời khỏi thế gian. Tôi, sẽ thử giở giọng nài xin. Và, sẽ tiếp tục nài xin chúng từ lão, để mang về quê cho thỏa lòng mong mỏi của người đã xanh mộ cỏ.

“Xin lỗi, anh là ai? À… dường như… tôi mang máng… đã gặp anh đâu đó”, ánh mắt lão lấp lửng cơn hoảng hốt. Tôi nghĩ, chắc lão bắt gặp hình bóng cha tôi, trên khuôn mặt tôi chăng? Tôi nhìn bàn tay gầy gò, xương xương của lão đang lật tập giấy mở bài diễn văn cũ kỹ đã từng đọc từ những năm trước ra, nhích mục kiểng lên, ra vẻ rất chăm chú. Tôi quyết định chỉ vào túi hạt lão đeo trước ngực. “Tôi muốn xin ông những hạt giống năm xưa”, tôi nài nỉ. Tôi nghĩ, lúc đó cha tôi đã nói, (hoặc chỉ là tôi cất lời hộ). Tôi cảm tưởng như có một khe nứt nào đấy giữa tôi và lão, tôi có thể chui xuống ngay để kí ức của tôi qua đi, hoặc có lẽ, để lão nhào xuống trốn nỗi sượng sùng vì đã giấu giếm điều gì đó với cha tôi. Tôi khĩ, chắc lão không nhận ra.

“Đây, đừng có mà bám theo nữa”, lão bất ngờ cáu kỉnh cất giọng xua đuổi, đồng thời ném cho tôi một nắm hạt xuống nền gạch hoa trắng nhỡn. Tôi khe khẽ liếc nhìn, để ý thấy, cơ mặt lão giãn ra một cách lạ kì. Tôi lặng lẽ cúi xuống, nhặt lấy, đút vào túi áo khoác, lòng hân hoan thì thầm với những linh hồn cỏ cây. “Hạt đây rồi, cuối cùng tôi đã có nó, thứ hạt bí ẩn từng khiến tôi tò mò suốt cả tuổi ấu thơ, thứ hạt có thể đã khiến cha tôi ít nhiều phiền muộn”, tôi mừng rỡ, sau khi ném trả lại vào mặt lão một ánh mắt lạnh lùng không một chút xúc cảm, như mảng trời đầy thép gai màu xám. Tôi sẽ mang chúng về nhà. Cất vào hòm gỗ nhỏ có ổ khóa. Từ nay trở đi, hạt sẽ nấp kín trong bóng tối thâm sâu của một chiếc hộp pandora. Vì rằng, tôi nghĩ, tôi phải nhốt hạt lại, như đã từng nhốt bọn thần thánh phá bĩnh và đám quỷ dữ chẳng hề chịu yên phận dưới địa ngục. Chúng đang đánh nhau. Chúng đang chơi trò gieo hạt từng khoảnh khắc trên mặt đất xanh tươi này.

Mỗi buổi sáng thức dậy, sau những cơn mê khó thở, tôi thường cố tình liếc qua cái hòm gỗ. Tôi sợ, có thể hạt sẽ vùng vẫy, bung khóa thoát ra ngoài. Hoặc là, chúng sẽ nở mầm vung vãi thân lá xum xuê, hóa thành một cái thang khổng lồ. Tôi tưởng tượng, “cái thang ấy nếu vươn đến tận bầu trời xám và che lấp màu mây xanh quang đãng những ngày tháng mùa thu thì sẽ ra sao nhỉ?”. Những mùa thu rầu rĩ đang bám riết lấy tôi, bám riết những cánh đồng. Những mùa thu xám ngắt màu của sự chết ngả rạp dưới vành trăng lưỡi liềm. Những mùa thu u ám đè nát bình minh mỗi sớm mai lên dưới sự xuyên chiếu buồn thảm của rất nhiều tia nắng mỏng manh sắc lẻm như mảnh dao lam. Đấy, tôi đã thấy những mùa thu như thế xung quanh mình từ thuở bé, từ những tháng ngày ấu thơ chênh chao bước chân kiếm tìm điều kì diệu chỉ có trong truyện cổ tích.

Tôi không nghĩ ngợi nữa, vì hạt vẫn nằm đó, trong chiếc hòm gỗ nhỏ. Tôi yên tâm, đứng dậy, rời khỏi phòng, bước về phía cánh cửa sơn đỏ. Tôi có hẹn với lão. Dù sao, chẳng thể nhận không của ai thứ gì đó. Phải có sự trao đổi sòng phẳng. Tôi dứt khoát phải đưa cho lão thứ gì đó để khỏi mang ơn về việc xin xỏ. Tôi biết, lão đã có công giữ gìn hạt trong chiếc túi màu nâu đất.

Tôi chốt cửa, bấm khóa. Hôm nay, không phải ngày đầu thu, cũng chẳng có mưa tầm tã khóc thương mỗi lần mùa đông bắt đầu đến với xứ sở này, như người ta vẫn lầm tưởng và ngây thơ thể hiện sự tiếc nuối buồn bã nào đó trong vòng dĩ vãng đã bị ăn mòn. Chúng luẩn quẩn và cũ kỹ đến mức nhạt nhẽo. Tôi trưởng thành hơn sau khi rời khỏi nhà nhiều lần.

Dời gót qua góc đường cũ kỹ, men theo lối vỉa hè xưa là đến nơi trú ẩn của lão. Một căn nhà hai tầng nằm chễm chệ ngay mặt đường. Bức tường vôi bết màu rêu úa xấu xí. Hàng rào bằng dây leo xanh ngời đã chết. Như sắc mặt lão, hôm trao túi hạt cho tôi. Người ta vừa thông báo, lão rơi vào tình trạng khó thở đã mấy ngày rồi. Tôi nghĩ về cha, tôi nhớ cha. Ai rồi cũng phải chết. Lão có thể rời bỏ thế gian này bất cứ lúc nào. Lão rồi cũng sẽ xanh mộ cỏ như cha tôi thôi. Người ta luôn luôn được phép xưng tội trước khi chết. “Phải đến thăm lão lần chót. Phải trả lại ơn nắm hạt mà lão đã quẳng cho tôi. Nhỡ lão có bề gì, khỏi phải ân hận”, tôi nghĩ. Có thể, tôi đã từng căm ghét lão. Có thể, tôi đã từng nhìn lão bằng ánh mắt khinh khỉnh, nhưng, rõ ràng, lòng thương của tôi vẫn lớn hơn tất thảy mọi sự ganh ghét cá nhân, ích kỷ. Lão cũng chỉ là một linh hồn cần được cứu rỗi như những mầm cây độc đã gieo xuống cánh đồng khổng lồ của thế giới này.

Trước khi rời nhà, tôi liếc nhìn về phía chiếc hòm gỗ sơn đỏ. Hạt, tôi đã nhốt hạt, đã giấu giếm khá kỹ lưỡng trong chiếc hòm gỗ và khóa kín. Tôi đinh ninh như thế, khi đứng trước căn nhà của lão. Sau khoảnh khắc ngần ngừ, tôi với tay dứt khoát về phía chuông cửa. Một phút. Hai phút. Rồi ba phút. Tôi tiếp tục kiên nhẫn bấm nút chuông màu đỏ. Cổng im lìm. Bức tường rêu cũ kỹ im lìm. Không có hồi đáp. Chỉ mỗi tiếng chuông đều đặn vọng lại từng nhịp bên tai tôi. Một người hàng xóm mở hé cửa ra, đôi lông mày hắn ta nhíu lại, hỏi gắt: "Bấm gì bấm lắm thế? Không có ai ở nhà đâu. Họ đưa ông già vào viện tối qua rồi". Tôi gật đầu, cảm ơn. Chân tôi đứng yên một chỗ, ngay tại cánh cổng đã khóa, tôi nghe người đàn ông bên cạnh thì thào bằng lời trầm đục từ trong cổ họng: “Đến lúc lão phải nhường lại bục diễn thuyết cho người khác rồi”.

Tôi dợm bước, quay lưng.

Phía trước là một con đường, miên man theo bờ sông.

 

4.

Sông tràn nắng.

Nơi đó đang có lễ hội thì phải. Dân chúng tụ tập reo hò bên ven sông. Vài anh mặc sắc phục đang làm nhiệm vụ giữ trật tự. Tôi dừng chân, ngồi xuống chiếc ghế đẩu nhỏ ở quán café quen thuộc. Ngắm nắng. Nắng từ dưới sông. Nắng tràn lên mênh mông trên các mặt đường. Nắng vỡ òa, xuyên qua từng vòm lá. Chúng chưa đủ độ vàng rộm như mùa hạt trên những cánh đồng.

Thành phố buồn hiu hắt.

Tôi cảm thấy chẳng có gì vui ở những lễ hội mùa thu. Rõ ràng là vậy. Chẳng hiểu sao, người ta vẫn nhao nhao như bầy thiêu thân vừa rớt xuống cốc cafe của tôi khi anh bạn phục vụ quán hôm qua chầm chậm kéo mái che tự động hòng tránh được bóng nắng xuyên chiếu vào mắt các vị khách quen.

Những khoảng trời xung quanh tôi gờn gợn, nham nhám như một cơn sốt rét chợt đến, chạy dọc sống lưng, khiến người ta bất giác rùng mình. Tôi lẩm bẩm: "làm cách nào để trả cái nắm hạt ấy cho lão nhỉ?". Tôi chẳng muốn giữ nó. Tôi sẽ không đến bệnh viện. Nơi đó toàn mùi chết chóc. Đã có rất nhiều sự chết chóc diễn ra trên mảnh đất này rồi. Lòng can đảm có khi cũng dễ dàng bị che khuất bởi những cơn sợ hãi mơ hồ vẫn đang bám riết vây bủa tôi mỗi ngày.

Tôi quyết định trở về nhà, bỏ qua cuộc vui bên bờ sông tràn nắng và những tiếng reo hò đầy hứng khởi của đám đông kia. Tôi nghĩ, mình sẽ mở chiếc hòm gỗ đã khóa kín. Sau đó, lấy hạt ra, cho vào túi buộc dây rút. Về đến nhà, tôi ngạc nhiên khi thấy chốt cửa đã bị nạy bung lên. Không khí lạnh từ căn phòng toang hoác trống rỗng của tôi bung tỏa, bám vào từng tế bào trên da mặt. Nắng vẫn lùa vào đều đặn theo từng khe bụi lấp lánh ngạt thở. Tôi nhào đến chiếc hòm gỗ. May mắn, chúng không hề bị trầy xước, không có dấu vết của bọn trộm cắp. Tôi mở khóa. Hạt vẫn vẹn nguyên. Hạt không được tròn trịa lắm và có màu xám nâu. Tôi nghĩ, sẽ gieo hạt hẳn xuống mảnh đất sau vườn nhà. Nhưng, sau đó, lại thay đổi. Vườn nhà tôi toàn cây ăn trái thanh cảnh, liệu hạt lạ ấy có được phép dung nạp, nảy mầm? Tôi nhón tay, nhẹ nhàng cho hạt vào túi buộc dây rút, cất lại trong chiếc hòm gỗ nhỏ. Khóa kĩ. Bên ngoài cánh cửa, trời cũng bắt đầu chuyển màu xám xịt của buổi hoàng hôn đã chết. Ngày mai, tôi sẽ đào một cái huyệt lớn và chôn chiếc hòm gỗ nhỏ này xuống đất.

Lâu lắm rồi, người ta cũng chẳng còn hào hứng với việc tổ chức những hội nghị gieo trồng nữa.

 

5.

Sáng hôm sau.

Ở quầy báo, rộn ràng hơn thường ngày.

Một vài tờ tin tức lớn và nhỏ đăng những câu chuyện mang tính chất kể lể về lão ở các trang đánh số chẵn. Tôi nhìn thấy, chân dung của lão xuất hiện với hai hạt mầm màu xám nhạt trên khuôn mặt nhăn nheo. “Ít ra, lão cũng là người nổi tiếng”, tôi lảm nhảm. Ít ra, lão cũng đã từng mặc áo vest đen và xuất hiện ở những hội nghị gieo trồng để diễn thuyết giữa đám đông. Ít ra, lão cũng đã từng là nhân vật quan trọng, thì thế, còn gì. Cha tôi, chỉ là một nông dân.

Về nhà, tôi loay hoay lật giở tờ báo, rồi liếc nhanh về phía cửa sổ. Mảnh vườn nhỏ của tôi nằm ở đó, tôi vừa chôn chiếc hòm gỗ sơn đỏ có chứa hạt xuống đất. Kẻ gieo hạt luôn phấn khích đợi chờ ngày mầm cây trỗi dậy từ mặt đất. Tôi thì không đợi trông điều đó như những ngày ấu thơ tò mò nữa. Tôi nhớ, ngày trao lại hạt cho tôi, lão còn gắng nói với theo, giọng lầm bầm như từ cõi âm, sau khi tôi đã rời gót khỏi nhà lão: "Mày đừng bao giờ gieo nó xuống đất. Mầm quỷ đấy". Tôi đáp vẻ thản nhiên: “Mầm quỷ ư?”. Thượng đế đã gieo nó xuống đất từ lâu lắm rồi, tôi nghĩ thầm trông bụng. Vậy, là tôi đã hiểu, chẳng hề có một loại hạt bí ẩn nào mang mầm tốt để gieo trồng sự no ấm muôn đời và mãi mãi được.

Giờ thì, với tôi, sẽ những mùa thu buồn, những mùa vàng trên cánh đồng lớn. Chúng không hẳn rạng ngời như một cái chết đẹp mà người ta hằng khao khát. Hạt đã gieo vĩnh viễn trên mặt lão, dưới cái cằm bạnh và một bên má. Hoặc là, tôi nghĩ thầm “Hạt cũng có thể vẫn tiếp tục nảy mầm trên mặt vài kẻ khác, nếu người ta đã từng làm một điều gì đó khiến nhân tâm ray rứt chăng?”

Tôi lại muốn chốt cửa, bước chân ra ngoài, rời khỏi đây, lên một chuyến tàu đêm và nghe tiếng bánh tàu nghiến vào đường ray ken két. Có thể, tôi sẽ tìm thấy một loại hạt khác không mang dáng hình của quỷ dữ hiển thị trên khuôn mặt người. Âm thanh của những chú dê núi vọng lại từ các triền đồi của thảo nguyên xanh cỏ, khiến tôi nhớ về mùa gieo hạt nơi quê mẹ.

Ở đó,

Có người đàn bà cõng nắng lên đồi, cõng mặt trời lên đỉnh núi.

Phần diễn thuyết đơn độc dành riêng cho người đàn ông thích mặc vest đen, thắt cravat và lên bục hô hào chống lại những mùa màng sâu bệnh trong các hội nghị gieo trồng đã từng diễn ra thường niên.

 

6.

Lão ngồi thừ ra trước mặt bàn ngổn ngang những quyển sách hoen ố màu mực cũ kỹ. Lão có cảm tưởng, dường như, chính lão vừa làm một cuộc đào thoát khỏi trang giấy và mớ chữ lộn nhộn của gã điên vẫn lẽo nhẽo theo sau lưng lão mỗi lần đến tham dự hội nghị gieo trồng để xin xỏ những hạt mầm quỷ quái lão cất giấu bấy lâu. Gã đã muốn lão chết trên cánh đồng cũ kỹ có những hạt mầm chưa trổ. Chúng chẳng hề có những sắc màu êm dịu của mùa thu, chúng chẳng hề xanh non mùa lúa như người ta vẫn tụng ca trong trí nhớ xa xưa của lão. Không, lão không thể chết một cách tẻ nhạt. Dù sao, lão cũng đã từng là kẻ đã bước ra từ cánh đồng vàng chóe những mùa hạt nghiêng nghiêng hình lưỡi liềm. Lão không thể phủ nhận sạch trơn tất cả mọi thứ đã diễn ra; hay có thể, lão dẫm nát đám bùn đỏ dưới chân, nhưng, không hẳn lão là kẻ duy nhất dẫm chân trên bùn.

Lão khẽ nhấc con hổ bằng đá, chặn lên xấp giấy trên bàn, tiến về phía cửa sổ. Khung cửa hẹp, thu gọn tầm mắt già nua trong mấy thanh sắt. Phía bên ngoài là một vườn chuối xanh rì rào. Gió thấp thoáng dưới vành trăng đỏ. Bàn tay xù xì da cóc của lão xòe ra, những hạt mầm nhỏ màu đen đang tách vỏ. Lão ném chúng qua mấy khe sắt. Những mùa vàng trên cánh đồng khổng lồ không thể chết, dù chúng đã từng bị chôn vùi và thầm lặng nảy mầm trong đất. Một cơn nhức buốt bên thái dương cuồn cuộn lên đỉnh đầu. Lão choáng váng, lùi về phía bàn giấy, đầu gục xuống cánh tay trần nhăn nheo già nua thì thầm lời sám hối: "Hạt mầm của quỷ đấy, đừng gieo trồng thêm nữa".

 

7.

Ngọn đèn vàng vọt nơi góc bàn tắt phụt.

Phía bên này thế giới, dù chệch múi giờ. Gã cũng vừa rời khỏi bàn giấy. Gã mệt mỏi, rút một điếu thuốc, châm lửa. Những vòng khói tỏa bay rồi neo đậu lại trên các nhánh cây gầy gò. Khung cửa sổ khá hẹp. Chúng đã bắt đầu chơi trò đóng nẹp con chữ của gã lại, không cho phép nó được hóa thành hạt và nảy mầm trên một cánh đồng tự do. Gã vươn tay ra khép hai cánh cửa, sau khi đã hút xong điếu thuốc. Gã phải viết cho xong câu chuyện gieo hạt này. Gã phải ươm mầm bằng cách giữ gìn sự thật từ những loại hạt không cần phải gieo xuống đất.

Không một âm thanh nào vọng lại. Chỉ còn tiếng gió, rít sâu trong lồng ngực của những linh hồn đang thở. Gã nhắm mắt lại. Nằm mơ về những mùa gieo hạt trên cánh đồng ngày xưa của cha và mẹ. Gã cũng chỉ là người nông dân chăm chỉ với từng mùa vụ trên cánh đồng chữ nghĩa để gieo một loại hạt mầm đặc biệt không còn cất giấu trong chiếc túi của ai đó, hoặc trong hộp pandora nào khác. Gã nghĩ vội, rồi lặng im, nằm nghe tiếng thở của chính mình. Chúng đều đặn như tiếng gió ngoài cánh đồng nơi quê nhà có cha mẹ gã đang làm bạn với trăng, sao và giun dế.

bài đã đăng của Trần Băng Khuê


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)