Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Mặc Đỗ, Phê Bình Email bài này

II-VĂN HỌC VIỆT NAM BIỂN NGOÀI -Cuộc di tản ra khỏi Việt Nam, tháng 4. 1975/ Sống và viết trên một quê hương mới

2-Sống và viết trên một quê hương mới

A-Nhà văn Việt tỵ nạn và tiếng văn Việt lưu vong tại một nơi không được thân hữu- “Chúng tôi là những kẻ do các người gửi ra chiến đấu cho một cuộc chiến mà/Các người chẳng hề biết chi về nó hết[…]Chúng tôi giao tranh với một địch quân thập bội quân số ở thành phố Huế/ trong khi binh sĩ Việt Nam Cộng hòa trấn lột xác chết tại miền an toàn phía sau…’We are the ones you sent to fight a war/you didn’t know a thing about[…]We fought outnumbered in Hue City/while the ARVN soldiers looted bodies/in the safety of the rear…’" (W.D. Ehrhart, "A Relative Thing")

Như đã viết ở bài trước, từ tháng 4. 1975, cộng đồng Việt lưu vong vừa thoát khỏi tầm bắn của người Cộng sản nay sẽ thành mục tiêu của các nhóm phản chiến tại Hoa kỳ và những nhà văn Việt di tản nhưng đồng ý với họ. Đoạn thơ trên của thi sĩ/tiến sĩ W. D. Eraheart, một cựu quân nhân từng  phục vụ tại Miền Nam, có thể xem là cảm tưởng chung và xấu xa nhất của một số người Hoa Kỳ  về quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã tử trận để bảo vệ Miền Nam.  Nhiều quân nhân ấy, có người đã gửi thân tại mộ địa Huế, không thể biết tới W.D. Ehrhart và cái lối viết lách tắc trách của ông ta. Nhưng cộng đồng tỵ nạn chúng ta có nhiều người đã biết, nên biết đến các cuộc nghiên cứu què quặt hay những lời phát biểu kiêu căng của họ mà người viết đã trình bày như sau:

-"[…] Ngoài người Cộng sản, Văn học Biển ngoài còn phải đối phó với những tổ chức hay nhân sự phản chiến bản xứ thách thức về tính cách chính trị cũng như văn học của nó.  Sự thách thức này đã được một số người cầm bút Việt Nam tái định cư, đa số ở Hoa Kỳ, và  trong nước hỗ trợ bằng cách tham dự trực tiếp vào chương trình nghiên cứu do các tổ chức này đề xướng. Lần ra đi thứ hai này dĩ nhiên còn đau đớn và khó khăn hơn vì không riêng gì người cầm bút mà cả cái cộng đồng Miền Nam thất trận phải di tản sẽ vẫn tiếp tục là cái bia nhắm cho cánh phản chiến Hoa Kỳ, nay được tăng cường một cách rất hữu hiệu bằng một thứ "máu mới " (new blood) : các cựu quân nhân Hoa Kỳ chống chiến tranh Việt Nam nay trở thành những giáo sư đại học đầy uy quyền trong lãnh vực nghiên cứu về văn chương Việt Nam cộng thêm những người Hoa Kỳ khoác bộ áo hàn  lâm nay chính thức tìm được đất đứng trong bộ máy tuyên truyền "văn hóa" của chế độ Cộng sản tại Hà nội." (Nguyễn Tà Cúc, bđd)

Nếu giới nhà binh đã bị tước vũ khí vào ngày 30 tháng 4 và bị giam vào nhà tù rải rác trên toàn Việt Nam thì  những tổ chức hay nhân sự phản chiến bản xứ và những giáo sư đại học đầy uy quyền trong lãnh vực nghiên cứu về văn chương Việt Nam này, có khi không ác ý mà chỉ vì không đủ kiến thức và thành kiến chính trị, đã tìm cách tước ngòi bút của nhà văn tỵ nạn bằng cách bỏ qua họ trong các chương trình nghiên cứu, và hơn thế nữa, đã "chúng khẩu đồng từ" rằng nhà văn Miền Nam không giữ được ngôn ngữ Việt để tiếp tục sáng tác. Cộng với cái nhà tù "thiên nhiên" là sự cô lập phải có dành cho những nhà văn sử dụng một thứ  ngôn ngữ xa lạ, hầu như không ai biết đến vv…thì số phận văn nghiệp của nhà văn tỵ nạn như thế nào, chắc khỏi cần nghiên cứu cho cho xa xôi cũng có thể đoán trước là không-khá-được.

Một trong những tổ chức phản chiến "đầy uy quyền" ở đại học và có mối xuất bản ở Hoa Kỳ là Học viện William Joiner "chuyên nghiên cứu về Chiến tranh và những Hậu quả về xã hội do chiến tranh gây ra" (William Joiner Institute for the Study of War and Social Consequences) tại Đại học Massachusetts, Boston. Thời ấy, năm 2000, khi Trung tâm này bắt đầu công bố chương trình tuyển mộ nghiên cứu sinh vào đề án nghiên cứu cộng đồng tỵ nạn thì Nguyễn Mộng Giác là người có nhiều nhận xét về các nhà văn thoát đi trước nhất. Đó là lý do người viết bàn đến vài điểm trong bản báo cáo của ông có tựa Sơ thảo về các giai đoạn thành hình và phát triển của giòng văn xuôi ở hải ngoại từ 1975 đến nay.

So sánh các nguồn tài liệu trên, người viết nhận thấy hai điều. Thứ nhất, điều đầu tiên mà họ muốn là thuyết phục cộng đồng thế giới rằng nhà văn Việt Nam tỵ nạn đã mất khả năng sử dụng tiếng Việt. Trong bài trước, người viết đã dẫn ra một thí dụ là bà Lady Borton, cũng là một phần tử phản chiến trước 1975, nay cũng tham dự với Trung tâm Joiner với tư cách giáo sư thỉnh giảng. Thứ hai, thành phần vẫn được xem là "trí thức tiểu tư sản" từng cầm súng hay cầm bút như Tự lực Văn đoàn, các nhà văn Miền Bắc di cư vào Nam rồi giới cầm bút Miền Nam tỵ nạn đều tiếp tục bị vài người thuộc các tổ chức này– tiêu biểu như Lady Borton hay giáo sư/nhà văn Wayne  Karlin, một người hoạt động nổi bật thuộc Trung tâm Wiliiam Joiner Center (ông là khuôn mặt Hoa Kỳ duy nhất thuộc Trung tâm này được Trần Văn Thủy phỏng vấn trong Nếu đi hết biển…)– hoặc một số nhà văn di tản tấn công một cách trực tiếp hay gián tiếp. Trong bài trước, người viết đã dẫn chứng trường hợp bà Lady Borton:

-[…] Chúng tôi có một người Mỹ gốc Việt lo việc chuyển ngữ cho vài bài thơ này[…]Nhưng cô ấy dùng từ điển của Miền Nam, của Miền Nam cũ, và cô ấy dịch mấy chỗ sai liền vì cô ấy không biết những chữ này, đúng chưa? […] Những chữ này là những chữ địa phương và  người ta phải biết chúng là chữ địa phương cho nên trong số các bạn hay đồng nghiệp người Việt  ở Hoa Kỳ có nhiều người gốc Miền Nam, sẽ không biết được một số chữ Miền Bắc được sử dụng trong mấy bài thơ xưa […]người Mỹ gốc Việt không có một căn bản sâu xa trong (sự am hiểu) văn hóa. Không thể có được. Bạn không thể có được (cái căn bản am hiều sâu xa  ấy) nếu bạn đã sống lâu ở một quốc gia khác…"(Lady Borton, Trả lời phỏng vấn của David Tsang, bài đã dẫn)

Nay, người viết muốn dẫn trường hợp giáo sư- kiêm nhà văn- đoạt nhiều giải văn chương Wayne Karlin.

a- Nhà văn Việt Nam tỵ nạn đã mất khả năng sử dụng tiếng Việt?

Trong phần giới thiệu, Trần Văn Thủy có viết như sau: "[…]tự nguyện làm cầu nối văn học cho Việt Nam, Wayne đã gặp không biết bao nhiêu khó khăn, sự nghi ngờ và cản trở của người Việt cả trong và ngoài nước…"( Trần Văn Thủy, sđd, trang 151). Ông Thủy quả làm người viết thất vọng: té ra bị buộc chân ở Việt Nam quá lâu, ông Thủy lần đầu ra ngoài nước không khỏi chóa mắt trước những tin đồn kiểu "các vĩ nhân tỉnh lẻ" (mượn chữ Dương Thu Hương). Người Việt nào ngoài nước "cản trở" được "từng bước, từng bước thầm…đi trong chiều mơ hoang" (Những bước chân âm thầm) trên cây cầu tre "nối văn học cho Việt Nam" của giáo sư Wayne Karlin?! Thí dụ sau đây cho thấy ngay cả thi sĩ Nguyễn Duy, từng cầm súng "chống Mỹ" và từng đoạt Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007, cũng thất bại khi phải đương đầu với Karlin.

Nguyễn Duy nguyên là một nhà thơ nổi tiếng, xuất thân từ văn học Miền Bắc và là một trong những tác giả được Trung Tâm Joiner của Ðại Học Massachussett, nơi mời hai học giả thuộc chế độ Cộng sản sang Hoa Kỳ “khảo cứu” về người Việt tỵ nạn, hết sức qúy trọng đến nỗi từng dịch và in thơ cho. Nhưng ông bị  mắc vào một cái “mệt” (nguyên văn) do chính các người bạn quý này gây ra. Số là khi cuốn Nếu Ði Hết Biển của đạo diễn Trần Văn Thủy xuất bản năm 2004 thì Wayne Karlin -một nhân sự  quan trọng của những họat động thuộc TT Joiner và là một trong những người được phỏng vấn- có đề cập liên quan trực tiếp đến Nguyễn Duy như sau:

-.”..tôi có đọc một bài phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Duy trong đó anh ấy cho rằng người Việt hải ngoại không thể đóng góp vào nền văn học Việt Nam được vì họ đang mất dần sự thuần chất của ngôn ngữ, mất cái tiếng đang được nói và viết ở Việt Nam…(trang 159, sđd)

Câu nói đó của Wayne Karlin được coi như một chứng cớ cáo buộc Nguyễn Duy và được mấy nhà văn da vàng đem ra thảo luận hăng hái trên hai diễn đàn trên mạng Talawas và Da màu. Hăng hái đến nỗi cả nhà thơ Nguyễn Duy (người bị gán cho phát biểu trên) và nhà văn Hoàng Khởi Phong -chịu trách nhiệm xuất bản Nếu Ði Hết Biển– phải lên tiếng. Ngày 30.8.2006, Nguyễn Duy chính thức nhờ những người đã dùng câu nói gán cho ông đưa ra làm đề tài thảo luận yêu cầu Wayne Karlin và Trần Văn Thủy phải đưa ra chứng cớ. Ông cũng trình bày sự suy luận của ông là Wayne Karlin đã nhớ sai một câu trả lời của ông từ một cuộc phỏng vấn đã đăng trên tạp chí Manoa do Viện Ðại Học Hawaii xuất bản mà trong ban biên tập lần đó có Kevin Bowen (Giám đốc Ban Nghiên cứu về hậu quả của chiến tranh thuộc Trung Tâm Joiner). Nguyễn Duy giải thích như  sau:

-[…]  Nguyễn Duy phát biểu  :” Vietnamese poets living abroad can act as a bridge between Vietnamese poetry and world poetry. It’s a contribution befitting the circumstance of the time. But whether contemporary Vietnamese poetry can create a new departure is something that will be determined by poets living in the homeland “ (Two Rivers, page 103) Tạm dịch  “Nhà thơ Việt nam ở ngoài nước có thể là một cầu nối giữa thi ca Việt nam và thi ca thế giới. Ðó là một đóng góp phù hợp với hoàn cảnh hiện nay. Nhưng chỉ có những nhà thơ hiện sống trong nước mới có thể quyết định một hướng đi mới cho thơ Việt nam đương đại”  […] Bản tạm dịch tiếng Việt như trên cũng chưa thật chính xác với bản tiếng Anh. Mà bản tiếng Anh đã sai lệch ít nhiều so với bản tiếng Việt tôi trả lời Nguyễn Bá Chung […] Mong BBT giúp tôi liên lạc để nhờ ông Wayne Karlin cung cấp văn bản mà ông ấy lấy làm căn cứ để trả lời ông Trần Văn Thủy, nhờ ông Thủy gửi cho cả bản tiếng Anh lẫn bản dịch tiếng Việt câu trích dẫn kia. Căn cứ vào văn tự chính xác mới thảo luận nghiêm túc được…Tôi không dám mong sẽ nhận được bất kỳ một lời xin lỗi nào… (Nguyễn Duy, Sài gòn, ngày 30.8.2006- http://damau.org/archives/11895.)

Ông còn khẳng định:

-"Điều tôi buộc phải bàn với BBT là trích dẫn: "Trả lời Trần Văn Thủy, ông Wayne Karlin đã dẫn chứng lời của nhà thơ Nguyễn Duy:

“Tôi có đọc một bài phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Duy trong đó anh ấy cho rằng người Việt hải ngoại không thể đóng góp vào nền văn học Việt Nam được vì họ đang mất dần sự thuần chất của ngôn ngữ, mất cái

tiếng đang được nói và viết ở Việt Nam.” (trích Nếu Đi Hết Biển, tr.163) […]Xin thưa, tôi không bao giờ nghĩ, và cũng không hề nói hoặc viết như trích dẫn trên.

Tôi chưa có dịp trả lời phỏng vấn báo chí Mỹ, chỉ có một lần, duy nhất, là trò chuyện (bằng tiếng Việt) với Nguyễn Bá Chung, để sau đó ông ấy viết thành bài (bằng tiếng Anh) in trên tập san Two Rivers của Mỹ (University of Hawaii Press 2002) mà rất nhiều tác giả người Việt ở nước ngoài có bài trong đó và có

trong tay ấn bản ấy. Rất dễ kiểm chứng. Trong bài viết đó, hoàn toàn không có cái ý cùng cái chữ của

câu Trích dẫn trên. Thí dụ, chữ thuần chất. Tôi rất không ưa cái chữ này, trên đời có gì là thuần chất đâu,

đến cả máu người còn chẳng thuần chất kể chi là ngôn ngữ, là văn chương. Tôi không dùng cái chữ đó ở

mọi nơi, trong câu chuyện với Nguyễn Bá Chung lại càng không."

"Tôi hình dung một cách thân thiện: ông Wayne Karlin đọc bài viết khá dài của Nguyễn Bá

Chung, tất nhiên là bằng tiếng Anh, trong đó có đọan trích dẫn (2), rồi nói lại (hoặc viết) vắn tắt

cho Trần Văn Thủy, cũng tất nhiên là bằng tiếng Anh. Ông Thủy nhờ người dịch (tôi có biết

người dịch ấy – ND) cái câu đó sang tiếng Việt, và đưa vào sách. "BBT damau.org dẫn theo sách của ông Thủy, ấn định dứt khoát đó là “lời của nhà thơ Nguyễn

Duy” và nêu thành vấn đề thảo luận.Tôi chỉ trình bày sự việc như vậy thôi, không bình luận. Mong BBT giúp

tôi, liên lạc để nhờ ông Wayne Karlincung cấp văn bản mà ông ấy lấy làm căn cứ  để trả lời ông Trần Văn

Thủy; nhờ ông Thủy gửi cho văn bản cảbản tiếng Anh lẫn bản dịch tiếng Việt câu trích dẫn (1) kia. Căn cứ vào văn tự chính xác mới thảo luậnnghiêm túc được. Chứ mà thảo luận theo cách… như thế kia… thì, xin lỗi, tôi buộc phải hình dung một câu chuyện như… thế này: …

“ Ông T. vẽ ông N. theo lời mô tả lơ ma lơ mơ cuả ông K. bằng vào trí nhớ lờ mà lờ mờ của chính ông ấy. Người qua đường vây lấy bức tốc họa, chỉ trỏ cái bản mặt nham nhở, méo mó, dị dạng mà thảo luận hội

đồng rằng ông N. quả là xấu xí quá cỡ, mắc bệnh sida và mắc cả quan điểm chính trị không lành mạnh…” Tôi không dám mong sẽ nhận được bất kì một lời xin lỗi nào, chỉ mong được BBT damau.org cho đăng thư

này trên diễn đàn của mình như là một ý kiến tham gia thảo luận vậy." (Nguyễn Duy, Thư gửi BBT damau.org,  http://damau.org/archives/11895 sđd)

Wayne Karlin sau này phải xin lỗi Nguyễn Duy nhưng câu trả lời là một câu “ngoan cố” vì vẫn nhất định giữ lại hai chữ “thuần chất” đã gây tai nạn cho Nguyễn Duy:

-       It’s been a few years, but I believe it came from an article in Manoa (14?) in 2002 — an interview done by Nguyen Ba Chung in which Nguyen Duy commented on diaspora Vietnamese poetry. I admire Nguyen Duy’s poetry greatly, and regarded this as simply a healthy intellectual disagreement between writers about purity of language. I’m sorry if I in anyway misunderstood his remarks to Nguyen Ba Chung (ngày 31.8.2006) ( Cũng đã khoảng mấy năm rồi, nhưng tôi tin rằng nó xuất phát từ một bài đăng trên tờ Manoa (số 14?) vào năm 2002- một bài phỏng vấn do NBC thực hiện mà trong đó ND bình phẩm về thi ca của người Việt ly hương. Tôi rất ngưỡng mộ thơ Nguyễn Duy, và xem vấn đề này giản dị chỉ là một sự bất đồng ý kiến lành mạnh giữa các nhà văn về sự thuần chất của ngôn ngữ. Tôi xin lỗi nếu như tôi đã hiểu lầm câu bình phẩm của ông ấy bằng bất cứ cách nào với Nguyễn Bá Chung)

Khiến cho Nguyễn Duy sau khi nhận được lời “xin lỗi” kiểu “sorry is not enough” (‘Xin lỗi chưa đủ đâu’ –Love Story) bèn lộ sự khó chịu bằng hai câu thơ Bút Tre: “Không tại ải, chẳng tại ai.  Hình như lầm lộn chỉ tài (tại) thằng My (Mỹ)!.” Ðã phải gọi nhau bằng “thằng” thì quả không còn văn chương gì nữa. Nhưng thực ra vấn đề không dừng lại ở đây vì có đến hai người Việt chứ không chỉ có mỗi một “thằng My” đã gán câu nói này cho Nguyễn Duy.

Theo một bài báo xuất hiện trên tờ Tuổi Trẻ thì tác giả Nguyễn Hữu Thái (cố ý) và Nguyễn Mộng Giác (vô tình) đã góp phần rất lớn vào cái oan Thị Kính ấy vì bài báo này được nhiều tờ báo trong nước cho đăng lại kể cả trên mạng của họ, khiến Nguyễn Duy càng bị nghi ngờ hơn. Tuy tác giả không bao giờ nêu đích danh những người mà anh ta trích lời nhưng người đọc có thể đoán là Nguyễn Mộng Giác khi so sánh một đoạn trên bài báo dưới đây và đoạn Nguyễn Mộng Giác trả lời Trần Văn Thủy hầu như y hệt như thế đã xuất hiện trên Nếu Ði Hết Biển…:

-"[…]Đây là một kinh nghiệm bản thân: khi mới sang Bắc Mỹ, tôi rất lúng túng khi phải sử dụng từ điển Anh – Việt người mình in ấn ở nước ngoài để dịch văn bản trong nước. Cụ thể là không thể dịch một cách nghiêm chỉnh được, nhất là tài liệu thuộc các ngành chuyên môn. Tôi là người sinh sống ở Sài Gòn cũ vậy mà đọc thử một số bản dịch của người Việt ở nước ngoài, thú thật tôi không hiểu và nhận thấy rất thiếu sót.[…] Tôi không bi quan nhưng cũng phải nhìn nhận thực tế mà một anh bạn làm văn hóa phát biểu: “Không chỉ có văn học nghệ thuật VN ở hải ngoại mà cả tiếng Việt không thể thoát ra ngoài qui luật chung của sinh hoạt văn hóa di dân là càng ngày càng bị đồng hóa và lặn chìm trong văn hóa bản địa.” Cần được nuôi dưỡng bởi chính quốc […] Một anh bạn khác cho rằng muốn biết về tình hình thực tế tiếng Việt còn tồn tại tới đâu (để có thể thưởng thức được văn chương Việt) ở Âu Mỹ, ta chỉ cần làm một bài toán trừ. Cụ thể, phải trừ đi: cộng đồng người Việt gốc Hoa, lớp trẻ không biết tiếng Việt, những người chỉ nói mà không đủ trình độ đọc thông tiếng Việt, người đọc được tiếng Việt nhưng không đủ bề dày học vấn để đọc và thưởng thức văn chương, những người chỉ đọc được những chữ lớn bằng ngón tay cái…Anh bạn tôi là một nhà văn, cho nên rõ ràng là anh không mấy lạc quan về tiếng Việt lẫn nền văn học Việt ở hải ngoại. Anh nói nếu không có sự tiếp sức của giới trẻ, văn học hải ngoại tất nhiên phải bị “lão hóa.” Mà giới trẻ Việt ấy thì ra sao? Thực tế phần lớn không nói và đọc được tiếng Việt thì làm sao thưởng thức văn hóa Việt. Anh nhắc đến nhận xét của một nhà thơ trong nước, một thời từng làm xôn xao dư luận người Việt ở nước ngoài vì đã nói lên sự thật đó. Nguyên cách đây mấy năm, nhà thơ Nguyễn Duy sau khi đi một vòng nước Mỹ, cho rằng người Việt hải ngoại không thể đóng góp vào nền văn học VN được vì họ đang mất dần sự thuần chất của ngôn ngữ, mất cái tiếng đang được nói và viết ở VN…" (Nguyễn Hữu Thái, "Tiếng Việt ở nước ngoà"i, sđd, ngày 12.6.2005, Chủ nhật, 12 .6.2005- http://vietbao.vn/Giao-duc/Tieng-Viet-o-nuoc-ngoai/40083154/202/)

Nguyễn Hữu Thái dùng chữ "chính quốc" lại gợi đến …ngụy quốc của những "ngụy" đã bỏ nước ra đi?! Còn đây là đoạn đối thoại giữa Nguyễn Mộng Giác và Trần Văn Thủy ở trang 108, Nếu đi hết biển…:

-"Trần Văn Thủy: Anh Giác, dù sao ta cũng phải làm con tính cộng thử xem số người tham gia viết và đọc ở hải ngoại còn được bao nhiêu phần trăm?

– "Nguyễn Mộng Giác: Không chỉ có văn học nghệ thuật VN ở hải ngoại mà cả tiếng Việt không thể thoát ra ngoài qui luật chung của sinh hoạt văn hóa di dân là càng ngày càng bị đồng hóa và lặn chìm trong văn hóa bản địa[..]Nghĩa là văn học nghệ thuật hải ngoại đang bị lão hóa[…] Tính sổ, chỉ còn lại những người lứa tuổi bốn mươi, năm mươi và sáu mươi trở lên ra đi từ Miền Nam là nòng cốt của sinh hoạt chữ nghĩa hiện nay.. Cho nên thay vì cộng (để làm tổng kết), chúng ta thử làm một phép trừ. Trừ đi cộng đồng người Việt gốc Hoa, trừ đi lớp trẻ không biết tiếng Việt, […] Số người viết và người đọc còn lại bao nhiêu? Không có tiếp sức của giới trẻ, văn học hải ngoại tất nhiên bị lão hóa[…]Cái họa lão hóa trong giới thưởng ngoạn nghệ thuật bớt đi vì chúng ta có độc giả, thính giả, khán giả trẻ trong nước tiếp sức…" (trang 108-109, sđd)

Thế thì không hiểu Nguyễn Duy có ứng..bút và thêm một câu Bút Tre nữa chăng: "Không tại ải, chẳng tại ai. Hình như ma giáo đến vài chàng cơ”! Ðó là bài viết cực kỳ tai hại cho Nguyễn Duy vì được nhiều tờ báo trong nước cho đăng lại kể cả trên mạng của họ, khiến Nguyễn Duy càng bị mỉa mai và nghi ngờ hơn dù ông đã phải yêu cầu làm cho rõ chuyện.

Tổng chi, thái độ khinh mạn lẽ ra không nên có ở các nhà nghiên cứu hay thi sĩ khiến cho các cuộc đối thoại hay yêu cầu cải chính như Nguyễn Duy không thể nào xẩy ra. Vì sau lưng những cuộc mất trí nhớ như của Karlin hay những lời phát biểu mê muội của Lady Borton là một chủ ý chính trị rõ ràng.

b- "Trí thức tiểu tư sản" cầm súng và/hay cầm bút như Tự lực Văn đoàn, các nhà văn Miền Bắc di cư vào Nam hay /và giới cầm bút Miền Nam tỵ nạn: từ chính ủy văn hóa Miền Bắc Phan Cự Đệ tới  bản báo cáo của nghiên cứu sinh Nguyễn Mộng Giác nộp cho Trung tâm William Joiner Center.

Trong bản Sơ thảo nói trên, Nguyễn Mộng Giác có nhắc đến cả thế hệ Tự Lực Văn đoàn và lớp nhà văn di tản đầu tiên. Về thế hệ Tự lực Văn đoàn, ông nhận xét như sau:

-"[…]Hãy thử đọc lại tiểu thuyết thời Tự Lực Văn đoàn. Không khí xã hội và tâm tình thời bấy giờ, tuy có biến động, nhưng là những biến động nhỏ. Nhà văn, cả nhân vật truyện, chỉ mới phải đối phó với những vấn đề nhỏ. Chuyện mẹ chồng nàng dâu. Chuyện cường hào ác bá. Chuyện cổ tục lỗi thời. Chuyện ho lao thất tình. Quá lắm cũng có những người dám quyết định thoát ly, nhưng quyết định đó cũng êm ả thoải mái quá. Đó là những vấn đề của thời bình, những đau buồn sướng vui của thời bình…" (trang 317- 318, sđd)

Hình như nhà văn Nguyễn Mộng Giác quên rằng chiến tranh may ra chỉ là 1 trong những yếu tố xúc tác, không phải quyết định. Như thế, tất cả những tác phẩm nào vô phúc sinh ra vào thời "nước thanh bình ba trăm năm cũ" sẽ không có hy vọng gì trở thành kiệt tác sao? Trong thời chiến, người ta đều mạnh khỏe, "đẹp trai con nhà giàu học giỏi" sao? Một bà mẹ chồng tai ác không làm một cặp uyên ương tan nát sao dù thời bình hay thời chiến? Nhiều anh chị em có khi đã phải trả bằng mạng sống của mình để phá những cổ tục lỗi thời ấy . Ngày 21 tháng 5, 1931, Phan Khôi viết một bài nghị luận dài bàn đến hiện tượng thanh niên thiếu nữ tự tử. Ông đưa ra hai trường hợp: Đào Hữu Nghĩa và Đinh Thị Tuyết Hồng (chị của nhà thơ Đinh Hùng) mà ông gọi là "những cái chết quan hệ.” Ông cho rằng cần phải kiếm cách mà giải quyết để xã hội có thể tiến bộ được:

-"[…]Ngày nay đây là ngày mà sự áp bách đó người ta không thể chịu được nữa, là ngày mà cái chế độ gia đình đã thành ra vấn đề giữa chúng ta[…]Đào Hữu Nghĩa có thể nói với ông thân mình: ‘Đời này không phải như đời xưa đâu. Tôi có làm bậy cũng không liên lụy tới cha đâu mà sợ. Tôi đã 24 tuổi rồi, theo luật, tôi là thành nhân, tôi phải lập gia đình riêng của tôi làm chủ lấy. Tôi phải hành động tự do, để tỏ ra một người công dân có quyền ứng cử và bầu cử, dấu cha cũng không xâm phạm được.’ Đào Hữu Nghĩa đòi như vậy mà cha va không nghe, cho nên va tức mình mà kháng cự lại. Bởi vậy chúng ta phải biết những cái chết này có ý tích cực chứ không phải tiêu cực…" (Phan Khôi, "Gia đình ta ở xứ ta, nay cũng có vấn đề rồi-Những người thanhn niên tự tử gợi ra vấn đề ấy,” Phụ nữ Tân văn, Số 83, ngày 21.5.1931)

Cùng là một người Miền Nam, mới đầu người viết rất lấy làm lạ lùng trước lối nói miệt thị cả một thế hệ nhà văn thời Tự lực Văn đoàn đó của Nguyễn Mộng Giác. Nhưng khi tờ Văn Học Tân niên Quý Mùi (tháng 3&4. 2003) xuất bản (do Nguyễn Mộng Giác làm chủ bút) thì người viết không còn lấy làm lạ nữa: có bài của "văn hữu" Phan Cự Đệ.  Được xếp trang trọng ngay trên những trang đầu tiên là "Tiểu thuyết lịch sử,” một tiểu luận có bàn đến (và ca ngợi) bộ Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác nhưng  có mấy đoạn thóa mạ một số thành viên của Tự lực Văn Đoàn và Việt Nam Quôc Dân Đảng:

"[…]cái tâm lý chán chường, thất bại chủ nghĩa của Quang Ngọc, Phạm Thái, Nhị Nương của Tiêu sơn tráng sĩ, của Dũng, Thái, Trúc trong Đôi bạn  chính là phản ánh tâm trạng của Khái Hưng, Nhất Linh đồng thời cũng là tâm trạng của lớp đàn em những người tiểu tư sản trí thức đã đi theo Nguyễn Thái Học, Ký Con Đoàn Trần Nghiệp và đã thất bại ở Yên Bái, Lâm Thao[…]Nhân vật làng mạn này phù hợp với tâm trạng một lớp thanh niên sau khi cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng bị tan vỡ. Không làm được anh hùng ngoài cuộc đời thì người ta làm anh hùng trong mộng tưởng…" (Phan Cự Đệ, trang 15, sđd).

Đây không phải là lần đầu các đoạn trên xuất hiện: chúng đã xuất hiện trong "Lời giới thiệu" của Phan Cự Đệ cho cuốn Tiêu sơn tráng sĩ  (trang 9,  12) trong loạt "Tủ sách nhà trường" (nghĩa là sách giáo khoa) do Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp xuất bản vào năm 1989. Chúng cũng lại xuất hiện trong vài tuyển tập khác, như trong bộ Phan Cự Đệ Tuyển tập -Tuyền tập 1 (trang 188), do nhà xuất bản Giáo dục in ấn và phát hành vào tháng 6.2006.

Sau nữa, cũng cần lập lại một đoạn ngắn của Nguyễn Mộng Giác về Văn học Việt Nam Biển-ngoài để xét xem, dù một cách sơ sài, những tin tức liên quan đến giới đi trước, nộp cho Trung tâm William Joiner Center có chính xác không:

-"[…]Phải, lớp đầu tiên di tản ra nước ngoài sau 30-4-75, trong hoàn cảnh và tâm trạng ê chề lúc đó, chẳng những khóc thương cho cuộc đời mình mà còn khóc thương cả đam mê viết lách của mình, không dám mơ ước có ngày lại được tham gia vào một sinh hoạt văn học đông vui như ngày hôm nay […] Phần những người ở lại thì sợ hãi trước chính sách khủng bố văn nghệ sĩ Miền Nam, không viết lách gì được đã đành. Những người cầm bút ra đi an toàn năm 1975, trong cuộc đổi đời khủng khiếp ấy, lo chuyện nơi ăn chốn ở và chuyện mưu sinh đã đủ mệt, nói gì tới viết lách. Mà viết gì bây giờ? Việt Nam Cộng hòa sụp đổ chỉ trong vòng 55 ngày, thất bại trong tủi nhục vì sự vô trách nhiệm và hèn nhát của cấp lãnh đạo,nên cuộc đời ai nấy đều đầy dẫy những ân hận, tiếc nuối. […] Lớp nhà văn di tản 1975 nói về lượng cũng khá đông, họ cũng cố gắng tập hợp tiếp nối một sinh hoạt bị dở dang vì thời thế. Nhưng, như nhà văn Võ Phiến nhận định trong bài “Ghi nhận về văn chương lưu vong” (Ngày Nay số 142, 15-8-87):“Sự cố gắng ấy cũng chẳng lớn lao mấy. Sau cuộc đổi đời, một lớp người não nề thấy rõ. Các tác giả trong nhóm Quan Điểm từ chối tiếp tục, có viết chăng là thỉnh thoảng một bài thơ gửi cho tờ báo bạn, hay một cuốn sách luận về kinh, về đạo, thế thôi. Lớp trẻ hơn cũng không hẳn viết lách suông sẻ. […] Văn nghiệp sau 1975 của họ không có gì đáng kể, phần chính vẫn thuộc về thời kỳ trước…’"(Nguyễn Mộng Giác, sđd, trang 283-285)

Người viết sẽ dẫn chứng chỉ một vài thí dụ tiêu biểu mà người viết có tham dự vì không thể nào liệt kê ra hết thành quả của cả một nền văn học sống động cho tới nay là 40 năm để cho thấy chỉ vài nhận xét đó thôi cũng đủ chứng minh nhận xét trên là vô căn cứ.

B-Những dòng chữ Việt đầu tiên – Tới đây mùa đã xuân hồng/Cây vui trổ lá, nụ mừng đơm hoa/Xin chào bằng hữu gần xa/Dẫu chưa quen biết đã là anh em…(Thanh Nam, Buổi đầu, Ðất Khách, 1976)

Nhà thơ quá cố Thanh Nam viết bài thơ này tại Seattle, đúng một năm sau ngày Việt Nam Cộng Hòa chính thức không còn trên bản đồ thế giới. Ông thuộc gần triệu người dân Miền Bắc thoát được vào Nam năm 1954 và tiếp tục cuộc ra đi hai mươi mốt năm sau sang hẳn nơi đất khách và nhiều người Việt cùng tình cảnh như ông sau đó chọn làm công dân ở nhiều nơi đất khách khác. Khuyết điểm lớn nhất của những người như Nguyễn Mộng Giác là căn cứ nhận xét của mình, về những người như Thanh Nam, chỉ qua nhận xét của MỘT người khác, là nhà văn Võ Phiến. Võ Phiến không phải là người làm báo lại không có một nhóm bạn hữu như Mai Thảo, Mặc Đỗ để mà có thể hoạt động dễ dàng hơn cho nên đương nhiên là phải  sai lầm.

a-Tạp chí văn học nghệ thuật đầu tiên của người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ:

Đó là tờ Đuốc Tuệ phát hành tháng 5. 1976. Tòa soạn đặt ở Chùa Phật giáo Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn. Ban biên tập gồm: Thích Nhất Hạnh, Hoàng Văn Chí, Nghiêm Xuân Hồng, Ngọc Dũng , Trương Cam Khải, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Võ Phiến, Trùng Dương, Cung Tiến, Thanh Nam, Túy hồng, Nguyễn Ngọc Bích, Duy Thanh, Tăng Xuân An, Thích Thanh Đạm, Vũ Phan, Viên Linh và Thích Giác Đức.

b-Văn bút Việt Nam Lưu vong (sau đổi thành "Văn bút Việt Nam Hải ngoại" để thu nhận nhà văn Miền Bắc lưu vong)

Một trong những sự kiện văn học liên quan đến lịch sử của người Việt tỵ nạn Cộng sản mà ít người biết đến hoặc chỉ biết đến một cách mơ hồ là Trung tâm Văn bút Việt Nam Lưu vong sau đổi hai chữ "Lưu vong" thành "Hải ngoại" để có thể thu nhận các văn nghệ sĩ thoát ra từ Miền Bắc. Từ năm 1957, Văn bút Quốc tế chỉ thu nhận Văn bút Việt Nam Cộng hòa (Tự do Miền Nam) làm đại diện duy nhất cho ngôn ngữ Việt vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Cộng sản Miền Bắc) tiếp tục đàn áp các quyền tự do tư tưởng và phát biểu, đi ngược lại tôn chỉ căn bản của hiệp hội PEN International, một hiệp hội quy tụ các  Nhà thơ ("Poet"), Chủ bút ("Editor") và Nhà văn ("Novelist") trên thế giới.  Tổ chức này có một ngân khoản hết sức eo hẹp, các hội viên, nhất là các hội viên "chức sắc" thường bỏ công ra giúp. Chính phủ cũng thường chỉ đài thọ cho một thành viên giữ chức quan trọng (như Nguyên Sa hay Phạm Việt Tuyền vv) đi họp  các Đại hội Văn bút Quốc tế, số thành viên còn lại tự ứng nếu muốn tham dự. Nhưng từ một tổ chức tồn tại từ sự tình nguyện như vậy, Văn bút Việt Nam sẽ trở thành một tổ chức tranh đấu quan trọng cho người Việt tỵ nạn sau 1975.

Năm 1978, tại Đại Hội đồng lần thứ 44 tổ chức tại Rio de Janeiro,  Brazil , Trung tâm Văn bút Việt Nam Lưu vong được các quốc gia thành viên thuộc Văn bút Quốc tế bỏ phiếu cho phép tái hoạt động ngoài Việt Nam.  Một trong những người lên diễn đàn phát biểu để thuyết phục cho sự tiếp tục hiện diện của Văn bút Việt Nam với một danh hiệu mới là nhà văn Joseph Brodsky, người tham dự với tư cách hội viên danh dự của Văn bút Hoa kỳ. Ông thuật lại trong  cuốn On Grief and Reason như sau: "Vào phút cuối, tôi đã phấn đấu như một con sư tử cho sự tạo lập một chỗ trong Văn bút dành cho các nhà văn Việt Nam lưu vong. Tôi bị xúc động đến nỗi sự phát biểu của tôi đã (có lúc) bị ngăn trở vì những dỏng nước mắt (tuôn rơi)." (Joseph Brodsky,   On Grief and Reason, "After a Journey, or Homage to Vertebrae,” trang 67, Nhà xuất bản The Noon Day  Press, 1995, Hoa Kỳ).

Cho tới khoảng cuối  năm 1999– khi Văn bút Việt Nam Hải ngoại đã cùng các hội bạn hầu như hoàn thành trách nhiệm tranh đấu cho các đồng đội Miền Nam vì đa số trí thức hay văn nghệ Miền Nam bị cầm tù đã thoát ra khỏi nước– các hoạt động của nó vô hình chung bảo toàn một phần lịch sử chống Cộng sản trong những ngày chông gai và đầu tiên của người Việt tỵ nạn. Đó là thành lập và lưu giữ một danh sách tương đối đầy đủ về các nhà văn đã bị cầm tù với mọi chi tiết liên quan đến tiểu sử của họ cùng nơi giam và ngày giam. Danh sách này được các thành viên sáng lập và tham dự như nhà thơ Nguyên Sa, Chủ bút Tạp chí Lý tưởng (Không quân) Trần Tam Tiệp hay nhà thơ Trần Thanh Hiệp vv thu thập từ các tổ chức tranh đấu thân hữu  và từ các thành viên khác và anh em còn ở lại Việt Nam.  Sự thành lập rồi duy trì Trung tâm Văn bút Việt Nam ở ngoài nước là do sự quyết tâm của người Việt trên khắp thế giới mà công làm việc không mỏi mệt ngay từ 1975 để giúp đỡ anh em văn nghệ bên nhà phải kể đầu tiên tới Trần Tam Tiệp.

Trong một Đại hội Văn bút Hải ngoại tại Little Sai gon, Nam California, nhà thơ Nguyên Sa (ra đi năm 1975) thuật lại việc tái thành lập VBVN Lưu vong để tranh đấu cho anh em bị cầm tù như sau:

-“Thưa quý văn hữu,

"Hôm nay là ngày mồng 7 âm lịch Tết…Văn Bút Việt Nam Hải ngoại được thành lập như thế nào? Văn bút Việt Nam ngày xưa ra sao? Tôi xin phép được nói lên vài điều mà có thể quý vị không để ý tới…Tác giả của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại lúc trước có tên là Văn bút Việt Nam Lưu vong đó là các nhà văn Hung Gia Lợi. Vào thời điểm 1955-1956, Hung Gia Lợi là quốc gia sống trong vòng đai sắt của Cộng sản đầu tiên nổi dậy. Chiến xa của Nga tiến vào cán lên thành phố, cán lên người, cán lên tình yêu, các thiếu nữ đã khóc…Hung Gia Lợi còn gây cho tôi cái cảm tưởng to lớn hơn nữa vì trong thời điểm giữa thập niên 60, tôi hay được đi dự hội nghị của Văn bút Quốc tế…Bài học Hung Gia Lợi còn trong óc tôi. Dù Hung Gia Lợi đã trở nên một nước Cộng sản, dù ghế của Hung Gia Lợi ở Liên Hiệp Quốc bị Cộng sản giữ nhưng Văn bút Quốc tế vẫn dành cho Hung Gia Lợi lưu vong một chỗ đứng để tiếp tục nói lên tiếng nói của lương tâm Hung Gia Lợi…Tôi bàn với anh Trần Tam Tiệp, tôi tìm lại những danh sách, những điạ chỉ, những đường dây liên lạc… Cái công làm thành Văn bút chính là do Trần Tam Tiệp. Không những anh dựng ra Văn bút qua những khó khăn, anh là người thuyết phục các Hội Nhà văn Thế giới và Uỳ ban Nhà văn Bị Cầm tù trong các Hội Nhà văn Thế giới hỗ trợ cho anh để tranh đấu cho các nhà văn còn bị cầm tù tại Việt Nam…Trần Tam Tiệp bị ngã gục vì tê liệt. Từ năm 1975 cho tới 1995, theo sự hiểu biết của chúng tôi, không quá ba lần anh Tiệp bị tấn công trước những cừa hầm metro. Họ muốn đoạt chiếc cặp của anh, rất may không có tài liệu. Nhà của anh cũng bị vào nhà lục soát … Văn bút Việt Nam được thành lập tại sao? Ở một đầu là sáng kiến của các nhà văn Hung Gia Lợi 5 năm mới vào được Văn bút Quốc tế. Văn bút Việt Nam 1 năm đã được nhận ngay. Do kinh nghiệm đó, Văn bút Việt Nam đã lẫm liệt tranh đấu cho nhân quyền thế giới trong suốt bao nhiêu năm nay nhưng hồi đầu nền tảng là công của Trần Tam Tiệp. Hôm nay, nhân ngày đầu năm, tôi thuật lại và mong nước ta sẽ được giải phóng khỏi Cộng sản và nhà văn tiếp tục làm chủ nhà văn.”

Khi Tổng Thư ký Văn bút Việt Nam Hải ngoại kiêm Trưởng ủy ban Văn nghệ sĩ-Bị cầm tù Trần Tam Tiệp lâm trọng bệnh cuối thập niên 90, người viết đã được Ban chấp hành (do nhà thơ Viên Linh làm Chủ tịch lúc bấy giờ) yêu cầu đảm nhận tạm thời trách nhiệm Trưởng Uỷ ban Nhà Văn- Bị Cầm tù thay cho Trần Tam Tiệp để bảo vệ danh sách của Uỷ ban này cho khỏi lọt vào những bàn tay đáng ngờ và  để liên lạc với Văn bút Quốc tế hầu giải quyết những vấn đề liên quan đến các văn nghệ sĩ  và trí thức bị cầm tù tại Việt Nam, không kể là từ Nam hay Bắc. Bởi thế, người viết có được danh sách ấy và một số tài liệu khác khiến góp thêm vào việc thẩm định những tin tức phổ biến về nhà tù tại Việt Nam sau này, nhất là từ chính vài văn nghệ sĩ có tiếng của Miền Nam trong giai đoạn 1975-1999

c-Một giải thưởng văn chương do người Việt tỵ nạn đóng góp

Tạp chí Khởi Hành lập Giải văn chương toàn sự nghiệp từ năm 2005 do độc giả Khởi Hành đóng góp và tuyển chọn (3000 mỹ kim). Người nhận giải lần đầu là nhà văn Nguyễn Thụy Long, người thứ hai là nhà thơ Hữu Loan và người thứ ba là nhà văn Văn Quang. Điểm đặc biệt khiến Văn Quang có một chỗ đứng riêng, là ông còn được coi là một nhà văn “quân đội” vì ông tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức, và từng làm Quản Đốc Đài phát thanh Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà với cấp bậc Trung Tá. Sau năm 1975, ông bị giam nhiều năm ở những trại tù khét tiếng như tại Vĩnh Phú và Hàm Tân.  Sau khi được thả, Văn Quang quyết định ở lại Sài gòn và không tị nạn sang Hoa Kỳ theo diện HO. Ông tiếp tục viết, cho xuất bản tại Hoa Kỳ những phóng sự về đời sống tại Việt Nam như Lên đời. Ông còn tới những nơi xa xôi, chuyển sự giúp đỡ của người ngoài nước tới anh em lính cũ. Năm 2002, ông dọn lên Lộc Ninh và gửi ra hải ngoại loạt ký sự Lẩm Cẩm Saigòn Thiên Hạ Sự. Vài năm sau, nhớ Sài gòn, ông trở lại cư ngụ tại đó. Cách đây không lâu, ông bị công an đến nhà lục soát, tịch thu tạm thời laptop và kiểm kê tài sản. Hiện ông vẫn chưa có thể viết lại được. Là một nhà văn, Văn Quang giữ được nội lực của ngòi bút. Là một người tù, ông giữ được khí tiết của một người lính Việt Nam Cộng hoà. Là một người từng nắm vai trò chỉ huy, ông giữ được và làm tròn trách nhiệm với đồng đội.

Trường hợp nhà văn Văn Quang là một thí dụ điển hình của sự thất bại của người cộng sản từ khi họ bắt đầu đem chủ nghĩa Cộng sản áp đặt lên Việt nam sau khi họ đã lường gạt (và tiêu diệt) được rất nhiều người Việt Nam yêu nước. Riêng sự thất bại của người cộng sản ở mưu toan khống chế và lãnh đạo lĩnh vực văn chương là một điều không còn có thể chối cãi hay che đậy được nữa. Sau hơn nửa thế kỷ (1954-2010), từ những cuộc thảm sát các nhà văn đã chống lại họ trước đó như Khái Hưng trong nhóm Tự lực Văn đoàn cho tới sự qua đời của những nhà văn theo họ như Nguyễn Hữu Đang trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm, những tin tức được công bố càng lúc càng nhiều, lại chứng tỏ họ đã và đang thất bại trong mưu tính “bôi đen” cộng đồng văn chương trong nước, ngoài nước và “bôi hồng” cho những nhà văn (ngoài nước) đồng tình với họ. Nhưng nếu nghĩ rằng họ biết họ đã thất bại và hủy bỏ cái mưu tính ấy là một sự nhầm lẫn lớn. Người cộng sản không bao giờ lại bỏ cuộc nửa chừng cả. Vì họ trông cậy vào một thực tế hiển hiện đã giúp họ thành công trong một số giai đoạn trưóc đây: đó là, thứ nhất, sự thiếu đoàn kết giữa những người không-Cộng sản; và thứ hai, cái ham muốn đỉnh chung của những nhà văn tay mơ cả về văn chương lẫn về chính trị.

d-Văn chương đã chắc đâu mà trí thân

Bây giờ, sau khi Văn học Việt Nam Biển -ngoài đã trở thành một thực thể hiển nhiên ngay cả với các người cầm bút từ Miền Bắc và những tác phẩm xuất bản trong thời Văn học Miền Nam đã được sưu tập và giữ gìn, người viết muốn trích một đoạn từ một bài viết của nhà thơ Viên Linh để cho thấy bất cứ nền văn học nào, như ông phát biểu, cũng có những biến chuyển từ cả mặt xã hội lẫn mặt chính trị. Từ kinh nghiệm của một người làm báo gần 20 năm–và làm báo đúng nghĩa từ giữ mục điểm sách, trả lời thư tín cho tới giữ phần Phê bình,  người viết hoàn toàn bất đồng ý kiến với cái sự quan trọng hóa quá mức người làm văn chương.

Khi phải đọc những câu ta thán về "quyển sách bầy cạnh chai nước mắm" ở những tiệm chạp-phô thời đầu tỵ nạn, ra cái điều chai nước mắm là một vật gì thua kém cuốn sách, người viết lại thấy tức anh ách. Nhiều tác gia quên rằng anh viết và người đọc chọn anh. Cái việc anh viết không ăn nhập gì đến cái việc anh được, hay bị, chọn. Công việc viết là một công việc cô đơn hết sức thì xá gì anh đứng cạnh một bà hoàng hay một cô bé lọ lem? Chính ra, theo kinh nghiệm làm báo của người viết thì độc giả thuộc đủ mọi giới, từ giới làm nail cho tới giới cắp cặp đi dậy những người làm nail. Không ít hơn một lần, người viết mang báo giao cho tiệm sách lại có khi được hỏi một cách rất thực thà:

-"Mèng đéc ôi, tờ báo mỏng lét mà bán tới 3 đồng rưỡi lận. Bìa không có láng coóng gì hết. Sao không có hình ca sĩ cho xôm tụ? Biểu ông chủ nhiệm tăng trang mới bán được, mới kiếm phần trăm được chớ."

Người viết trả lời rất lịch sự và không hề mích lòng rằng: " Ồ nhân tâm tùy mạng mỡ chứ lại. Ông bà cứ mua báo 50 cents mà đọc. Tha hồ xem quảng cáo."

Ấy chẳng phải nói mát mẻ gì các đồng nghiệp báo chợ: chứ chả phải tạp chí Vogue cũng đầy quảng cáo à? Theo thông lệ, hình như cái thông lệ này bắt các nhà văn như con gà cục tác, cứ sáng sáng là phải đẻ được một trứng vàng. Mà không những phải đẻ trứng vàng, đẻ xong phải cục tác inh lên để ra cái điều có sáng tác kẻo bị quý tác giả–chứ lại không phải là quý độc giả mới lạ–chê bôi. Nhiều người quên rằng thi sĩ Tô Thùy Yên chỉ có hai tập thơ hay hình như một tập rưỡi vì in lại vài bài trong tập mới. Viên Linh (1) hay Thanh Tâm Tuyền cũng thế. Cho nên, trái lại, sự không xuất hiện quá sức inh ỏi của các thi sĩ có khi lại là một điềm tốt cho độc giả, văn chương trong nước hay Biển-ngoài:

-"[…]Nền văn học nào cũng có lúc lên lúc xuống, lúc ra khơi, lúc bế tắc; song sự bế tắc ấy, nếu có, là thảm kịch của nhà văn, chứ không phải là tội lỗi của nhà văn. Có khi chỉ vì anh ta tự trọng. Có người cả đời cầm bút, sống nhờ ngòi bút, không thể trở thành tác giả của loại báo chợ, là thứ báo không trả nhuận bút; hay báo nửa chợ nửa quê, tức là không những không có nhuận bút mà còn phải bỏ tiền ra giúp in tờ báo đó. Và giữa thủ đô tị nạn, các tiệm sách không nhận thi phẩm của các thi sĩ gửi bán, nhưng hẳn vẫn hãnh diện với người nước ngoài: dân tộc chúng tôi là một dân tộc thi sĩ! Tôi cũng không may mắn rảnh rang như Mai Thảo, để viết cho tờ báo của mình và rong chơi đây đó (hãy tưởng tượng Mai Thảo 40, 50 tuổi và có vợ con). Cho nên điều Đặng Tiến nhận xét trên tờ Diễn Đàn không đúng (người viết văn hải ngoại được hai lần tự do, muốn viết gì thì viết và viết không vì cơm áo địa vị). Không phải kiếm sống bằng ngòi bút là tự do à? Ngược lại,  người cầm bút hải ngoại bị tha hóa chính vì mưu sinh không do ngòi bút. Đó là nguyên nhân chính tạo ra tình trạng ít sáng tác, ít tham gia. Ngày nào chính ngòi bút có thể cho mình phương tiện để viết, tôi sẽ trở lại tham gia trực tiếp hơn, sáng tác nhiều hơn…" (Viên Linh, 20 năm Văn học Hải ngoại, 1994)

Đó là vào năm 1994.Viên Linh đã "trở lại" làm báo cho tới nay. Nói tới sinh hoạt văn nghệ ngoài nước thi cũng không thể quên "phong trào hợp lưu" mà có một lúc đã gây bàn luận. Người viết xin kèm bài phỏng vấn nhà văn Nhật Tiến (1), người biết rất rõ về việc này, coi như góp thêm tài liệu để sự kiện được sáng tỏ. Thấm thoát mà đã gần một phần tư thế kỷ. Công đồng văn chương ngoài nước, trái với sự tiên đoán (và có lẽ mong đợi!) của một số người đã vẫn tiếp tục sinh hoạt. Nhà văn Uyên Thao đến Hoa Kỳ chỉ khoảng 15 năm nay đã cùng anh em lập Nhà xuất bản Quê Hương phát hành gần 70 tác phẩm, kể cả những tác phẩm giá trị từ trong nước. Hoàng Khởi Phong vẫn tiếp tục viết bộ trường thiên. Huỳnh Hữu Ủy vẫn tiếp tục viết phê bình. Ngô Thế Vinh vẫn tiếp tục bị ám ảnh bằng con sông Mê Kông, cái kiểu "Hồn Ngô Thế Vinh da …con nước.” Ngoài việc trao giải văn chương, tạp chí Khởi Hành từng mở các cuộc diễn thuyết về chủ đề Phụ nữ với sự bảo trợ của Nhật báo Người Việt. Nhưng thoắt đấy mà đà mấy mươi năm rồi.

Bởi thế, người viết không khỏi nhớ đến bài viết của Ngô Thế Vinh về Nguyễn Xuân Hoàng. Người viết không khỏi nghĩ rằng suýt tý nữa, chỉ cách đây hơn 2 tháng thôi thì Ngô Thế Vinh đã viết một bài tương tự, mà quả quyết hơn, cho Viên Linh.

Ôi chúng ta đã qua Thủy mộ quan không biết bao nhiêu lần trong đời. Bao nhiêu độc giả đã đi với rồi sẽ theo cùng chúng ta? [NTC]

Chú thích

*Một số đoản văn trong bài này đã được lọc ra từ một số bài khác đã viết rải rác trên Khởi Hành từ 1996 cho tới nay.

1) Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến, sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội; di cư vào Nam năm 1954; viết truyện ngắn, truỵện dài trên các tạp chí: Văn Hóa Ngày Nay, Tân Phong, Đông Phương, Bách Khoa, Văn, Văn Học… chủ trương nhà xuất bản Huyền Trân (từ năm 1959), chủ biên tuần báo Thiếu Nhi (từ năm 1971). Năm 1979 vượt biển qua Thái Lan rồi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1980.

Ông gia nhập Văn Bút VN từ năm 1959 do Nhà văn Nhất Linh giới thiệu, tiếp tục sinh hoạt cho tới năm 1975 với chức vụ  Phó Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Việt Nam, Nguyên Hội viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa (nhiệm kỳ II, 1974, Nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu Giáo Chức Việt Nam Hải Ngoại (1982-1985, Nguyên Chủ tịch Ban Chấp Hành Lâm Thời Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Nam California (1988), Chủ biên cơ sở xuất bản Huyền Trân  (từ năm 1959), Cộng tác thường xuyên (từ năm 2001 đến 2010) với tuần báo Việt Tide phát hành ở Nam Cali- Đã ấn hành trên 30 tác phẩm gổm nhiều thể loại Truyện, Ký, Tiểu thuyết Kịch….Năm 2013  ông cho xuất bản Hành Trình Chữ Nghĩa (Tư liệu Văn học ) Sự Thật không thể bị chôn vùi (Tư liệu Văn học )-Một Thời Như Thế (Tư liệu Văn học ) Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác (hồi ký) và 2 cuốn năm 2013: Mưa Xuân (tập truyện và Kịch) và Thuở Mơ làm Văn Sĩ (tái bản)

Hiện cư ngụ ở Nam California.

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)