Trang chính » Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Mùa Thơ Ấu Mù

Phóng dịch một trích đoạn tiểu thuyết,
nguyên bản Đức ngữ:
"Tausend Jahre im Augenblick"
(Trong khoảnh khắc ngàn năm),
cùng tác giả.

 

NND-MTAM

 

Kể từ lần viếng thăm giữa khuya của nhà truyền giáo, kỳ lạ thay, thỉnh thoảng thầy Thông lại tự hỏi về lai lịch mình cũng như về niềm tin tôn giáo. Chính thầy cũng không rõ, cha mẹ mình là ai và quê quán ở đâu. Thầy chỉ biết mình xuất thân từ một cô nhi viện vùng ngoại ô Sài gòn, sống bằng tiền bố thí của những nhà hảo tâm và được vài mụ đàn bà cao số chăm sóc. Vài đứa lơn lớn còn đặt chuyện dèm pha mấy bà giữ trẻ hỗn danh phù thuỷ: bà này ế chồng vì xấu xí và hôi hám, còn bà nọ bị gia đình làng xóm cạo đầu bôi vôi, đuổi đi vì tội lang chạ.

Thầy nhớ lại thời thơ ấu, ngày hai bữa mỗi đứa trẻ nhận được một chén cơm gạo xấu với nước mắm thô và canh rau lạt lẽo. Thỉnh thoảng có thêm thịt mỡ hoặc cá vụn kho mặn. Thế giới trẻ thơ của cậu nhỏ dĩnh ngộ và rụt rè tột độ tên Thông, suốt nhiều năm, là một chuỗi nghịch lý như đêm ngày. Câm lặng ban ngày. Ban đêm quẩn quanh trong miền đất hoang tưởng. Cậu mường tượng mình là một sinh vật từ xứ trời lạc xuống trần gian. Một thiên sứ có tài xét đoán và ngủ mộng bằng một ngôn ngữ khác, có thói ăn nếp uống khác, và biết bay. Cậu tin sẽ có một ngày, ai đó từ quê trời đến đây, dẫn cậu phiêu lưu khắp thiên địa. Người nào? Ai? Lập tức cậu sẽ nhận ra.

Hôm đó là một chiều tháng hai nóng hầm, đầy bụi bặm, vài ngày sau tết nguyên đán của người An nam, cậu còn nhớ rõ tuần tự sự việc xảy ra. Mấy bà phù thuỷ chuẩn bị tiếp đón một vị khách đặc biệt: một người đàn bà da trắng, đẫy đà, màu mắt xanh ngọc xa-phia và mái tóc màu nâu đồng. Bà mặc áo lụa trơn tay ngắn, váy dài phủ gối màu xanh lam, hai bắp chuối nổi mạng nhện những đường gân xanh. Thái độ ý tứ và cách cư xử rộng lượng của bà khách thổi vào thường nhật tẻ nhạt của viện mồ côi một luồng sinh lực linh hoạt. Ngay cả Kim An, con bé mù bẩm sinh nhỏ tuổi nhất của viện, cũng bị giọng nói nhung êm và tiếng cười trong vắt của bà khách quyến rũ, dọ dẫm chui ra vỏ ốc tối ám. Có vẻ như bà khách để ý tới cậu nhỏ có tâm tính hướng nội tên Thông. Ma-đàm thường có mặt vào những trưa thứ bảy, ở lại và chơi đùa với lũ trẻ tới chiều tối, sau đó dẫn Thông theo về nhà qua hết chủ nhật, trước những vẻ mặt ganh tỵ và thèm khát của đám trẻ bị bỏ lại, nhất là của Kim An.

Cơ ngơi của ma-đàm là một biệt thự thuộc quận nhất, có vườn cây rũ bóng mát bao bọc, chíu chít tiếng chim hót. Thông khó thể tưởng tượng nổi, cớ sao ma-đàm và mơ-xừ, không kể bà bếp và chú tài xế tề chỉnh trong y phục trắng, có thể sống trong một ngôi nhà rộng lớn như vậy mà không thấy "lạc lõng và cô quạnh".

Trước đó, với Thông, cô đơn còn là một khái niệm xa lạ. Cậu chỉ biết, bị-bỏ-rơi là thứ cảm giác khiếp đảm cùng cực. Vì lẽ đó, con bé mù Kim An lúc nào cũng mò mẫm tới gần cậu, tìm một hơi ấm che chở và, bằng một sợi dây thắt quanh bụng, để cậu dẫn dắt lòng vòng mọi nơi, cả những lúc đi cầu và tắm gội. Vì lẽ đó, con bé muốn được cậu lâu lâu ấn đầu ngón tay lên thân thể, như một tín hiệu của lòng thương cảm và sinh động. Vì lẽ đó, cậu đã có lần thì thầm thổ lộ cho mỗi mình con bé biết, trong lúc vạch tóc bắt chí, về những mộng tưởng của mình. Luôn cả giấc mơ gặp một người đàn ông khổng lồ với chòm râu rậm từ trời hiện xuống, dẫn cậu về lại nguyên quán.

Trong những chủ nhật đầu tại nhà ma-đàm, Thông bối rối và thất vọng ra mặt. Mơ-xừ Lacroix chẳng có nét gì giống cái nhân vật cậu thấy trong mơ. Đêm đầu tiên, một mình một phòng rộng, không gian lạ mùi, cậu ngủ khó. Một lúc, nghe như có tiếng ai hét hoảng, cậu giật mình tỉnh giấc trong luồng trăng sáng lân tinh luồn qua ô cửa sổ chấn song sắt. Mồ hôi đẫm ướt thân thể, cậu cảm nhận tiếng rú nửa người nửa thú mới nãy chính là tiếng hét của Kim An thường vang vẳng giữa khuya. Có điều lạ, phòng ngủ của cậu toả váng vất hương thuốc vố của mơ-xừ, mà bà bếp có lần che miệng tiết lộ, đó là mùi khói thuốc quỉ quái của mơ-xừ.

Sau lần đó và những lần kế tiếp, Thông bắt đầu hiểu ra ý nghĩa của cô quạnh, một từ ngữ được cậu tra thêm vào pho tự điển sống. Không phải chỉ bấy nhiêu, Thông còn nhanh chóng học được ngôn ngữ của một nền văn hoá xa lạ và biết thêm, ma-đàm có tên Christine, còn mơ-xừ là Jean-Claude. Và cậu khởi sự va chạm với những đam mê khác của mơ-xừ, chẳng hạn sở thích hút á phiện, và tập cách chuẩn bị bàn đèn cho ông. Dành riêng cho lạc thú này, mơ-xừ nhoẻn cười thầm thì với Thông, là "hang động thằn lằn", chỗ ông trang bị mọi thứ cần thiết: một tấm chiếu đan hình rồng trải dưới sàn gạch bông, một gối gỗ kiểu trung hoa và một khay đèn sơn mài đựng sẵn đồ nghề. Cảm giác rúng động tan biến tức khắc khi Thông bắt được hương thơm tuyệt vời của "thú tiêu khiển ma quỉ" này, theo như cách mơ-xừ thường gọi.

Trước tiên, ông thắp tim đèn dầu, cởi y phục mặc trong nhà, xỏ hờ cái quần ngủ dệt lụa bản xứ, rồi ngả người nằm nghiêng, ngực trần thoải mái ra chiếu. Bằng những cử động dè chừng, như thể hao mòn sinh lực, ông chỉ cho Thông cách dùng kim bạc vít một ít nhựa thuốc nâu quánh đựng trong hộp con bằng sứ tráng men, se se trên ngọn đèn, rồi lắp tể thuốc vào khe trống đầu dọc tẩu bằng ngà chạm khắc tinh vi. Sau vài động tác thuần thục, mơ-xừ đã sẵn sàng. Trong không gian tĩnh lặng, tường vách soi yếu vệt nắng muộn lách qua rãnh cửa lá sách, vang khẽ chuỗi âm thanh khò khè, nghe như mơ-xừ bất ngờ lên cơn suyễn. Những gì xảy ra tiếp đó, rất khó diễn tả. Sau vài lần hít sâu khoan khoái, Thông thấy mơ-xừ buông xuôi mệt đắm. Ngay chính cậu cũng lả người phóng dậc, say xẩm trong trạng thái lửng lơ giữa ranh giới không gian và thời gian. Trong cơn tỉnh thức đê mê cậu nghiệm thấy bầy thằn lằn rời chốn ẩn náu, như bầy thú được tập luyện làm xiếc, cùng lúc bò ra, dán chân bám trần nhà. Trong gian phòng leo lét ánh đèn dầu, trông chúng có vẻ như phát quang từ nội tạng. Trần vôi hoá thành vòm đêm lấp lánh đầy sao, mấp mô những vòng cung và sa số đơn vị hình khối đắp lên nắp hộp vuông khổng lồ. Thông sực nhớ mẩu chuyện của một bà giữ trẻ kể về loài sâu tằm. Sau nhiều tháng được nuôi dưỡng bằng lá dâu, tới đêm rằm tháng giêng, được lực trăng kích động, chúng toả sắc mống trời và nhẩn nha nhả tơ dệt kén. Thông không rõ, chuyện kể có phản ảnh đúng sự thật, và màn diễn trò kỳ lạ của bầy thằn lằn có thực hay chỉ là khoảnh khắc huyễn tưởng trong cơn say thuốc?

Sau đó cậu hỏi mơ-xừ có nghiệm thấy giống cậu.

“Mấy con thằn lằn cũng ghiền á phiện như ta vậy”, mơ-xừ quả quyết. “Nhưng ta không thấy rõ chúng, vì ta phiêu du suốt.”

“Phiêu du đâu vậy?” Thông ngơ ngẩn hỏi.

“Khó giải thích lắm. Ta thấy người như mất trọng lượng, nhẹ hẫng và dễ vỡ như bong bóng xà-phòng, lượn lờ chỗ này chỗ kia… Một cảm giác cực kỳ lạc thú.”

Về sau, mỗi khi tới nhà ma-đàm và mơ-xừ, điều trước tiên cậu hỏi mơ-xừ là “lối dẫn đến hang động thằn lằn”. Không phải vì cậu ghiền ma tuý, mà chỉ vì cậu muốn chiêm nghiệm lần nữa màn diễn trò của lũ bò sát, cũng như được phép sửa soạn nghi lễ bàn đèn thú vị cho mơ-xừ.

Sau mỗi lần viếng nhà đôi vợ chồng hảo tâm, trở lại viện mồ côi, Thông đều mang nhiều quà cho Kim An. Cô bé nhỏ lệ mừng Thông trở lại và luôn miệng miệng hỏi chừng, có thể nào Thông đi luôn không về? Cậu biết phải trà lời sao đây? Với ngần ấy tuổi, chính xác bao nhiêu cậu còn chưa rõ, thì làm sao cậu biết cách giải thích cho Kim An hiểu, khi cô bé chưa một lần trong đời tận mắt thấy, rằng sắc hồng của rổ mận cậu hái trong vườn nhà ma-đàm và mơ-xừ mơn mởn tới độ nào? Và làm sao cậu có thể thuyết phục được Kim An, rằng cảm giác vỗ về ve vuốt dễ chịu gấp ngàn lần hành động ấn tay chỗ này chỗ kia trên da thịt? Những điều chưa nói của Thông hoá nên vô nghĩa, khi cậu thấy đôi dòng lệ lăn dài từ hõm mắt trắng nhờ của Kim An. Lẽ đó cậu lặng thinh. Theo lời mấy đứa khác kể lại, nửa ganh tỵ nửa ác ý, mỗi khuya chủ nhật vắng mặt Thông, chúng đều bị tiếng than khóc của Kim An quấy phá. Giọng rên rỉ nghe như tiếng sói con tập tành hú trăng. Thông thắc mắc, bằng cách nào Kim An nhận thức ra màu trăng sáng trong cảnh giới vô hình và vô sắc?

Như thể đọc được những hoài nghi trong trí Thông, lần nọ Kim An tiết lộ cho cậu biết, rằng cô cảm nhận sắc màu cảnh vật xung quanh bằng khứu giác.

“Màu của trái chín có mùi ngòn ngọt”, cô bé nói. “Mưa thơm hương hoa như áo quần mới giặt. Một trưa nóng có mùi mục nát, và …”, giọng cô bé run bật, “máu tanh mùi đau đớn và đói khổ …”

Cô bé bối rối ngưng lời, liên tưởng tiếng gia cầm oang oác khi bị làm thịt sửa soạn cho những dịp lễ lớn trong năm, mà cô và Thông thỉnh thoảng hiện diện. Và cái mùi ấy đã hằn sâu trong tâm thức cô, bắt cô mường tượng ra màu sắc của cái chết. Trong giây lát ấy người cô bé run giật bần bật. Cánh tay trơ xương của cô bé giơ ra, quờ quạng.

“Không sao hết. Có tao đây”, Thông trấn an và ôm chầm lấy cô bé. Mấy đầu ngón tay cậu ấn vội lên đó đây khoảng bụng ốm, để tỏ bày những tín hiệu thương yêu, dẫu bất thường.

Kể từ đấy Thông biết thêm, không phải chỉ có mưa mà cả buổi trưa oi bức, và ngay đến cái chết của gà vịt đều mang màu sắc. Dần dà Thông chỉ bảo cho Kim An hiểu những khái niệm của sắc độ: Vàng cam là màu trái chín. Xanh lơ là màu trời một ngày nắng. Xanh lục là sắc lá những vòm cây. Đỏ là màu máu. Đen là màu đêm không trăng. Và trắng là sắc mây lướt ngang trời.

“Không, …” Thông ngần ngừ, “chưa đúng hẳn. Mây và trời đổi màu theo thời khắc. Những sáng nắng đẹp có màu tím đỏ, rồi cam … Tao hiểu rồi, chúng đổi màu theo bảy sắc cầu vồng. Y hệt.”

“Còn mày, mày có màu vàng cam, vì mày thơm mùi trái cây chín ngọt”, Kim An hớn hở thêm vào. “Nói cho em biết đi, anh Thông ơi”, Kim An đột ngột đổi cách xưng hô, “những chủ nhật vắng mặt anh có màu gì?”

“Chủ nhật không có màu gì hết”, Thông bối rối.

“Có, chắc chắn, bởi vì những hôm ấy thoảng mùi gì lẻ loi ghê lắm”, cô bé gật gù, hai lõm mắt hoen ướt. Trong lúc cậu nhỏ còn tìm lời an ủi, cô đã tiếp lời. “Em ghê tởm màu của cảm-giác-bị-bỏ-lại-trơ-trọi, vì nó bốc mùi chuột chết thúi tha!”

Khuya đó lũ trẻ giật bắn vì một tràng tiếng hét kinh hoàng, vọng lại từ phòng tập thể dành riêng cho các bà giữ trẻ. Lập tức một đứa được cử đi dọ thám. Lâu sau trở lại, nó kể giọng hốt hoảng, thấy rõ ràng bà mụ, ai cũng quen mặt ở khu phố này, đang cầm kềm kéo gắng sức lôi ra một nhúm thịt da máu me bầy hầy từ bụng bà Năm mập. Hẳn là đau lắm, vì nó nghe bà Năm la lên mỗi lần bà mụ hô lớn: “Thở gấp! Hả họng lấy hơi! Rặn!” Thấy ghê quá, nó bỏ đi, không dám ngó tiếp.

“Anh Thông ơi, em sợ”, Kim An thều thào, mò mẫm bò qua manh chiếu chỗ Thông nằm, rúm người chui vào lòng cậu. “Từ nãy tới giờ bốc toàn mùi của sắc màu đau khổ.”

Sáng dậy, lũ trẻ nghe tin, khuya qua bà Năm cho ra đời một em bé. Bởi bà khăng khăng không tiết lộ danh tánh cha đứa trẻ, nên bọn trẻ đồng ý với nhau, hài nhi cũng là trẻ mồ côi, nhưng không giống như chúng, mà chỉ một nửa.

Hai năm sau, nhân dịp bãi trường, ông bà Lacroix có ý đem Thông về thăm quê hương bốn tháng. Hai người bàn với cậu về chuyện rửa tội theo đạo Thiên chúa tại thánh đường, nơi họ đã nhận bí tích hôn phối. Mỗi người chúng ta cần phải trải qua nghi lễ này, Ma-đàm giải thích, để gội sạch tội lỗi tổ tông trước khi trở thành tín đồ thiên chúa. Niềm phấn khởi ban đầu của Thông lụn tàn chóng vánh, khi cậu thấy Kim An trở nên khép kín khác thường. Ngày lên đường càng gần, thái độ của cô bé càng rối loạn. Trông Kim An giống như một con búp-bê bị cô chủ bỏ rơi vì một món đồ chơi mới mẻ khác. Mọi lời an ủi của Thông đều thất bại. Điều làm cậu bận tâm nhất là phản ứng cực đoan của cô bé, tìm đủ cách tránh né Thông. Có lần cô còn cố tình dùng vật nhọn tự gây thương tích, bị các bà giữ trẻ trừng phạt, xích chân vào gốc ổi nửa ngày như một con chó dữ. Thông lo đem cho cô miếng ăn hớp nước, khử độc vết thương bằng nước lá ổi nấu chín, và không khỏi bàng hoàng, khi nghe cô thỏ thẻ, rằng cô mãn nguyện với khuyết tật mù bẩm sinh, vì diễm phúc thấy được thế giới màu sắc của những người có cặp mắt lành lặn, với cô, là “trò lừa gạt lớn nhất” của thị giác.

Cho tới lúc Thông có mặt tại miệt biển Côte d’Azur, nơi chôn nhau cắt rún của ma-đàm và mơ-xừ, xa quê muôn dặm, trong một ngôi nhà nghỉ mát thoảng hương á phiện, du dương điệu sóng vỗ, thêm lần nữa trong giấc ngủ mơ, cậu nghe lại tiếng sói tru rên rỉ. Mặc dù giấc chiêm bao nhuốm sắc huyễn hoặc như được bàn tay trẻ con dồi dào ý tưởng tô phết, cậu vẫn nhận ra ký hiệu của một thế giới đầy mâu thuẫn ẩn trong những sắc thể. Khung đêm xanh ngọc thạch. Vầng trăng loé chanh lục. Rặng núi vàng như tràn ngập cánh đồng hoa cúc đang độ nở. Con sói đỏ rực màu phượng vĩ. Và lạ lùng hơn cả: Thông còn nhận ra, hương á phiện trong giấc mộng biến thành mùi nồng nặc khó ngửi, đã có lần được Kim An liên kết với đớn đau và bất hạnh. Màu của cái chết.

Bốn tháng sau, Thông trở lại viện mồ côi, tức khắc được những đứa trẻ khác kể lại những gì đã xảy ra cho Kim An trong lúc vắng cậu. Cô bé bỏ ăn, ốm trơ xương. Đêm, cô không ngủ, kêu rú như thú vật, bị mấy bà phù thuỷ nhốt trong phòng hẹp. Bữa nọ, cô lấy đinh sét đâm vào bụng. Vết thương làm độc, hành hạ cô chết đau đớn, xác bó chiếu đem chôn trong nghĩa địa những người vô gia cư.

Hôm Thông tới thăm, đang độ cuối mùa phượng vĩ. Hoa rụng lên mộ Kim An, lốm đốm hoen máu. Cậu sấp người, giang tay ôm lấy nắm mộ con, bật khóc, hít thở hương hoa úa, hương đất và hương hoài niệm. Lần đầu tiên trong quãng đời non trẻ, cậu thật sự cảm nhận mùi hương của khổ đau từng được Kim An nhắc nhở. Nhưng trong khoảnh khắc này, lại là mùi dễ chịu của cái chết. Thông tin mình đã cảm nhận được, ấy là hương sắc hình bóng cũ đang dấy mầm tái sinh trong tâm thức cậu.

Chiều hôm ấy, có người phu đào huyệt tìm thấy Thông nằm mê man trên mộ con bé mồ côi Kim An, lập tức báo tin cho các bà giữ trẻ trong cô nhi viện. Cậu được cha mẹ nuôi đưa vào một bệnh viện dành cho Pháp kiều. Sáu tháng sau, cậu hồi tỉnh, chỉ biết ra hiệu như thể quên mất ngôn ngữ loài người. Trên bụng cậu thấy hiện mờ vài vết tích như bị vật nhọn châm chích, không thể chẩn đoán nguyên do từ đâu. Theo lời y sĩ, khả năng hồi tưởng của cậu còn yếu vì tâm thân suy nhược, cần nhiều yên tĩnh và được bồi dưỡng lâu dài. Sau khi xuất viện, ma-đàm và mơ-xừ Lacroix đem cậu về nhà riêng. Nhờ được chăm sóc bằng lòng thương yêu và kiên nhẫn, mù sương ký ức Thông dần dà tan biến, và cậu từ từ lắp ráp những ảnh sắc quá khứ vào khung trí nhớ rách rưới. Chỗ này một gương mặt, chỗ kia một giọng nói thân quen … Có điều, Thông không thể ngờ, đó chính là chân dung và ngũ uẩn của Kim An tái sinh đây đó trong ý thức cậu.

Ma-đàm và mơ-xừ Lacroix mừng rỡ khi nghe Thông, bữa nọ, bật nói trở lại. Cho dẫu cậu đổi giọng trong trẻo hơn trước như một đứa con gái, nhưng chẳng hề gì. Để ăn mừng, họ tổ chức một bữa tiệc lớn. Tất cả những nhân vật tiếng tăm ở Sài gòn, bản xứ cũng như Pháp kiều, đều được mời tham dự, có cả linh mục truyền giáo Paul Debeauvais vừa đặt chân lên xứ An nam. Vừa chạm mặt người đàn ông râu rậm, Thông giật bắn người. Mặc dù trí nhớ còn kém, cậu vẫn nhận ra tức khắc, đó chính là cái người đã tỏ lời nhắn nhủ cậu trong mơ, sẽ có ngày đến dẫn cậu du hành cùng ông. Nhà truyền giáo tỏ vẻ đặc biệt để ý tới cậu thiếu niên có âm giọng nữ phái, nói rành ngôn ngữ mẹ đẻ của ông. Bắt đầu từ đó ông thường xuyên liên lạc với Thông và vợ chồng ông bà Lacroix.

Gần mười năm sau, Thông đến tuổi trưởng thành và kết thúc học trình tại một trường trung học Pháp, nhà truyền giáo ngỏ lời cùng mơ-xừ và ma-đàm Lacroix, cho phép ông nhận cậu làm người thông ngôn theo ông trong hành trình truyền giáo xuôi miền đồng bằng sông Cửu long.

 

(Đức, tháng 4.2015)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)