Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Nhật ký biển

 

 
 

clip_image002

Những ngư dân Marseille – Frank Koebsch

Phóng dịch một trích đoạn tiểu thuyết,

nguyên bản Đức ngữ

"Tausend Jahre im Augenblick"

(Trong khoảnh khắc ngàn năm),

cùng tác giả.

 

Giữa đêm, tròn một năm sau tai nạn chết người lúc xây tháp chuông giáo đường, một hồi chuông khác thường gióng thức dân làng Cái Bàu. Tiếng chuông lạc nhịp, lúc vang dội thống thiết lúc rã rượi thê lương. Không hẹn, mọi người kéo tới tụ quanh tháp chuông, xem xét sự tình. Kẻ thắp đuốc, người soi đèn dầu, nhốn nháo một biển lửa nhấp nháy khoảnh đất đêm. Họ đưa mắt ngái ngủ ngó lên. Cha Bôn và Thầy Thông, như hai nhạc trưởng bất đắc dĩ, đang loay hoay tìm cách chặn đứng chuỗi thanh âm dị thường, không biết bị động lực ma quái nào xui khiến, cứ gióng giả lê thê. Chỉ hoài công. Phải đợi tới lúc có ông thầy pháp, được Cha Bôn miễn cưỡng chấp nhận, đốt ba nén nhang quấn quanh trán, vừa đi vừa tụng bùa giáp vòng gác chuông bảy lần, quả chuông đồng nặng nề mới dừng lại. Dân làng linh cảm điềm bất an, xầm xì bàn tán một đỗi rồi rủ nhau ra về, chẳng thiết vỗ tay khen thưởng.

Hai năm sau, khi một ngôi thánh đường khiêm tốn với nhà tu và nhà bếp riêng được xây xong, Cha Bôn khởi sự học tiếng An nam, đầu tiên với lũ trẻ háo kỳ, sau đó với các vị trưởng lão. Tính hiếu học và năng khiếu sinh ngữ của ông làm ai cũng ngạc nhiên. Chỉ sau một thời gian ngắn, ông đã có thể bàn luận với Thầy Thông bằng tiếng An nam về những đề tài cầu kỳ, với thuật ngữ và dấu giọng gần như hoàn hảo. Ông còn nảy ý sáng chế ra một kiểu chữ viết tân kỳ, dựa theo mẫu tự La tinh, nhằm thay thế chữ Nôm có nguồn gốc Hán tự vừa khó học vừa khó nhớ.

Để rồi, vào một khuya mất ngủ đầu mùa khô oi bức, trong gian phòng lắt lay hương hoa lài ngoài đêm lùa vào, bên bàn viết kê cạnh khung cửa sổ lá chằm, dưới trũng sáng giá đèn cầy ba ngọn, Cha Bôn trang trọng đặt viết ghi xuống dòng chữ đầu tiên chuyển dịch bộ kinh thánh chép bằng tiếng La tinh: »Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất… «

Chuỗi ký ức từ đáy tiềm thức ông trào dâng. Vịnh biển ấu thời chan hoà ý thức nồng hương muối. Mẩu đối thoại váng vất mùi cá biển của cha và chú trong chuyến ra khơi đầu tiên. Khát vọng phiêu lưu về những vùng đất xa lạ đâm chồi trong tâm tưởng. Và nghi vấn dằn vặt về nguồn cội của nhân loại.

Nhưng, sẽ có những ai tại dải đất khốn khó xứ đông nam á nầy, với hơn bảy mươi phần trăm người mù chữ, đọc được bản kinh thánh tuyệt vời của đấng chúa trời, Cha Bôn tự hỏi. Dẫu những nghi hoặc, ông cố đạo vẫn tiếp tục dịch thuật những lời khải tri, chữ nối chữ, hàng tiếp hàng, với lòng kiên trì và đức tin tuyệt đối vào đấng tối cao làm hậu thuẫn, song hành cùng tham vọng thuộc địa hoá toàn cõi Đông dương của đế quốc Pháp.

Một sáng tinh sương nọ, sau ngày hoàng đế An nam bị ép buộc ký hiệp ước trao toàn cõi Nam kỳ cho người Pháp, trong giấc ngủ mơ màng Cha Bôn bắt được tiếng chuông vang động lẫn cùng tiếng thú rên xiết và thanh âm kim loại va chạm. Ông tỉnh giấc, khoác vội áo choàng, châm đèn, bước ra. Cha Bôn không tin ở mắt mình. Trong vòm sáng đầu mùa khô đỏ choé, trong vắt, ông nhác thấy quả chuông đồng treo đong đưa một xác thú sẩm đen. Người giáo sĩ cuống chân leo lên gác chuông. Con chó của ông bị ai cột đuôi vào dùi chuông, hai vành tai bị cắt mất, đang giẫy giụa tìm cách giải thoát. Mỗi lúc va đầu vào thành chuông, con thú rú rống đau đớn. Vọng âm báo tử càng lúc càng yếu. Khi Thầy Thông hợp lực cùng Cha Bôn cởi được dây trói, ánh ngày đã chan hoà. Máu đóng váng thành vũng trên sàn gỗ. Vết thương của con thú được bó băng khữ trùng bằng i-ốt. Máu được rửa sạch. Nhưng từ đó, chuỗi tiếng kêu thảm thiết của con thú thỉnh thoảng quay về theo cơn mộng dữ, vọng ám giấc ngủ Cha Bôn. Ông chiêm bao thấy lũ đàn ông bịt mặt, trần truồng, xẻo tai và treo ngược con thú vào dùi chuông, rồi hùa nhau xô đẩy từng chặp. Mỗi bận chuông gióng là một tiếng rú nhục hình. Máu, dãi nhớt, mồ hôi, trộn phân và nước tiểu trây trúa thân thể ông trần trụi. Ông nghe ra tiếng mình hét rống hoá thành tiếng chó tru. Nhưng lạ thay, trong cực đỉnh đớn đau ông cảm nhận một nỗi dục lạc lạ kỳ, thấy mình loé sáng trong lăng kính mống trời. Ông dậc lạc bắn tinh thành cơn mưa hoan dâm, cấy vào bụng đất phì nhiêu những hạt mầm phúc âm. Những giấc mộng dữ in dấu rành rành trên vải giường, đè nặng tâm thức ông, bắt ông lần đầu tiên trong đời ghi thành nhật ký.

Những lúc ấy ông không ngớt hồi tưởng thời thơ ấu ở quê nhà. Ông là con một, sinh trưởng trong một gia đình hành nghề đánh cá tại vịnh Lyon ở miền nam nước Pháp, cách Marseille một eo biển ngắn. Mẹ ông kể lại, bà sinh khó. Xương chậu của bà hẹp, phải mổ. Thời đó, ngành sản khoa còn phôi thai, dụng cụ y học thô sơ, phẫu thuật là chuyện rủi may, trời định. Còn cha ông là dân lưới cá, gần như mỗi ngày ông đều ra khơi với chú bằng con tàu nhỏ gắn động cơ. Lưới được mẻ nào, hai người lái thẳng tới Marsseille, bán cho bạn hàng.

Vào mùa nghỉ hè năm lên bảy, trước khi giáo đường đổ chuông thánh lễ năm giờ sáng, ông được phép theo cha ra biển. Trên không, bầy hải âu liệng vòng bám theo, buông tiếng inh ỏi. Sáng ấy, lần đầu trong đời ông hiểu ra ý nghĩa của lạc thú phiêu du tiềm ẩn trong ảnh sắc thiên nhiên tráng lệ. Trời và biển tiết tấu vào nhau thành bản giao hưởng của thời khắc. Cảnh nhá nhem tỏ dần trong cơn xuất huyết đầu ngày, từ đỏ choé đổi vàng rực. Để rồi, như một con kỳ nhông chơi trò đổi sắc, mái trời chuyển xanh tía, pha sắc vàng nõn đầu trưa, chiếu rọi gương biển lấp lánh thiên thanh. Sương khói đại dương xoá mờ ranh giới địa lý trời và biển. Đất đai tuồng như liền lạc nhau. Khát vọng viễn du của cậu bé Debeauvais dần dà tượng hình, mang diện mạo, có thêm khẩu vị, mùi hương và cảm xúc. Đối với cậu bé Paul, những trải nghiệm đầu tiên ấy đều dính líu ít nhiều tới vị muối mặn, khiến cậu về sau không nguôi nhớ về biển cùng những rúng động của ngũ quan, sâu sắc như một cuộc hoá thân.

Trong khi làm việc, hầu như lúc nào ông Debeauvais cũng ở trần, phơi phiến ngực nạm lông vàng hoe. Gáy lưng ông vạm vỡ bò mộng, cũng đầy lông xoắn. Bắp tay phải ông sâm hình một con cá ngựa màu xanh đen. Mổi lần ông chuyển động cơ bắp, con cá ngựa bắt đầu cựa quậy như cố tìm cách thoát thân, phóng ra đại dương.

»Sau này qua đời, ba nhớ để lại cho con con cá ngựa nghe?« đã có lần Paul buột miệng hỏi, khiến ông Debeauvais không khỏi bối rối.

»Lẽ đương nhiên, mon fils, trước khi chết ba sẽ dặn người ta lột da có hình sâm con cá ngựa, đưa cho con«, ông cười xoà, rồi giơ bàn tay chai sần xoa đầu Paul.

Có điều, Paul không mấy thích mùi mồ hôi của ông, nó hăng hắc mùi chua của rượu táo, dầu cá và hành sống. Paul nghĩ mình biết lý do tại sao, chỉ vì cha cậu rất hảo ăn Sarde in Saor, cá mòi ngâm giấm, một món đặc sản miền Venezia, ông thường ăn kèm cả chục củ hành sống.

Trong chuyến chở hàng tới hải cảng Marseille, ông Antoine Debeauvais và chú thường tán gẫu những chuyện mà Paul chẳng hiểu gì cả.

»Chú mày phải thử một phát với con nhỏ Jasmin. Oh là là!«, ông nói, đồng thời ra dấu tay lộ liễu.

»Anh không thấy nó có vẻ gì bí hiểm sao?«

»Chẳng có gì bí hiểm hết. Cái thứ đàn bà á châu chúng nó là như vậy. Chú mày không thể tưởng tượng nổi thịt da của nó mềm mại như thế nào đâu. Không, không phải nhão nhoẹt như khoai nghiền, mà êm mát như một con búp bê làm bằng lụa Trung hoa, hiểu không?«

»Anh biết làm thơ từ khi nào vậy?« chú cười lớn, rồi rít sâu một hơi thuốc píp. »Em chuộng con bé lai da đen Alisa hơn.«

»Thử rồi. Con nhỏ hôi rình mùi cá.«

»Anh em mình cũng vậy.« Rồi chú nói thêm, xương yết hầu trồi sụt nhấp nhỏm: »Cái lũ điếm tinh quái đó rặt một bầy cá ướp trầm hương mê hoặc. Mà anh em mình tính sao với thằng Paul đây?«

»Nếu hứng, tao với mày chơi trò bánh mì kẹp thịt với con Jasmin«, vừa nói ông Debeauvais vừa ra hiệu bằng cách đập hai lòng tay vào nhau, rồi ông xoay qua Paul, tủm tỉm. »Còn con, con hứng chơi trò gì? Một phần bánh kem sô-cô-la được không?«

Hai người đàn ông bật cười khoái trá. Đoạn, ông Debeauvais xướng giọng tuồng một bải thánh ca đổi lời tục tĩu, được cậu em phấn khởi hoà giọng.

Khi tàu gần đến bến cảng, ông Debeauvais trỏ tay chỉ Paul xem thánh thất Notre Dame de la Garde, biểu tượng tốt lành của mọi người dân Marseille, xây trên đỉnh đồi tít xa xa. Paul xoe mắt chiêm ngưỡng. Không dưng cậu cảm thấy ngực trái nhói đau, như có ai dùng vật cùn thốc vào. Lạ thay, cái đau gần như dịu dàng, bắt cậu thẫn thờ liên tưởng tấm ảnh vẽ thánh Sebastian bị trúng tên cắm xuyên ngực in trong tự điển bách khoa Larousse.

Khát vọng viễn du của cậu càng đậm nét, khi tàu đánh cá cột neo bến cảng Marseille, là nơi các thương thuyền từ khắp nơi đổ về. Lái buôn da trắng, da vàng, da đen, ả rập và nhiều giống dân tạp chủng gặp gỡ nhau tại đây để đổi trao và bán mua hàng hoá. Tơ lụa và đồ men từ Trung hoa, cà phê và hạt ca-cao từ châu Mỹ la-tinh, hương liệu từ trung đông, đồ rèn từ bắc Phi, cao su từ Công-gô, gia vị và trà từ Ấn độ, trái cây khô từ Thổ nhĩ kỳ, và cá, cá, vô số cá cũng như nhiều loại hải sản khác. Trên không, từng bầy hải âu đói rình rập săn mồi, nhào lượn không mỏi. Một loại tạp hương lạ lẫm, trộn lẫn hài hoà, ngập ngụa không gian. Người mua kẻ bán chuyện vãn, trả giá, rao bán, la lối và cãi vã bằng một thứ ngôn ngữ chợ búa.

Sau khi bán xong mẻ cá, cha và chú dẫn Paul tới một tiệm bánh nằm trong một ngõ hẹp lát đá. Bên trong thấy treo nhiều khung hình chụp các giống dân thuộc địa, có vài tấm chân dung phụ nữ bày ngực trần, phì phèo ống điếu. Ông Debeauvais dúi vào tay bà chủ tiệm mập phì một mớ tiền, xoay qua dặn dò Paul, ngồi ở đây chờ, muốn ăn bao nhiêu bánh tuỳ thích. Nói xong, hai người đàn ông lủi mất, như hai con thú hoang xổng chuồng.

Sau khi ngấu nghiến một lố bánh kem Petits Fours và uống xong hai ly sữa, Paul bắt đầu thấy chán. Để tránh ngủ gục, một thói xấu mà mẹ cậu, một con chiên ngoan đạo triệt để cấm đoán, cậu xin phép bà chủ tiệm, ra ngoài dạo chơi.

»Petit homme, nhớ đừng đi quá xa và để ý coi chừng! Đây là Marseille, không phải xứ quê mùa của cậu đâu nhé !« bà ta căn dặn.

Marseille một xế trưa, sau khi bôi xoá lớp hoá trang tuồng hát bán buôn khi nãy, lạnh nhạt chào đón cậu bé Debeauvais. Những căn phố nhiều tầng, lợp ngói đỏ, những khung cửa sổ tô xanh da trời khép hờ, lớp sơn loang lổ, hoen tróc, những ban công trồi thụt, móc dây phơi quần áo, đối diện nhau gần đến nỗi, có thể giơ tay chạm nhau. Paul lần theo mùi tạp chủng ban nãy, tìm ra quảng trường nhóm chợ, trước một thánh đường xây theo kiến trúc la mã cổ Byzantine. Hải âu và bồ câu tranh nhau chí choé đầu tôm đuôi cá vương vãi. Trong cái nóng trưa nắng, các lái buôn đang dọn hàng. Vài người thợ quét đường lặng lẽ làm việc. Paul ngước nhìn ngôi giáo đường, thấy hai đỉnh ngọn tháp dường như chuyển động ngược hướng mây trôi. Cậu tưởng mình có thể nhận ra những nhân dạng và những diện mạo lệch lạc phô diễn nỗi đớn đau dị thường. Một nỗi thôi thúc kỳ bí thúc đẩy cậu leo lên bậc cấp, bước vào chính toà, bị choáng ngợp bởi bầu không khí trầm mặc, gần như uể oải. Chỉ thấy lác đác dăm ba người. Paul ngẩng mặt ngắm vòm mái cong lắp kính màu sặc sỡ. Luồng nắng dọi tia lạ thường, rực rỡ hấp lực, bắt cậu bước lại, ấn quì xuống. Đường nét kính hoạ tạp sắc thôi miên, dầm mình cậu trong bát thánh chan hoà ánh sáng phúc âm, thuật lại ngắn gọn toàn bộ thánh kinh. Những mẩu chuyện, mà mẹ vẫn đọc cho cậu nghe mỗi đêm một tiểu đoạn trước khi ngủ. Tâm thức cậu loé sáng một khối như trúng phải sấm sét.

Khi bước ra, Paul thấy mình như vừa tái sinh và chợt hiểu ra, mình sẽ làm gì sau này. Phải, cậu sẽ học thành tu sĩ và trở thành một người truyền giáo, nhằm cứu vớt đám người khốn khổ tại những xứ thuộc địa.

Ðêm đó, sau khi đọc kinh tối, cậu thuật lại tự sự cho bà Debeauvais và ngoan ngoãn lắng nghe bà kể chuyện thánh Sebastian. Ðoạn đường khổ hạnh mà thánh Sebastian đã trải qua bắt cậu bật khóc. Liên tiếp những đêm sau đó, bà lặp đi lặp lại, mẹ sẽ dạy dỗ và khuyến khích con tu học thành đức hồng y, hoặc ít ra cũng là tổng giám mục địa phận Aix-en-Provence. Thay vì phản đối và thố lộ cho mẹ biết ước vọng trở thành linh mục, sẽ lìa nước Pháp, sang một xứ thuộc địa, trước tiên với mục đích hoàn thành sứ mạng truyền giáo, sau đó nhằm thoả mãn khát vọng phiêu lưu, Paul chỉ thốt hỏi một câu vô vị:

»Nhưng mà, maman, rồi ai sẽ săn sóc cho ba mẹ sau này?«

»Ba mẹ sẽ có cách giải quyết«, mẹ cất giọng hờ hững.

»Hay là mẹ sinh tặng cho con một đứa em trai?« Paul nghĩ, đó là cách giải quyết tốt nhất.

»Không được đâu con«, mẹ trả lời, rồi cúi xuống hôn lên trán Paul, chúc cậu ngủ ngon và lặng lẽ bước ra. Đêm ấy mẹ không đọc cho cậu nghe đoạn thánh kinh nào.

Thời thơ ấu của Paul tại eo biển Địa trung hải, trong một gia đình vỏn vẹn ba người, đã bị cách hành xử khó hỉểu của bà Debeauvais xé tan hoang, xát mặn, làm phai nhạt và héo úa trong bóng tối đầy ắp nghi vấn. ›Lý do nào đã cản trở mẹ sinh thêm con?‹ cậu thầm hỏi. Trò chơi bánh mì kẹp thịt, cậu đã từng nghe cha và chú bỡn cợt, nghe dễ dàng lắm mà.

Khi Paul tới tuổi khôn lớn, nhờ hấp thụ một nền khoa bảng tuyệt hảo, cậu không những hiểu được phương pháp lý luận theo khoa học tự nhiên một cộng một luôn luôn là hai, mà còn thấm nhuần thuật ngữ thần học của chủ nghĩa độc thần, triết học đông phương, và tính mâu thuẫn của một thứ tình mẫu tử rối rắm. Kết quả những cố gắng của Paul là ngày cậu nhận bí tích tấn phong linh mục, vào tu viện chuẩn bị cho hành trình truyền giáo. Ngày cậu lên đường sang Đông dương, ra từ giã tại hải cảng Marseille bà Debeauvais hôn khóc và dúi vào tay cậu một quyển sổ con, bảo đọc giải khuây trong bảy tuần hải hành. Một tập nhật ký.

Vào buổi chiều thứ bốn mươi sáu, gió nhẹ, tiết trời nhiệt đới êm mát, con tàu xuôi ngược Marseille-Sài gòn ba lần trong năm tiến vào vịnh Thái lan. Trên boong tàu hấp hối nắng tàn, nằm trong ghế dài, linh mục Paul Debeauvais vừa đọc xong những dòng sau cùng trong quyển nhật ký viết dang dở. Ông gấp sổ lại, thẫn thờ ngắm tấm ảnh màu thuốc rửa nâu cũ mẹ kẹp giữa những trang giấy, chụp chân dung bà thuở thanh xuân. Mái tóc bà trông như mới uốn, tia mắt đào hát mơ màng, khoé cười mỉm khiến gương mặt bà nhuốm vẻ ngây thơ, tràn đầy tin tưởng ở một tương lai thảnh thơi và hạnh phúc. Lúc ông ngẩng mặt, ở hướng tây mặt trời sưng tấy một lát lửa đỏ, đang bị đại dương, cũng đỏ rực một phiến, nuốt trửng từng miếng. Chỉ là trò phỉnh lừa của ý thức, không gì khác hơn một trò lường gạt của thị giác, ông bâng khuâng nghĩ thầm và chẳng thiết tha gì tới bữa ăn tối. Khó tưởng tượng nổi. Thượng đế chỉ cần sáu ngày để dựng nên vũ trụ, còn ông có tới bốn mươi sáu ngày để giải mã những ẩn số của cuộc đời mẹ, phải phấn đấu cam go với quyển tập con vỏn vẹn trăm trang chứa đầy những ghi chú thất thường, đứt đoạn. Bây giờ ông mới thấu hiểu những gì mẹ phải chịu đựng sau khi hạ sinh ông. Một lầm lỗi trong ca giải phẫu trầm trọng đến nỗi, chuyện gối chăn với chồng đối với bà, sau đó, trở nên một cực hình khủng khiếp. Bà tìm cách thoả mãn chồng bằng cách khác hoặc để cho chồng giao hợp hậu môn, cho tới thời điểm bà không thể chịu đựng được nữa. Trong những buổi xưng tội, linh mục giáo phận lên án hành động giao hợp này mạnh mẽ đến nỗi bà càng lúc càng tránh né và ghê tởm chuyện tình dục vợ chồng, cho tới lúc bà quyết định từ chối hẳn. Bà xa lánh ông Debeauvais như hoạ dịch tả. Đời sống vợ chồng biến thành địa ngục và ảnh hưởng nặng nề tới tâm lý bà. Mỗi khi tiếp xúc với người lạ, nhất là người khác phái, bà phản ứng hốt hoảng. Căn cứ theo lời xưng tội, linh mục giáo xứ chẩn đoán bà bị quỉ ám và gởi bà tới một nhà dòng nằm trong một thung lũng hẻo lánh vùng Aix-en-Provence để trục quỉ. Đã đôi lần Paul được ông Debeauvais dẫn đi thăm mẹ.

Trong ký ức mười tuổi của Paul còn rành rành đậm nét những cánh đồng oải hương ngút ngàn dọc đường và cách ứng xử của mẹ trong lần thăm viếng đầu tiên sau một thời gian dài xa cách. Bà nữ tu trưởng dẫn hai người ra vườn rau và trỏ tay chỉ người đàn bà trong bộ áo xám bạc thếch, đang cặm cụi làm việc. Nghe động, người đàn bà ngẩng đầu, khuôn mặt ám mờ loang lổ dưới vành nón rách. Không một chút ngần ngại, Paul cuống chân chạy tới, nhưng khựng lại ngẩn ngơ cách bà một sải tay. Tia mắt trâng trối, cặp môi mím nghiêm nghị trên gương mặt thất thần của người đàn bà đứng trước mặt cậu không mang bất kỳ vẻ gì thân thuộc của mẹ suốt thời thơ ấu.

»Maman?« cậu ngần ngừ thốt tiếng.

Và rồi, như được lay thức từ cơn mê trầm, người đàn bà buông dao và bó rau vừa cắt, dang rộng vòng tay. Trong lòng mẹ, Paul bắt được những biến đổi của mùi hương thân thể bà. Không phải mùi tỏi hành, giấm nho, mỡ heo, cá biển và phó mát của những ngày trong tuần, hoặc hương đường cháy, quế hồi, dâu táo vào những chủ nhật và lễ lạt, mà là mùi mồ hôi khét nắng, rau cải sống, lẫn lộn vô số những mùi vị vừa kỳ thú vừa xa lạ, khó định nghĩa khác.

Giờ đây, sau khi linh mục Debeauvais đọc xong quyển nhật ký mẹ viết, trước khi tàu dừng bến một xứ Đông dương, ông đã có thể xác định những đổi thay của mùi hương thân thể mẹ mùa hè năm nào. Chính là khoảnh khắc khởi đầu một tiến trình rữa nát của một trường hợp tử đạo.

(Đức, tháng 3.2015)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


2 bình luận »

  • Tra Dao viết:

    Lâu quá mới được đọc một bài viết mới của NND. Rất đặc sắc và rất là Ngô Nguyên Dũng. Cám ơn NND đã góp phần làm mới văn chương Việt Nam. Rất mong sẽ được đọc thêm những truyện ngắn khác nữa. Nhất là những câu chuyện của thời tuổi trẻ du học ngày nào.Cảm ơn.

  • Ngô Nguyên Dũng viết:

    Cám ơn độc giả Tra Dao đã bỏ chút thì giờ đọc bài viết của tôi
    và viết lời chia sẻ. Tôi tin rằng, người viết nào cũng mong đợi
    những phản hồi của người đọc, dẫu thuận hay bất lợi, để xác định
    được vị trí của văn chương mình trong văn đàn tin mạng rất đa dạng
    hiện nay.

    Vâng, tôi sẽ tiếp tục phóng dịch tiếp các trích đoạn khác
    trong tiểu thuyết được tôi viết bằng Đức ngữ từ bấy lâu nay,
    xem như một món quà văn chương của tôi gởi đến độc giả Tra Dao nói riêng
    và tất cả độc giả Da Màu nói chung.

    Trân trọng

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)