Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Mặc Đỗ, Nghiên Cứu, Phê Bình Email bài này

II-Mặc Đỗ trăm năm: VĂN HỌC VIỆT NAM BIỂN NGOÀI -Cuộc di tản ra khỏi Việt Nam, tháng 4. 1975

 

1-Người lạ, đất lạ, những tâm hồn xa lạ, những công trình nghiên cứu xa lạ

Miền Nam sống sót trận Mậu Thân 1968, rồi đứng vững khi "mùa hè đỏ lửa" 1972 táp vào khắp mọi miền:

-"Những Út Bạch Lan, Vinh con, những đồng đội Mũ xanh […] và những binh nhì binh nhất, những hạ sĩ, thượng sĩ vô danh của những trận đánh vang lừng trong Quân sử. Những con người tưởng chừng như nhẫn nhục gỏ mình dưới sức nặng lịch sử bỗng nhiên cùng dậy. Bắc quân tưởng chừng có thể ăn tươi nuốt sống được Miền Nam đã bị khựng lại ở khắp bốn Quân khu […] Với những người lạc quan thì năm 72 này đánh dấu sự trưởng thành vượt bực của Quân đội Miền Nam […]Phải đúng như thế, nhờ những sĩ quan trẻ, đôi khi hết sức trẻ của Miền Nam đã chịu đựng sức nặng cồng kềnh của Quân lực Miền Nam trên đôi vai nhỏ bé của những trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng. Miền Bắc nghiêng toàn lực xuống Miền Nam, đồng một lúc tấn công trên toàn lãnh thổ của bốn quân khu mà chỉ gặm được một chút nhỏ đất đai bên bờ sông Thạch Hãn…"(Hoàng Khởi Phong, "Hồn ta nắng cuối ngày,” Cây tùng trước bão, trang 206-207, Thời Văn xuất bản, 2001, Hoa Kỳ)

Những sĩ quan trẻ ấy được đại diện bằng binh chủng Hải quân trong trận hải chiến ngày 19 tháng giêng 1974. Vào ngày này, Trung cộng tiến đánh Hoàng Sa. Bốn chiến hạm của Việt Nam Cộng hòa (Miền Nam) lập tức nghênh chiến. Trung tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng hộ tống hạm Nhật Tảo và Phó hạm trưởng Thiếu tá Nguyển Thành Trì và hai chiến binh chết theo tàu. Nhưng viện trợ từ Hoa Kỳ đã bị cắt giảm lần lần cùng cuộc hòa đàm tại Paris đã giúp người Cộng sản Miền Bắc ngụy trang cho một cuộc tổng tấn công rồi kết thúc cuộc chiến vào tháng tư, 1975.

Cuộc di tản ra khỏi Miền Nam bắt đầu xẩy ra vào những ngày cuối tháng tư, 1975 và kéo dài sang đến thập niên sau. Lần này, không có "người ra đi" hay "người ở lại" mà chỉ "người đi được" hay "người không đi được.” Nhóm Quan Điểm đi được hết nhưng đa số thành viên của nhóm Sáng Tạo thì không: nhà thơ Nguyễn Sỹ Tế, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ trung tá Không quân Cung Trầm Tưởng, nhà thơ thiếu tá Tô Thùy Yên và nhà thơ đại úy Thanh Tâm Tuyền thuộc Cục Tâm Lý chiến không đi được. Nguyên Sa, Thanh Nam (và Túy Hồng) đi được. Nguyễn Thị Hoàng không đi được. Thụy Vũ không đi được (sau này có lúc làm lơ xe rồi làm rẫy nuôi con). Vũ Hoàng Chương, Thiếu tá Văn Quang, giám đốc đài phát thanh Quân đội, không đi được. (Cựu) Chủ nhiệm báo Tiền Tuyến Trung tá Hà Thượng Nhân và Trung tá Phan Lạc Phúc không đi được. Nhà thơ đại úy Quân cảnh Hoàng Khởi Phong đi được. Nhà văn đại úy Nhẩy Dù Phan Nhật Nam không đi. Nghệ sĩ Hồ Điệp, dịch giả Phùng Thăng mất tích trên đường mòn sang Miên. Nhà thơ thiếu tá Hà Huyền Chi đi được. Họa sĩ trung tá Tạ Tỵ không đi được. Uyên Thao, linh hồn của Sóng Thần, không đi được. Nhà văn Võ Phiến đi được. Nhà thơ đại úy Hà Thúc Sinh không đi được. Nhóm Họa sĩ Trẻ hầu hết không đi được. Ban Chấp hành Trung tâm Văn bút Việt Nam không đi được, gồm Chủ tịch Thanh Lãng, Phó Chủ tịch Nội vụ Nhật Tiến, đồng Phó Chủ tịch Ngoại vụ Hồ Hữu Tường. Hầu hết giám đốc các nhà xuất bản lớn (Khai Trí, An Tiêm, Giao Điểm, Huyền Trân…) đa số không đi được. Chủ nhiệm&chủ bút tạp chí Bách Khoa (giai đoạn 2) Lê Ngộ Châu không đi. Hai cựu tổng thư ký tạp chí Văn là Trần Phong Giao và Nguyễn Xuân Hoàng không đi được. Chủ nhiệm&chủ bút tạp chí Thời Tập Viên Linh đi được …Hầu hết các nhà văn ở lại đều vào tù và có người bị gửi ra các trại tù ngoài Bắc hay chết trong tù.

Người đi được sẽ đến trước dựng một cộng đồng văn chương rồi sẽ hợp với từng đoàn người đến sau để tạo nên Văn học Việt Nam Biển-ngoài (hải ngoại) vẫn tồn tại song song và hơn thế nữa, còn chính thức đương đầu với Văn học Trong-nước (cộng sản) vì trong một thời gian dài trước đây, Văn học Biển-ngoài vẫn được coi là nền văn học "nối dài" từ Văn học Miền Nam. Ngoài người Cộng sản, Văn học Biển ngoài còn phải đối phó với những tổ chức hay nhân sự phản chiến bản xứ thách thức về tính cách chính trị cũng như văn học của nó. Sự thách thức này đã được một số người cầm bút Việt Nam tái định cư, đa số ở Hoa Kỳ, và trong nước hỗ trợ bằng cách tham dự trực tiếp vào chương trình nghiên cứu do các tổ chức này đề xướng. Lần ra đi thứ hai này dĩ nhiên còn đau đớn và khó khăn hơn vì không riêng gì người cầm bút mà cả cái cộng đồng Miền Nam thất trận phải di tản sẽ vẫn tiếp tục là cái bia nhắm cho cánh phản chiến Hoa Kỳ, nay được tăng cường một cách rất hữu hiệu bằng một thứ "máu mới " (new blood) : các cựu quân nhân Hoa Kỳ chống chiến tranh Việt Nam nay trở thành những giáo sư đại học đầy uy quyền trong lãnh vực nghiên cứu về văn chương Việt Nam cộng thêm những người Hoa Kỳ khoác bộ áo hàn lâm nay chính thức tìm được đất đứng trong bộ máy tuyên truyền "văn hóa" của chế độ Cộng sản tại Hà nội.

Sự đương đầu của cộng đồng di tản non trẻ này khởi đi bằng một bất lợi lớn lao. Suốt hai mươi năm tao loạn 54-75, đại đa số người thế giới không biết đến Miền Nam. Họ chỉ biết đến một Việt Nam mà đại diện là Miền Bắc đang tìm cách giải phóng Miền Nam khỏi "đế quốc Mỹ.” Họ chỉ biết đến bà Nguyễn Thị Bình mặc áo bà ba, quấn khăn rằn, đại diện của Mặt Trận Giải phóng Miền Nam (Việt Cộng) và bà tướng Nguyễn Thị Định với "đoàn quân tóc dài" cũng của MTGPMN. Như đã nói ở bài trước, họ chỉ biết đến số nửa triệu gái điếm ở Miền Nam. Trong tinh thần đó, cảm tưởng chung của họ là người Miền Nam nào dính líu đến người Hoa Kỳ hay các tổ chức của Hoa Kỳ nay di tản được đều phải là một thứ cơ hội, ích kỷ và có khi "mất gốc.” Sâu xa hơn, không chỉ người Miền Nam chống Cộng mới chịu sự kết án đó: người Cộng sản đã thành công khi rao giảng rằng những thế hệ chống lại họ–cái thế hệ của những Tự lực Văn đoàn ngoài Bắc (phải di cư vào Nam), Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Nguyiễn Ngu Í trong Nam …đều là những kẻ thua cuộc, chạy theo Âu Mỹ và ươn hèn.

Sự thiếu tin tức chính xác này hết sức nguy hiểm ở chỗ, sau khi người Cộng sản chiếm được Miền Nam, trái với giới cầm bút hay thông tin ngoại quốc nay đã bắt đầu nhận ra và lên tiếng sửa sai vì đã biết họ bị lừa đậm; những giáo sư hay học giả tương lai về văn hóa và văn chương Việt Nam tại các đại học Hoa Kỳ hay thế giới vẫn sẽ được đào tạo trong một môi trường còn nhiều ngụy tín về người Việt và nền văn học chống Cộng từ Bắc vào Nam rồi ra đến ngoại quốc bằng thứ "máu mới" đó. Thiệt thòi hơn nữa, bên cạnh cái bia mộ hình chữ V đầy lời ca thương tại Hoa Thịnh Đốn đã đại diện cho lần thất trận "duy nhất" của Hoa Kỳ, người Miền Nam tỵ nạn rất khó có khả năng chống đỡ bức tường ngụy tín ấy. Làm sao chống đỡ được? Trong khi phải tự thân lo cho gia đình sinh tồn trên một nơi xa lạ thì việc học một ngôn ngữ mới cho đến nơi đến chốn cùng theo đuổi việc học ở cấp đại học là một điều gần như không tưởng, nói chi xa xôi đến việc bơi ngược được cái trào lưu chống lại bất cứ cái gì đến từ Miền Nam, một trào lưu được cổ võ và lãnh đạo bằng những tinh hoa của văn học đương đại Hoa kỳ?!

Khi 52 tinh hoa ấy được hỏi 2 câu hỏi về chiến tranh Việt Nam thì chỉ có 6 (William F. Buckley Jr.- chủ bút tờ The National Review, triết gia và khoa học gia James Burnham, Nhà văn kiêm dịch giả Constantine FitzGibbon, Nhà văn James A. Michener, sử gia Arthur M. Schlessinger, Jr, và nhà văn John Updike) trả lời rằng họ đồng ý với việc chính phủ họ tham dự trận chiến này. Đại diện cho đa số chống là câu trả lời giận dữ đầy nguyền rủa của nhà văn kiêm phê bình gia Susan Sontag:

-"Một quốc gia bé nhỏ của những người lịch sự, bị tàn hại bằng 20 năm nội chiến, đang bị một quốc gia –giầu có nhất, vũ trang quá mức một cách kinh hãi nhất, uy quyền nhất thế giới– tàn sát một cách bạo ngược và bằng cách tự phong đạo đức mà lại nhân danh tự do![…] Trận chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam làm cho tôi, lần đầu tiên trong đời, xấu hổ vì là một người Hoa Kỳ. Nhưng điều đó không mấy quan trọng. Tôi hoàn toàn đồng ý với sự phát biểu của Bertrand Russell rằng ‘Việt Nam là một cuộc thử thách gay go cho giới trí thức Tây phương’" (‘A small nation of handsome people, ravished by twenty years of civil war, is being brutally and self-righteously slaughtered–in the name of freedom!–by the richest, most grotesquely overarmed, most powerful country in the world[…]America’s war in Vietnam makes me, for the first time in my life, ashamed of being an American. But that’s unimportant. I am in complete agreement with Bertrand Russell’s statement that ‘Vietnam is an acid test for this generation of Western intellectuals.‘)" [Susan Sontag, Authors Takes Sides on Vietnam, trang 68-69, Ấn bản Hoa Kỳ (1), Cecil Woolf and John Bagguley đồng chủ biên. Nhà xuất bản Simon & Schuster, 1967, Hoa Kỳ)]

Nhưng người ra đi vẫn chống lại được. Họ chống lại bằng niềm tin chung thủy của một người cầm bút: sau cùng tác phẩm mới là yếu tố quyết định được giá trị của họ và của dân tộc họ. Cho nên họ vẫn tiếp tục sáng tác trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất trong thời gian đầu của những người mất quốc gia, mất thị trường và vẫn tiếp tục các hoạt động văn nghệ như xuất bản và thành lập các tạp chí văn học. Hơn thế nữa, học được bài học "im lặng là thiệt thòi" từ Miền Nam, họ đồng lòng phản bác sản phẩm của những tổ chức phản chiến hay các tin tức ngụy tạo dù chúng được bảo trợ hay phát biểu bởi bất cứ ai. Từ nay trở đi, một mặt trận văn hóa đã mở ra ngay sau khi cuộc chiến kết thúc mà mở ra tại Biển-ngoài, nơi các nhà văn Miền Nam di tản có đủ tự do để chống đỡ. Sự chống đỡ ấy tới nay lần lần đã có kết quả: khi các học giả Hoa Kỳ, thuộc cả giới truyền thông hay quân sự nữa, bắt đầu xét lại về cuộc chiến Việt Nam, người Hoa Kỳ đã có những thí dụ cụ thể để xét lại không những về nền văn học Miền Bắc mà còn về Văn học Miền Nam và hy vọng sau này, về người Miền Nam di tản và Văn học Việt Nam Biển-ngoài.

A- Người lạ, đất lạ, những tâm hồn xa lạ: Khi người nghiên cứu ngoại quốc không rành ngôn ngữ văn hóa và lịch sử của đối tượng nghiên cứu

Như đã nói, người viết rất quan tâm đến loại tin tức thiếu sót nhưng được mệnh danh nghiên cứu về văn học, lịch sử và văn hóa Việt Nam và được giảng dậy cùng phổ biến tại các đại học Hoa Kỳ. Lần này, người viết đưa thí dụ điển hình của một người nghiên cứu không rành ngôn ngữ văn hóa và lịch sử của đối tượng nghiên cứu. Đó là cuốn From Vietnam to America -A Chronicle of the Vietnamese Immigration to the United States (1977) của giáo sư (quá cố) Gail Paradise Kelly (1940-1991). Bà là một giáo sư có tiếng, đã xuất bản 13 cuốn sách về giáo dục.

Van Nguyen-Marshall, tác giả của một cuốn khác —In search of Moral Authority: The Discourse on Poverty, Poor Relief, and Charity in French Colonial Vietnam (2008)– đưa ra những lý luận vững chắc để dẫn đến nhiều nhận xét của chính bà hay trích dẫn từ các học giả khác: thứ nhất, nhóm Tự lực Văn đoàn là "hậu duệ của một sự kết hợp không cân bằng và cưỡng ép của hai nền văn hóa Việt -Pháp ("They were the progeny of an unequal and forced union of Vietnamese and French cultures,” trang 109) . Thứ hai, họ coi họ trên người nghèo "Bằng cách miêu tả những kẻ nghèo khó có tính thụ động (hay) đám nạn nhân đàn bà yếu đuối, nhóm Tự lực Văn đoàn có lẽ đã tự đặt họ –dấn thân và tân tiến–vào vị trí đạo đức cao cả trên người dân quê nghèo khó" (‘Moreover, by depicting the poor as passive, feminine victis, the Self-Reliance writers were perhaps positioning themselves–active and modern–as the moral authority over the poor peasants..)’" (trang 110, sđd). Hơn thế nữa, bà còn nhận xét rằng "Cái thực tế là khi các nhà văn trong nhóm Tự lực Văn đoàn cố muốn cho được "giống" người dân quê, họ đã càng biểu lộ sự xa cách thật sự của họ với tình cảnh nông thôn." (‘The fact that the Self-Reliant writers tried to be ‘like’ the peasants demontrated how duistant they actually were from Vietnam’s rural culture…’,” trang 102). Khốn nỗi, để làm mạnh thêm các lý luận này, bà đã phải sử dụng các tin tức về hoàn cảnh tài chính hay gốc gác của gia đình Nhất Linh và anh em ông cùng Khái Hưng mà chưa chắc các tin tức này đã chính xác như sẽ đề cập đến dưới đây. Hai cuốn này xuất hiện cách nhau 31 năm nhưng vẫn có những vấn đề liên quan đến các nguyên tắc căn bản về nghiên cứu đáng được suy ngẫm.

· From Vietnam to AmericaA Chronicle of the Vietnamese Immigration, 1977, Gail Paradise Kelly

[…]Khi Sài gòn thất thủ, nhiều người Việt đã sửa soạn để rời nước. ..Đa số ra đi vì sợ hãi, làm như những kẻ tỵ nạn. Họ bỏ nhà cửa mà đi không phải vì họ muốn định cư ở một nơi nào khác mà vì họ tin rằng thời buổi hiện tại sẽ không cho phép họ sống theo một nếp cũ[…]Những người tới Hoa Kỳ một mình, một cách nào đó, là những kẻ đã bỏ rơi khái niệm cổ truyền về gia đình. Họ bỏ đi riêng mà không sửa soạn cho họ hàng chi hết[…]Tại các khu đô thị, những yếu tố như chiến tranh và sự Ấu hóa đã làm yếu đi cái sợi dây ràng buộc trong gia đình tới nỗi việc ra đi không cùng tất cả mọi người trong nhà trở thành xẩy ra được. Có một số đến Hoa Kỳ (nhưng) không bỏ rơi truyền thống gia đình và đến đây với họ hàng của họ. Đó là trường hợp của những gia đình với 17 người hay nhiều hơn[…] Hơn 40 phần trăm của tổng số người tỵ nạn là người Công giáo […] Những phụ nữ trong lớp học này thuộc vào lớp người còn theo tập tục nhất trong trại. Họ xuất thân từ những gia đình đông đảo cư ngụ tại miền thôn dã–Tất cả đều nhuộm răng đen và mặc quần áo -áo bà ba của dân quê; rất nhiều người sống bằng nghề đánh cá…( ‘When Saigon fell many Vietnamese were prepared to leave the country…Most left out of fear, acting as refugees. They abandoned their home not because they wanted to set up roots somewhereelse but because they believed that present circumstances would not allow them to live as they had[…, p. 17] Those who came to the United States alone are, to some extent, person who have abandoned Vietnamese traditional concepts of the family. These people left on their own without making provision for relatives[…]In urban areaa, factors such as the war and and westernization had weakened family ties to some extent so that leaving home without all family members became possible. Some of the families who came to the United States did not abandon family tradition and travel to this country in extendid families. This is the case with Vietnamese families of seventeen members or more[…, p.46]Over 40 percent of all refugees are Catholic […p. 47]The women in the class were among the most traditional in the camp. They were from rural extended families-all had lacquered teeth and were dressed in the black peasant ao ba-ba; several had fished for a living…‘" (Gail Paradise Kelly, sđd, trang 17-47)

Chỉ cần đọc mấy câu trên đây là đủ biết 2 điều: trước hết, Kelly rất không có cảm tình với người tỵ nạn. Sau nữa, Kelly hoàn toàn không biết gì về chính sách của Hoa Kỳ trong việc di tản người Miền Nam mà người được ra đi bị hạn chế chứ không phải họ đã đánh mất "truyền thống gia đình" nào cả. Nhưng cái sai lầm lớn nhất của Kelly là quá hấp tấp khi kết án người tỵ nạn chỉ có thể được phép ra đi với vợ chồng con cái: những "phụ nữ răng đen" ra đi với rất nhiều người cùng họ hàng ấy là cư dân (di cư từ Miền Bắc vào) của những làng đánh cá từ Vũng Tàu đã dùng thuyền của mình đổ ra biển theo các xà lan, rồi được các tàu chiến của hạm đội Hoa Kỳ vớt lên luôn. Đa số lớp ngư dân này dĩ nhiên sống bằng nghề đánh cá và nhiều người theo đạo Công giáo. Người viết và gia đình, vô tình được một xà lan cho lên rồi được kéo ra biển sáng ngày 30 tháng 4 trong cơn mưa tầm tã, đã chính mắt chứng kiến bao cơ man là thuyền nhỏ vượt ra khơi tiến gần các chiến hạm Hoa Kỳ lúc đó đang vớt người tỵ nạn trong cơn pháo kích từ bờ của những họng súng lớn của người Cộng sản lúc ấy đã chĩa ra từ đất liền. Nhà văn Chu Tử đã bị bắn chết vào giờ thứ 25 này trên một con thuyền như thế. Những loại "sách" như của Kelly cũng là một thứ hoa ăn thịt người: chúng được nuôi dưỡng bằng máu của những gia đình bị chia lìa lần đầu rồi sau này vượt biển đắm thuyền và nỗi oan khiên của đàn bà con gái Việt Nam bị hãm hiếp hay bị bắt vào các nhà chứa Thái Lan.

· In search of Moral Authority: The Discourse on Poverty, Poor Relief, and Charity in French Colonial Vietnam (2008), Van Nguyen-Marshall

"[…] Cảm giác tội lỗi tràn ngập trong những tiểu thuyết về sự khốn cùng của nhóm Tự lực Văn đoàn, cái cảm giác tội lỗi mà con cháu của kẻ giàu có cảm thấy khi phải đối diện với tình cảnh cơ cực của đồng bào[…]Chắc chắn rằng các thành viên của nhóm là các cư dân có học, thuộc giai cấp trưởng giả sống tại các đô thị mà số thành viên quan trọng nhất là anh em nhà Nhất Linh cùng Khái Hưng- ông này xuất thân từ dòng dõi quan lại. Gia đình Nhất Linh có thể có vấn đề khó khăn về tài chính, nhưng họ (vẫn) giầu có đủ để khiến Nhất Linh tránh được việc làm lụng thường nhật và có thể theo đuổi những tùy hứng cá nhân, (như) chuyển từ học nghệ thuật tại Hà nội sang du học ngành khoa học tại Pháp[…]Năm 1937, Nhất Linh cùng Hoàng Đạo và Khái Hưng tổ chức một hội từ thiện để giúp đỡ các gia đình nghèo khó tại ngoại ô Hà nội. Cái tên của hội này đáng được lưu ý: Hội Ánh sáng, một thứ tên gợi ra hình ảnh của mối khai sáng và lòng cải thiện bắt nguồn từ giai cấp trí thức. Tương tự như các ký giả viết về công cuộc từ thiện trên các nhật báo Bắc kỳ bảo thủ (lúc bấy giờ), Nhất Linh cũng nhấn mạnh vào trách nhiệm của giới có địa vị cao cấp (trong xã hội) để thực hiện công việc cứu nghèo-(nghĩa là) phục hồi trách nhiệm đối với xã hội theo Khổng giáo. ..(‘Feeling of guilt pervade the Self-Reliance Group’s stories on poverty, guilt felt by children of the rich when confronted with the miseries of their compatriots…([…]Without a doubt, members of the Group were educated urbanites of the privileged class with the dominants members, such as Nhat Linh (and his brothers) and Khai Hung, coming from families with mandarin roots. While Nhat Linh’s family might have had financial difficulties, they were privileged enough that Nhat Linh was able to avoid holding down a regular job and could follow his personal whims, shifting from studying fine arts in Hanoi to studying science in France[…]In 1937, Nhat Linh along with Hoang Dao and Khai Hung organized a charity to help the poor with housing in the outskirt of Hanoi. The charity’s name is noteworthy: Hoi anh sang (Beam of Light), a name that invokes the image of enlightenment and improvement coming from the intellectual class. Like the journalists writing about charity in the conservative Northern Newspapers, Nhat Linh was emphasizing the elite’s duty to perform the task of poor relief-a reinstatement of Confucian social responsibility…’)…" (Van Nguyen-Marshall, sđd, trang 101-105)

Ở đây, người viết chưa nói tới việc Van Nguyen-Marshall nhận xét đúng hay sai về hoạt động của Tự lực Văn đoàn, người viết chỉ muốn đặt câu hỏi rằng những tài liệu mà Van Nguyen-Marshall dùng để nhận xét hay chỉ trích ["lãng mạn hóa sự nhận thức về cảnh cơ cực ở nông thôn (romanticize perception of rural poverty), trang 102, sđd, vv] có chính xác hay có đầy đủ chưa? Nếu không, tất cả các lý luận dựa trên sự nhận xét ấy đều tự động triệt tiêu.

Tài liệu của gia đình Nhất Linh, nghĩa là từ bà Nguyễn Thị Thế, người em gái thứ năm của Nhất Linh thì trái ngược với tài liệu của Van Nguyen-Marshall. Theo bà Thế, Nhất Linh bỏ học vẽ, sang Lào vẽ phông cho rạp hát, vào Sài gòn rồi trở về nhà, xin mẹ cho sang Pháp học bằng tiền học bổng. Bà Thế, sinh năm 1909, là con thứ năm trong gia đình bẩy anh em Nguyễn Tường. Bà kết hôn năm 24 tuổi với ông Nguyễn Kim Hoàn, quản lý nhà xuất bản Đời Nay và các tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay. Bà là thân mẫu của các nhà văn Duy Lam và Thế Uyên. Như thế, tin tức của bà phải xác thực hơn ai hết:

-"DU HỌC-Bên chị Tam thì anh Tam bỏ học vẽ, vào Sài gòn được ít tháng, anh khoe với mê tôi là anh vào Sài gòn rồi đi Lào vẽ phông cho rạp hát được ít tiền, anh xin phép mẹ tôi qua Pháp, bà bảo qua bên đó lấy tiền đâu ăn học. Anh bàn là nghe nói trong Huế có một cái hội gọi là hội du học bảo trợ do các quan đại thần lập ra để cho con cháu các quan đai thần hoặc các vị có công với đất nước. Vì vậy, cả nhà lo giấy tờ để xin học bổng cho anh và cả em Sáu nữa (tức là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi thành Lân, lấy bút hiệu Thạch Lam-Chú của người viết). Mẹ tôi gửi giấy về tận quê nội ở Hội An, để sao văn bằng các cụ tổ hồ xưa là bậc khai quốc công thần đã đi sứ sang Tàu, một mặt gửi hồ sơ cho hội xét, một mặt lo xin phép sở toàn quyền Hà nội cho du học tự túc. Chỉ có anh Tam được chấp thuận[…]Hội ở Huế chỉ giúp cho nửa tiền ăn thôi. Một tháng ăn tiêu bên Pháp phải mất một trăm sáu chục đồng. Hội cấp cho tám mươi đồng, còn lại nhà phải lo lấy. Chị Tam lúc đó đã có hai con lại phải phụng dưỡng bà nội nên mẹ tôi không bắt chị lo nữa, chỉ thỉnh thoảng gửi thêm một ít tiền để mua sách vở quần áo hoặc gửi thức ăn sang…"(Nguyễn Thị Thế, Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường, trang 104-105, Texas, 1992)

Như vậy, rõ ràng Nhất Linh đã có dự tính du học từ lâu vì ông bỏ học vẽ, sang tận bên Lào làm việc kiếm tiền. Sau đó, ông được học bổng một nửa để học xong bằng Cử nhân Khoa học trong ba năm. Nhưng dù có thế nào, đưa việc một người cố gắng du học để thay đổi đời sống mình cho tôt hơn hay hợp hơn với năng khiếu –chứ không phải cái điệu con nhà sang trọng có thể du học tùy hứng như Van Nguyen-Marshall đã vẽ ra– để gán ghép vào hoạt động văn học và xã hội của một tác giả như Nhất Linh là không công bằng và đầy thành kiến, thành kiến với giai cấp tiểu tư sản vốn là mục tiêu tiêu diệt của người Cộng sản.

Sau nữa, người viết rất ớn cái loại học "tẩu hỏa nhập ma" như trường hợp "Nhà Ánh sáng" do Van Nguyen-Marshall "phiên dịch" bằng cách sử dụng những khái niệm tuy cao siêu mà chẳng ăn nhập gì đến chuyện ở Việt Nam cả. Theo bà Thế, xuất xứ của kiểu "Nhà Ánh sáng" rất giản dị: Nhất Linh tình cờ khám phá ra một kiểu nhà ở Tuy Hòa mà ông rất ưng ý. Hai chữ "ánh sáng" ở đây chỉ có nghĩa giản dị là cho "ánh sáng" tràn vào những "hang nhà" tối tăm mà thôi, chứ có liên quan gì đến con cháu cụ Khổng?! Nếu quan niệm như thế thì các sự cứu tế hầu như thường trực của chùa chiền sẽ được gán cho giai cấp nào? Sau đó, nếu kiểu nhà này là một thứ bàn đạp để giải phóng người nghèo khỏi các tệ nạn như bùa hương nước thải, các nơi chung cư không đủ vệ sinh vv thì càng nên cổ võ mới phải:

-"[…] Vì mới ở Pháp về nên đi tới đâu anh Tam cũng kêu nước mình chậm tiến quá, hằng bao nhiêu thế kỷ cũng không có gì thay đổi. Đi ngang Tuy Hòa thấy bên đường có nếp nhà tre lợp rơm, mái nhà cắt xén rất khéo trông thật đẹp. Anh bảo ngừng xe xuống coi thật kỹ.Tường trát vôi thật nhẵn, trần nhà làm bằng nứa đập dập ra để khít liền nhau, bụi rơm không rơi xuống được[…]Mẹ tôi cũng thích kiểu nhà này nên sau bắt chước làm nhà ánh sáng tại trại Cẩm giàng…"( Nguyễn Thị Thế, sđd, trang 105-106)

Đó là thí dụ tiêu biểu của loại tài liệu cần xét lại. Sau đây, là một loại tài liệu một chiều nhưng nhân danh văn chương và lịch sử của cả một dân tộc.

B- Người lạ, đất lạ, những tâm hồn xa lạ: Khi người nghiên cứu ngoại quốc chỉ rành tiếng ngoại quốc

Một trường hợp khác nữa cho thấy một sự tệ hại tương tự: đó là cuốn tập thơ song ngữ Việt – Anh The Defiant MuseVietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present do Nhà xuất bản The Feminist Press thuộc Đại học thành phố New York (City University of New York), Hoa Kỳ phối hợp với Nhà xuất bản Phụ Nữ, Việt Nam, cho xuất bản tại Hoa Kỳ, do Nguyễn Thị Minh Hà, Nguyễn Thị Thanh Bình và Lady Borton đồng biên soạn vào năm 2007. Lady Borton là một nhân viên đạo Quaker, trước 1975, làm việc tại Quảng Ngãi. Sau 1975, bà định cư tại Hà nội, viết sách về cuộc đời bà tại đây, về Hồ Chí Minh, về Võ Nguyên Giáp và về văn hóa Việt Nam (chung với Hữu Ngọc). Bà cũng có viết một cuốn sách về người vượt biển. Những cuốn bà viết đều giống nhau ở một điểm: không có Việt nam Cộng hòa và không có người Việt chống cộng. Sự ái mộ Hồ Chí Minh và người Cộng sản khiến bà biến thành một người tuyên truyền chuyên nghiệp trong khi ngay chính nhiều nhà nghiên cứu Miền Bắc cũng đã kêu gọi thay đổi cách làm việc bị áp đặt từ bên trên.

Người viết xin trích ra đây mấy đoạn trong bài "Một sự xâm phạm sỗ sàng: Những sai lầm khi chuyển ngữ và về văn hóa Việt Nam của Lady Borton" đã đăng trên tạp chí Khởi Hành để trình bày về tính cách tuyên truyền ấy:

– "[…] Người viết hết sức ngạc nhiên khi được nghe bà Borton phê bình người Việt Miền Nam và người Việt Miền Nam tỵ nạn hay sinh sống ở Hoa Kỳ sau khi tình cờ được nghe ông Daniel C. T sang phỏng vấn bà Borton vào thượng tuần tháng giêng năm 2007 trên làn sóng của KUCI Subversity ngày 28.7.2007, ở hai điểm chính. Theo bà Borton thì thứ nhất, từ điển (Anh Việt-Việt Anh) của Miền Nam sai dẫn đến hậu quả là một cộng sự viên (xuất thân là người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ) dịch hỏng; thứ hai, người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, đa số ra đi từ Miền Nam, không thể hiểu được những từ ngữ cổ hay từ ngữ địa phương từ Miền Bắc:

-" […]Chúng tôi có một người Mỹ gốc Việt lo việc chuyển ngữ cho vài bài thơ này[…]Nhưng cô ấy dùng từ điển của Miền Nam, của Miền Nam cũ, và cô ấy dịch mấy chỗ sai liền vì cô ấy không biết những chữ này, đúng chưa? […] Những chữ này là những chữ địa phương và người ta phải biết chúng là chữ địa phương cho nên trong số các bạn hay đồng nghiệp người Việt ở Hoa Kỳ có nhiều người gốc Miền Nam, sẽ không biết được một số chữ Miền Bắc được sử dụng trong mấy bài thơ xưa…(We had a Vietnamese American who was working on some of these poems, […]but she was using dictionaries from the South, the former South, and she just plain got some of the translations wrong because she did not know the words, right? […] So those words are locality and you have to know that local word so Vietnamese friends and colleagues in the States, many of whom come from the South, won’t know a word that was used in some of the ancient poetry that came from the North…"(Lady Borton, trả lời phỏng vấn)

"Sau nữa, cũng theo bà Borton, chỉ có người trong nước mới có thể thực hiện một tuyển tập (thơ) song ngữ vì người Việt sống ngoài nước không thể có một căn bản văn hóa sâu xa để chuyển dịch (cho chính xác):

-"[…]Tôi nghĩ rằng ai mà học về Việt Nam thì đây là cuốn sách duy nhất từ ngay chính Việt Nam, tất cả mọi thứ khác mà quý vị đọc là đã (bị) qua một cái sàng. Nội dung cuốn này đã được chọn, có xuất xứ, được biên tập bằng người Việt. Thực là môt sự khác biệt khi bạn có một nhóm người Việt chạy quanh bàn họp để mà tranh đua lẫn nhau trong việc phiên dịch; nó rất khác với cảnh người Mỹ gốc Việt làm vì người Mỹ gốc Việt không có một căn bản sâu xa trong (sự am hiểu) văn hóa. Không thể có được. Bạn không thể có được (cái căn bản am hiều sâu xa ấy) nếu bạn đã sống lâu ở một quốc gia khác…" (I think anybody studying Vietnamese—this is THE book—the only one from Vietnam itself, everything else you are reading had gone through the filter. This is chosen by Vietnamese, originated, edited by Vietnamese. It is very very different when you get that group of  Vietnamese running around the table challenging each other on the translations; very very different from having a Vietnamese American doing it because Vietnamese Americans don’t have that deep base in the culture. You can’t. You can’t if you spend a significant time in another country…."(Lady Borton)

"Đọc đến đây, bao nhiêu học giả Hoa Kỳ, chứ chưa nói đến dân "da vàng" vội, như học giả Peter Zinoman, người vừa cho xuất bản cuốn Vietnamese Colonial Republican: The Political Vision of Vu Trong Phung chắc phải bỏ bút mà "thôi trở về (Hoa Kỳ) đi cày" (Trần Tế Xương). Để công bằng cho bà Borton, chúng tôi cho đăng nguyên văn hai đoạn bằng Anh ngữ do chúng tôi ghi lại (1). Dĩ nhiên nếu có sai sót, chúng tôi sẵn sàng sửa chữa và trân trọng mời bà Borton lên tiếng.

"Ở đây, người viết, một người Miền Nam rời Việt Nam vào khoảng 22 tuổi, sang Hoa Kỳ vào năm 1975, nghĩa là sau gần 40 năm của một thời gian dài cư ngụ tại một quốc gia khác (…"spend a significant time in another country,") sẽ chứng minh bằng cuốn thơ song ngữ này ba điều. Thứ nhất, khả năng dịch từ Việt ngữ ra Anh ngữ của bà Borton vẫn còn yếu kém; thứ hai khả năng nghiên cứu phải được xét lại; và thứ ba, vì bà Borton thiếu sót trầm trọng về kiến thức văn hóa và lịch sử Việt nên dịch sai lắm khi một cách khôi hài với độc giả hay một cách tội nghiệp cho đồng dịch giả. Nhưng quan trọng hơn hết, theo người viết, cuốn thơ song ngữ này KHÔNG DO người Việt (trong nước) làm một cách hoàn toàn và quả đã có qua một thứ "sàng" chính trị; nghĩa là trái ngược với lời bà Borton đã trình bày rằng "Nội dung cuốn này đã được chọn, xuất xứ, biên tập bằng người Việt… (‘This is chosen by Vietnamese, originated, edited by Vietnamese…’")

"Nếu người viết không nhầm thì bà Borton, một người chắc chắn không phải là người Việt, chiếm một phần rất lớn trong The Defiant MuseVietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present. Trước hết, bà là 1/3 của Ban Chủ biên. Kế đó, cuốn sách này có 288 trang thì bà Borton đã viết "lời giới thiệu" dài 30 trang (trang 1-30) và dịch 18 trang Ca dao (trang 40-57). Trong 72 bài được chọn thì bà Borton có tên là dịch giả hay đồng dịch giả của 51 bài: bà dịch 12 bài, đồng dịch giả với Xuân Oánh 33 bài, 2 bài với Hữu Ngọc, 2 bài với Nguyễn Quang Thiều và hai bài với Hữu Ngọc và Châu Diên. Như vậy, chỉ tính phần dịch thôi, bà Borton đã chiếm khoảng 70 phần trăm. Và nếu tính luôn cả phần giới thiệu thì bà Borton choán hết gần cuốn! Đã không hoàn toàn do người Việt làm mà rõ ràng đã có qua một thứ "sàng" chính trị, nhất là sau khi bà Borton công khai chỉ trích từ điển Miền Nam và người Miền Nam ở ngoại quốc, thì một vấn đề trầm trọng khác sẽ phải được đặt ra kế đó: cuốn tuyển tập này được soạn thảo với mục đích gì?

"I-Khả năng nghiên cứu của bà Borton

"Trong phần Giới thiệu, bà Borton tán thán rằng truyền thống làm thơ của các vị danh tướng ở Việt nam đã khởi đi từ một phụ nữ, là Bà Trưng Trắc. Thế thì Bà Trưng Trắc làm thơ Đường, thơ mới hay thơ tự do? Không, theo bà Borton, rõ ràng bà Trưng Trắc làm thơ lục bát- bốn câu:

-“Nước Việt nổi tiếng về truyền thống lâu đời của các nhà thơ kiêm danh tướng, thế mà ít người nhận ra rằng truyền thống "văn võ toàn tài" cũng đã bắt đầu với một phụ nữ. Vào năm 40 Công nguyên, Trưng trắc bước lên kỳ đài hành lễ trước khi khởi cuộc chiến chống lại quân Trung Hoa. Đứng trước các tướng binh, bà tuốt kiếm và đọc Lời thề sông Hát, một bài lục bát bốn câu: Một xin rửa sạch giặc thù/ Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng/ Ba kẻo oan ức lòng chồng/ Bốn xin toàn vẹn sở công lênh này’-Viet Nam is famous for its long tradition of poet generals, yet few people realize that the practice of combining military arts (võ) and literary arts (văn) also began with a woman. In 40 C.E., Trung Trac stepped onto the platform at the flag-worshipping ceremony before the battle began against the Chinese. Standing in front of her officers, she unsheathed her sword and recited her “Oath at Hat River,” a quatrain in six-eight meter–a six-word line followed by an eight-word line:‘First pledge: Wash away the enemy; Secong pledge: Rebuild the Hung Family’s ancient karma; Third: revenges injustice against my husband; Fourth Pledge: Execute this oath from beginning to end.’” (Lady Borton, Introduction, trang 1 -Chữ in đậm là của người viết).

"Để chứng minh, bà Borton trưng ra một tài liệu trong cuốn Nữ Sĩ Việt nam (trang 23-31) để làm bằng cho khám phá kỳ lạ và “ít người biết” này. […] Nhưng căn cứ theo chính tài liệu ấy thì bà đã hiểu sai hoàn toàn: Bốn câu thơ lục bát trên (Một xin rửa sạch giặc thù/ Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng/ Ba kẻo oan ức lòng chồng/ Bốn xin toàn vẹn sở công lênh này) không phải do bà Trưng Trắc sáng tác (!) như bà Borton quả quyết mà đã được dịch từ Thiên Nam ngữ lục, một tác phẩm mà tới nay người ta vẫn chưa xác định được tác giả. Thiên Nam ngữ lục không phải là một tác phẩm không quan trọng đến nỗi một người –như bà Borton–dám chê người Việt không-biết-tiếng-Việt lại có thể sơ xuất đến nỗi không biết về nó. […]Trước hết, cụ Trần Văn Giáp, trong quyển Tìm hiểu Kho Sách Hán Nôm Tập 1-Nguồn Tư liệu Văn học, Sử học Việt Nam –Có phân tích và phê phán một số sách cần thiết-Thư tịch chí Việt Nam, đã viết về Thiên Nam ngữ lục (ngoại kỷ) như sau: -“Sách này có nhiều bản chép nhưng bản ký hiệu AB. 478 tương đối có giá trị hơn cả. Về sách này chúng ta chỉ biết tác giả sống vào khoảng cuối Lê đầu Nguyễn. Sách kể lại lịch sử nước ta bằng thể văn lục bát (Nôm) từ Hồng Bàng đến hết triều Lê[…] Sách này đã được nghiên cứu và phiên âm ra chữ quốc ngữ do nhà xuất bản Văn Hóa xuất bản…”(trang 126, sđd)

"Cuốn mà cụ Giáp nhắc đến là cuốn Thiên Nam ngữ lục (Diễn ca Lịch sử)-Tác phẩm Thơ Nôm cổ Thế kỷ thứ 17, Tập I, Từ thời Hồng Bàng đến đời Ngô và Tập I I- Từ Đời Đinh đến Đời Trịnh, do hai ông Nguyễn Lương Ngọc và Đinh Gia Khánh “phiên âm, chú thích và giới thiệu” và do Nhà xuất bản Văn Hóa xuất bản tại Hà nội năm 1958. […] Gần đây hơn, Nhà xuất bản Văn Học cho xuất bản một cuốn Thiên Nam ngữ lục do Nghiên cứu viên Nguyễn Thị Lâm (Phòng Văn Tự học, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) “khảo cứu, phiên âm, chú giải với sự hiệu đính của Giáo sư Nguyễn Ngọc San.” […] Nguyễn Thị Lâm dịch có vài chữ khác, nhưng tựu chung gần hệt như thế trong đoạn về Bà Trưng. Cụ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố cũng có giới thiệu đoạn về Hai Bà Trưng trong Thiên Nam ngữ lục với tưạ “Một bài thơ cổ về Hai Bà Trưng” (Tạp chí Tri Tân, bắt đầu từ số 38 -Tạp chí Tri Tân 1941-1946, GS. Đinh Xuân Lâm giới thiệu; Nguyễn Quang Ân, Phạm Đình Nhân và Phạm Hồng Toàn sưu tầm và tuyển chọn, Trung Tâm Unesco Thông tin Tư liệu Lịch sử và Văn Hoá Việt Nam, Hà Nội, 2000)[…]

"I I-Khả năng chuyển ngữ của bà Borton

1- Thí dụ thứ nhất

"Việc bà Borton đưa một cộng sự viên hợp tác trong tiến trình hoàn thành bản dịch của tập thơ này ra bêu xấu công khai (rằng cô ấy dịch không đúng) càng phô ra bản chất bất lịch sự và thiếu văn hóa của bà Borton, nhất là khi bà Borton là người dịch sai một cách thê thảm, không phải một lần mà nhiều lần. Thí dụ điển hình là bài ca dao thứ hai (trang 44-tiếng Việt) được bà Borton dịch (trang 45-tiếng Anh) như sau:

Em là con gái Kẻ Mơ/ I am a Kẻ Mơ girl

Em đi bán rượu tình cờ gặp anh/ As I sold wine, we chanced to meet

Rượu ngon chẳng quản be sành/ No manager checked my tempting treat…[…]

Cái câu “Rượu ngon chẳng quản be sành” hầu như đã thành một thứ tục ngữ mà bà Borton dịch sai thì kể ra cũng hơi lạ. Nhưng đó là vì bà Borton không biết thêm một nghĩa của chữ “(chẳng) quản” nữa là “(không) màng đến,” chứ không phải quản ở cái nghĩa “cai quản” (manage)

[…]

"III- Thiếu văn hoá Việt để dịch cho chính xác

"1-Thí dụ thứ nhất

Bài ca dao thứ ba (tiếng Việt trang 44) do bà Lady Borton dịch (tiếng Anh trang 45):

Áo xông hương của chàng vắt mắc/ You left your shirt when you went

Đêm em nằm, em đắp lấy hơi/ Now, it covers me, I inhale your scent

Gửi khăn, gửi túi, gửi lời/A scarf, packages, and words I have sent

Gửi đôi chàng mạng cho người đường xa/ With two of my halters as a complement…”

"[…] Thế thì hai chữ “chàng mạng” nghĩa là gì và tại sao lại “đôi” (chàng mạng)? Người viết có tra từ điển và chỉ được giải thích là “khăn voan.” May mắn thay, người viết tình cờ được đọc một số bài viết về nghệ thuật và nhất là về chùa chiền của họa sĩ Phan Cẩm Thượng, mà ông có lần đã trích bốn câu này. Người viết tìm cách liên lạc và qua trung gian của một người bạn tại Hà nội lúc nào cũng quan tâm đến những câu chuyện văn chương nghệ thuật, Phan Cẩm Thượng đã sốt sắng giải thích hết sức cặn kẽ theo sự suy luận của ông, xin ghi ra đây:

-“Về hai chữ Chàng mạng, trước đây cũng đã từng hỏi nhiều cụ già , mà chẳng ai cắt nghĩa cho rõ. Tự tôi suy luận ra như thế này. Đây là câu ca dao của hai anh chị yêu nhau, nhưng thuộc loại gia đình gia giáo nề nếp, phú quý. Anh thì tặng Ả áo xông hương, Ả thì tặng lại các đồ riêng của nữ giới. Một cách khẳng định tình sâu nặng. Vậy đồ của nữ giới ngày xưa gồm những gì? Khăn tay, khăn voan (che mặt), khăn đội đầu, khăn vành, túi đựng trầu, trong đó có tráp trầu nhỏ bằng bạc, cối bạc, bình vôi bạc… đều nhỏ xíu cho vào một túi gấm, hoặc túi vải thêu, trâm cài tóc, lược ngà, và các loại lược, yếm thắm, dây buộc ngực ruột tượng (khăn quấn bụng, có thể để túi tiền), xà tích (dây bạc đeo hông), bao tay (con nhà giàu mới có) […]Ngươì phụ nữ xưa đeo mạng bằng khăn voan, bằng các chuỗi hạt ngọc xâu thành hang dọc trước mặt, như mành mành.. Truyền thống này có ở Ấn Độ, Hồi giáo, con gái nhà quyền qúy Trung quốc, con gái nhà quyền quý Việt Nam khi ra đường. Người Việt thời Đông sơn cũng đeo chính cái Chàng mạng trước trán, gồm những miếng kim loại bằng đồng có chạm khắc, nhưng không qua mũi, như là trang sức thôi. Về sau khi đeo bằng khăn voan, hoặc sa mông, hoặc bằng hạt ngọc thì có hai cái móc, móc hai đầu khăn vào khăn trùm đầu, tức là voan phủ trước mặt lên trên khăn đầu. Hai cái móc này được làm bằng bạc, chạm khắc cầu kỳ, xủng xoảng, như là đôi hoa tai lớn, có thể móc vào tai thành hoa tai. Nếu khăn voan lớn ra tận sau gáy, thì đôi Chàng Mạng sẽ móc vào nhau. Do đó Chàng mạng luôn có đôi thể hiện cho đức hạnh phụ nữ, sự kín đáo, tình yêu… Khi cởi khăn cho ai xem mặt, trao đôi Chàng Mạng, tức là chấp nhận tình yêu, gửi gấm thân phận. Vậy cô gái mà câu ca dao nhắc tới, là cô con nhà quyền quý, có người yêu đi xa (chắc cũng là con nhà cao sang, một thư sinh đọc sách bên bình đốt trầm, nên áo có mùi trầm thơm, gọi là áo xông hương). Chàng ta sẽ gửi cho cô gái cái áo. Khi nào cô nhớ chàng, mong chàng về, thì cho áo vào nồi rang lên để chàng nóng ruột. Còn cô sẽ nhờ người hầu, đem đến cho chàng những kỷ vật riêng của người con gái như khăn tay, túi đựng trầu, lời yêu thương, và cả đôi Chàng Mạng. Nghĩa là cô sẽ chung thủy và chỉ lấy chàng thôi. Còn chàng thư sinh kia? Khi đi mà mang theo những thứ đó, có nghĩa là sẽ không có cô gái nào bén mảng đến nữa, vỉ biết anh ta có ý trung nhân rồi.” (Phan Cẩm Thượng, Thư email trả lời ngày 23. 10. 2008)

"Chúng tôi hết sức cảm ơn họa sĩ Phan Cẩm Thượng (2) vì sự suy luận của ông dưạ trên những chứng cớ tuy rõ ràng nhưng phải cần một kiến thức và kinh nghiệm như ông thì mới suy ra được. Chúng tôi cũng muốn nhắc đến một đoạn tả lại một bức tượng phụ nữ với một loại khăn đội đầu tương tự như ông đã nhắc đến: "Pho tượng người đàn bà dùng làm chuôi thành đoản kiếm tìm được ở Núi Nưa năm 1961, đẹp hơn tất cả. […] Tóc của người đàn bà quấn ngược lên trên đỉnh đầu, phía dưới trán chit ngang một dải khăn trang trí bằng những chấm dải bằng hình bông lúa, đầu khăn vắt trùm lên trên búi tóc, thành hình một cái mũ có chóp nhọn. (Những vết tích đầu tiên của Thời đại Đồ Đồng Thau ở Việt Nam, Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh và Nguyễn Linh, Nhà xuất bản Khoa Học, Hà Nội, 1963, trang 213). Dĩ nhiên không ai dám quả quyết đó là loại khăn Chàng mạng, cần để tồn nghi, nhưng ít ra cũng là một giả thuyết đáng tin cậy và chắc chắn phải đúng hơn cái giả thuyết halter của bà Borton.

"Sau nữa, “túi” ở đây không là “gói” như bà Borton đã dịch ra là “packages” mà là một thứ túi gấm, túi thêu như đã nói trên. Ngoài ra, theo lời một người bạn Hà nội vong niên thì chữ khăn ở đây không phải là “scarf” (loại khăn choàng cổ) mà là khăn nhỏ thêu tay của cô gái…." .

"Ngoài ra, độc giả cũng có thể tìm hiểu thêm về cách làm việc của bà Borton trong cương vị đồng chủ bút qua kinh nghiệm của một người trong cuộc. Trong bài "Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn dịch giả Đinh Từ BíchThúy về cuốn The Defiant MuseVietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present, đã đăng trên Khởi Hành cùng số và trên Da Màu, dịch giả Đinh Từ Bích Thúy đã vui lòng trả lời một số câu hỏi của người viết liên quan đến khía cạnh này vì bà cùng Martha Collins cũng đã chuyển ngữ vài bài thơ trong tuyển tập nói trên như Hai sắc hoa ti-gôn, Vu Quy…" (Nguyễn Tà Cúc, "Một kiểu xâm lăng sỗ sàng: Những sai lầm khi chuyển ngữ và về văn hoá Việt của bà Lady Borton trong tập thơ song ngữ Việt – Anh Vietnamese feminist poems from antiquity to the present,” Khởi Hành 149-Số Đặc biệt Phụ nữ tháng 3.2009-Chủ nhiệm&chủ bút Viên Linh, Thư ký Tòa soạn Nguyễn Tà Cúc-Hoàn chỉnh)

Trường hợp bà Borton thì nếu muốn nặng, người ta có thể nói bà là một thứ "thực dân văn hóa" hay một thứ "đầu nậu văn nghệ da trắng.” Nhưng theo người viết, bà Borton không phải là người chuyên môn về các lãnh vực này. Lãnh vực của bà là viết sách ca tụng ông Hồ ông Giáp để bênh vực cho thái độ phản chiến. Nếu bà Borton dừng lại ỏ đó thì hai -miền đã đỡ mất mặt một chút, ý người viết muốn nói mặt của các đồng nghiệp đồng chủ biên với Borton ở Hà nội và mặt các bà The Feminist Press ở New York, chứ lại không phải mặt ông Hồ.

C- Người lạ, đất lạ, những tâm hồn xa lạ: Khi vài người Miền Nam di tản không rành ngôn ngữ chính trị

Khoảng năm 2000, Học viện William Joiner "chuyên nghiên cứu về Chiến tranh và những Hậu quả về xã hội do chiến tranh gây ra" (William Joiner Institute for the Study of War and Social Consequences) tại Đại học Massachusetts, Boston bắt đầu một chương trình tuyển mộ những nghiên cứu sinh cho chương trình nghiên cứu về cộng đồng Việt Nam Biển-ngoài (hải ngoại).

Lúc ấy, giáo sư Kevin Bowen là giám đốc trung tâm này. Bowen là một cựu quân nhân từng sang Việt Nam. Sự chọn lựa các nghiên cứu sinh mà đa số xuất thân từ Việt Nam hay thân tả khiến cho ông và Trung tâm này bị chỉ trích, thậm chí bị kiện. Người viết đưa ra một vài đoạn trong bài tiểu luận của Nguyễn Mộng Giác– một nhà văn vừa lập nghiệp ở Miền Nam thì xẩy ra cuộc di tản 1975–được tuyển vào niên khóa 2001-2002. Nhân ông nhắc nhiều tới lớp nhà văn ra đi sang Hoa Kỳ trước (ông vượt biển sau này), người viết dẫn chứng những đoạn liên quan đến họ để người đọc dễ theo dõi khi sang phần III, là phần trình bày về lúc ông bị phản bác.

Những đoạn sau đây được trích trong "Hồ Sơ PROJECT DIASPORA William Joiner Center Niên khóa 2001-2002, Rockerfeller Fellow: Nguyễn Mộng Giác" và có tựa là Sơ thảo về các giai đoạn thành hình và phát triển của giòng văn xuôi ở hải ngoại từ 1975 đến nay (trang 234-309) do Tạp chí trên mạng Da Màu đăng tải. Đây là tập hợp của nhiều bài xuất hiện trước đó mà đã được cho đăng rải rác trên các tạp chí mà Nguyễn Mộng Giác tham dự hay ấn hành trong cuốn Nghĩ về văn học hải ngoại (Văn mới xuất bản, 2004, Hoa Kỳ).

Trong bản sơ thảo này, qua những đoạn được trích ra dưới đây, người đọc sẽ thấy ông có những nhận định về giới cầm bút di tản trước ông mà rất cần xét lại xem nguồn cơn của những tin tức quá sai lạc ấy là do toan tính nào:

-"[…] Suốt 18 năm làm chủ bút và điều hành tạp chí Văn Học, tôi có những hiểu biết và kinh nghiệm của “người trong cuộc” về văn chương hải ngoại,… Xin xem đây như một tài liệu tham khảo, một chứng từ của người từng theo dõi một thời gian dài các biến chuyển của văn chương hải ngoại (Lời thưa trước)[…]

"Nhà vănVõ Phiến tự họa và đồng thời cũng nói giúp cho các văn hữu cùng di tản đợt đầu với ông. Khác với tâm sự tuyệt vọng lúc ông chia tay với tôi ở Sài Gòn, qua Hoa Kỳ ông cũng cố gắng duy trì sinh hoạt cũ. Ông viết tùy bút, truyện dài, hợp tác với nhà văn Lê Tất Điều cho xuất bản tạp chí Văn Học Nghệ Thuật. Nhà văn Thanh Nam thì chủ trương tờ Đất Mới ở Seattle. Nhà thơ Viên Linh thì tái tục Thời Tập ở Washington D.C. […] Trừ Đất Mới được chính quyền trợ cấp theo chương trình xã hội dành cho tị nạn nên sống dai, các tạp chí văn học khác đều vắn số. Dấu chữ Việt chưa có, công in cao, sách báo bày bán với nước mắm hột vịt, hàng có đưa giao mà tiền không thu về được, tình trạng chung thường thê thảm. Phải chờ đến khi phong trào vượt biển trở thành vấn đề thời sự làm xúc động lương tâm cả thế giới, thì mới có biến chuyển lớn trong tâm trạng người cầm bút lẫn tâm trạng độc giả. Cuộc vượt biển vĩ đại và bi thương chưa từng có trong lịch sử Việt Nam phơi bày cho thế giới thấy thực chất của chế độ đang cầm quyền tại Việt Nam.

"Cuộc di tản năm 1975 lâu nay vẫn bị xem như một cuộc tháo chạy thoát thân, với nhiều mặc cảm nặng nề tiếp theo, nhờ vụ vượt biển từ 1979 trở đi, trở thành một cuộc đi tìm tự do, một quyết định sáng suốt. Số người vượt biển ngày càng nhiều, trong đó có nhiều nhà văn nhà thơ có kinh nghiệm sống dưới chế độ cộng sản sau 1975. Họ biết rõ vì sao mình ra đi, và nếu đi thoát được, lớp thuyền nhân đi sau cũng biết rõ mình phải làm gì. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà văn thuyền nhân đã có thể cầm bút viết ngay những tác phẩm quan trọng của đời mình khi vừa đặt chân lên đảo: Hà Thúc Sinh viết Đại Học Máu, Tạ Tỵ viết Đáy Địa Ngục, Nguyễn Mộng Giác viết Ngựa Nản Chân Bon và Mùa Biển Động, Tưởng Năng Tiến viết những bài phóng bút hay nhất của anh…Có thể nói lớp vượt biển sang sau, tuy hành trình đi tìm tự do gian nan nguy hiểm hơn lớp di tản 1975, nhưng khi được định cư, họ có nhiều may mắn hơn lớp trước. Họ sang vào lúc những người Việt sống tứ tán khắp nơi đã tập trung lại thành cộng đồng, các cơ sở kinh doanh buôn bán của người Việt đã mọc lên và phát triển. Thảm cảnh vượt biển làm rúng động thế giới, nên qui chế trợ cấp xã hội và huấn nghệ ở các nước đệ tam tỏ ra dễ dàng, dành nhiều ưu tiên cho người tị nạn. Số người đọc tăng, số người viết tăng, báo chí Việt ngữ phát triển, do đó từ 1979 đến khoảng 1981, tuy số lượng sách Việt xuất bản hằng năm còn ít, nhưng rõ ràng đây là thời kỳ chuyển mạch thuận lợi để văn học Việt Nam hải ngoại bắt đầu phồn thịnh từ 1982[…]

"Gần như thời thế đã đưa nguyên cả một guồng máy quốc gia sang đặt ở nước ngoài, trong đó có tổ chức văn hóa văn nghệ. Khi cần lên tiếng chung phản kháng một vụ đàn áp văn nghệ sĩ ở Việt Nam, hoặc trên một trang phân ưu nào đó của giới văn chương, tên tác giả in đặc cả trang giấy, đếm ra thì gần đến hai phần ba số người cầm bút cũ Miền Nam. Nhưng điểm lại những tác giả có tên trong các bản “lên tiếng chung,” so sánh với số sách được xuất bản, mới thấy một số không ít nhà văn nhà thơ không viết được gì suốt bốn, năm năm dài. Phần lớn các tác giả di tản đợt đầu đã ngưng viết, hoặc chỉ viết lai rai. […] trong khi lớp di tản 1975 thiếu tự tín vì nghĩ mình thiếu kinh nghiệm mới, còn kinh nghiệm cũ trước 1975 thì đã khai thác hết[…]

"Theo tôi, nguyên do chính là mãi cho đến nay, người cầm bút hải ngoại vẫn còn mang nặng mặc cảm đối với quê hương, và mặc cảm đó biến thái từ cực đoan này tới cực đoan khác, lúc là mặc cảm tự ti, lúc là mặc cảm tự tôn. Đối với đợt tị nạn đầu tiên rời bỏ quê hương ngay sau khi Sài Gòn thất thủ thì suốt ba, bốn năm lưu vong đầu tiên, mọi người đều mang mặc cảm thất bại, lơ láo, bơ vơ, nghĩ không còn tương lai nào khác hơn là “sống nhờ đất khách thác chôn quê người,” đời mình coi như bỏ đi, còn đời con cháu thì chìm mất tăm vào xã hội mới, mất gốc đứt rễ không còn gì đáng nói nữa. Những đợt thuyền nhân vượt biển ồ ạt đặt chân lên bến bờ tự do từ 1979 trở về sau, mang theo tin tức về một quê hương nghèo đói, đoạ đày, khốn cùng dưới chế độ cộng sản, đã thay đổi hẳn tâm cảm của người cầm bút. Rõ ràng mọi người tìm lại được lẽ sống, tìm lại được niềm tin. Cuộc đời mình, khả năng sáng tạo của mình, không còn vô nghĩa vô ích nữa. Từ tự ti, người cầm bút có mặc cảm tự tôn. Người ta bàn luận, nói nhiều về sứ mệnh, về trách nhiệm của người cầm bút trước hiện tình đất nước. Sự hào hứng nhiệt tình của những năm 1984, 1985, 1986, 1987 trong sinh hoạt văn học hải ngoại xuất phát từ mặc cảm tự tôn này. […]Mặc cảm tự tôn cũng biến đổi cả các cảm hứng văn học khác, như khuynh hướng hoài niệm và khuynh hướng hội nhập. Từ những lời thơ hoài cổ thống thiết tuyệt vọng, văn chương hoài niệm thời kỳ sau biến thành những cuốn tiểu thuyết phong tục mô tả lại quê hương vào thời còn thanh bình thịnh vượng. Cung cách hội nhập vào đời sống mới nơi xứ người cũng tự tín hơn, không rụt rè lơ láo như trước. Nhưng dần dà niềm tự tin lạc quan ấy bị nhiều thử thách lớn lao.[…]

"Thử thách thứ hai không kém quan trọng là từ 1988, sự giao lưu tin tức và sách báo giữa hải ngoại và quốc nội chẳng những dễ dàng hơn trước, mà còn cập nhật nữa. Hằng tuần nếu có hàng nghìn người từ Việt Nam ra hải ngoại mang theo những tin quê nhà mới nhất, thì đồng thời cũng có hàng nghìn người từ hải ngoại về thăm quê hương, tận mắt chứng kiến thực trạng nơi chôn nhau cắt rốn. Theo hành lý của kẻ đi người về là những tờ báo, những cuốn sách, những băng nhạc, bất chấp những cấm đoán và những tờ tuyên cáo. Đời sống tự nhiên, rõ ràng vượt qua những rào cản của chính trị giai đoạn. Trong lúc các đoàn thể chính trị có thêm những dữ kiện mới để vạch lại chủ trương chính sách, thì giới cầm bút hải ngoại cũng phải đối diện với một thực tế mới: đó là thử thách của sách báo văn nghệ phẩm phát hành từ quốc nội, theo chân người đi người về, hiện có mặt tại đây. Nhiều người (kể cả một số người cầm bút) e ngại phải đối đầu với thử thách này, quay mặt làm ngơ, coi như không cần phải quan tâm tới “sách báo cộng sản.” Nhiều người khác, quên mất khả năng quyền lực của người ăn nhờ ở đậu, đòi cấm đoán, tịch thu, đốt sách… Tuyên ngôn tuyên cáo ra đã nhiều, tranh luận đả kích nhau bằng lời nói chữ viết đã lắm, nhưng nói gì thì nói, giới cầm bút hải ngoại vẫn không thể không đối diện với thử thách này. Thử thách về sức thuyết phục người đọc, thử thách về giá trị tác phẩm. Tôi cho rằng chính thử thách này khiến nhiều người cầm bút khựng lại.

"Thật vậy, khi quê hương “nghìn trùng xa cách,” không còn hy vọng có ngày về thì văn chương hoài cổ và tiểu thuyết phong tục mới là nhu cầu tinh thần cho cả người viết lẫn người đọc. Bây giờ, khi thế giới cộng sản sụp đổ từng ngày, khi về thăm quê hương không còn là một việc thiên nan vạn nan nữa, thì kỷ niệm, quá khứ không còn là thứ gia bảo phải trân trọng giữ gìn. Hy vọng hồi hương cũng ảnh hưởng đến khuynh hướng hội nhập. Khi người ta nghĩ mình phải “sống nhờ đất khách thác chôn quê người” thì mới quan tâm đến cảnh sống lơ láo và cố gắng thích nghi. Bây giờ, việc gì phải băn khoăn chuyện phải đối phó với cảnh lạ người lạ, khi cuộc sống hiện tại chỉ là tạm bợ. Người ta đã hy vọng trở về thì tất nhiên có cái thoải mái vô tư của người tạm trú.[…]Dù người cầm bút có nhìn nhận công khai hay không, mọi người đều tìm đọc tác phẩm quốc nội và ngầm so sánh những tác phẩm đó với tác phẩm của mình. […]Tuy nhiên, điều đáng kinh ngạc là mãi cho tới nay, giới cầm bút hải ngoại không nhận ra ưu thế đặc biệt của mình so với các đồng nghiệp trong nước. Thay vì tận dụng kho kiến thức tài liệu vô tận và tầm nhìn rộng, gần như mọi người thu mình trong sinh hoạt của một cộng đồng địa phương, của một phe nhóm, thậm chí của một đường phố. Mỗi người tự tạo quanh mình một thứ ghetto nào đó, […] Chúng ta co rút lại, không muốn nhìn ra thế giới bên ngoài, bàng quan thờ ơ với các trào lưu tư tưởng hiện đại, từ đó mà tự ti hay tự tôn một cách quá đáng.Trong thể loại văn xuôi dài hơi, có hai tác giả ở vào trường hợp đặc biệt là Thích Nhất Hạnh và Nghiêm Xuân Hồng. Cả hai đều viết nhiều, và có ảnh hưởng rất lớn đối với bạn đọc Phật tử. Bộ Trang tôn kinh huyền hoặc (4 cuốn) của Nghiêm Xuân Hồng và Đường xưa mây trắng của Nhất Hạnh dù nội dung là tác phẩm tôn giáo nhưng lối viết đã biến tác phẩm thành tác phẩm văn chương…" (Nguyễn Mộng Giác, sđd, trang 285-286, 290-291, 295-297, 299, 306)

Trong phần phụ lục (trang 310), Nguyễn Mộng Giác còn cho thêm bài “Khả năng và triển vọng của văn học hải ngoại.” Bài này vốn đã đăng nhiều nơi trước đó và cũng đã xuất hiện trong bản do Văn Mới phát hành:

-"Phải, lớp đầu tiên di tản ra nước ngoài sau 30-4-75, trong hoàn cảnh và tâm trạng ê chề lúc đó, chẳng những khóc thương cho cuộc đời mình mà còn khóc thương cả đam mê viết lách của mình, không dám mơ ước có ngày lại được tham gia vào một sinh hoạt văn học đông vui như ngày hôm nay. Tôi còn nhớ vào những ngày hạ tuần tháng 4-1975, trước khi đi theo nhân viên đài Mẹ Việt Nam ra Phú Quốc để sẵn sàng di tản sang Mỹ nếu Sài Gòn thất thủ, nhà văn Võ Phiến có đến chỗ tôi làm việc để giã biệt, tặng tôi cả tủ sách quí giá của ông và gừi giữ hộ một số bản thảo đã đăng báo nhưng chưa xuất bản thành sách. Lúc chia tay, tôi thấy mắt ông rưng rưng xúc động. Ông nói thôi từ nay không còn viết lách gì nữa, chỉ mong những bản thảo này nếu về sau có cơ hội, ông nhờ tôi phổ biến hộ, để thất lạc quá uổng.

"Tôi hiểu được tâm trạng chán nản của nhà văn đàn anh tôi tôn kính, nhưng không hiểu ông nghĩ thế nào mà còn hy vọng tôi có thể in ra và phổ biến những bản thảo của ông, dưới chế độ cộng sản mà ông đã biết quá rõ. (Về sau này, tháng 10 năm 1976 lúc tôi bị bắt lần đầu và nhà bị công an đến khám xét, các bản thảo ấy một phần bị tịch thu mang đi, một phần bị vợ tôi sợ quá đem giấu hoặc đốt nên thất lạc). Phần những người ở lại thì sợ hãi trước chính sách khủng bố văn nghệ sĩ Miền Nam, không viết lách gì được đã đành. Những người cầm bút ra đi an toàn năm 1975, trong cuộc đổi đời khủng khiếp ấy, lo chuyện nơi ăn chốn ở và chuyện mưu sinh đã đủ mệt, nói gì tới viết lách. Mà viết gì bây giờ? Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ chỉ trong vòng 55 ngày, thất bại trong tủi nhục vì sự vô trách nhiệm và hèn nhát của cấp lãnh đạo, nên cuộc đời ai nấy đều đầy dẫy những ân hận, tiếc nuối. […] ai cũng chì còn hy vọng cho đời con cái, thắc thỏm lo con cái không nghe nói hiểu được tiếng ngoại quốc. Hồi đó chưa ai lo con quên tiếng Việt, chỉ lo con không thông tiếng Mỹ, tiếng Pháp…Giữa cảnh sống và tâm trạng ấy, văn học hải ngoại chết lịm suốt thời gian ba bốn năm đầu không có gì là lạ. Báo chí Việt, băng nhạc Việt được tiêu thụ mạnh thời gian đầu chưa phải là dấu hiệu tích cực. Đó chỉ là những bám víu, vồ vập vào kỷ niệm trong hoàn cảnh sống xa lạ, tự thấy mình bị chìm trong một nền văn hóa khác, nếp sống khác. […] Lớp nhà văn di tản 1975 nói về lượng cũng khá đông, họ cũng cố gắng tập hợp tiếp nối một sinh hoạt bị dở dang vì thời thế. Nhưng, như nhà văn Võ Phiến nhận định trong bài “Ghi nhận về văn chương lưu vong” (Ngày Nay số 142, 15-8-87):“Sự cố gắng ấy cũng chẳng lớn lao mấy. Sau cuộc đổi đời, một lớp người não nề thấy rõ. Các tác giả trong nhóm Quan Điểm từ chối tiếp tục, có viết chăng là thỉnh thoảng một bài thơ gửi cho tờ báo bạn, hay một cuốn sách luận về kinh, về đạo, thế thôi. Lớp trẻ hơn cũng không hẳn viết lách suông sẻ. Lê Tất Điều, Viên Linh, Túy Hồng, Trùng Dương…có lúc hoạt động hăng hái, có lúc tự dưng im bặt. Nhiều vị khác đứng ra chủ trương những tờ báo để phát huy sinh hoạt văn học, phát huy các tài năng mới, còn tự mình thì cũng chỉ lai rai một vài bài thơ, lâu lâu một thiên hồi ký. Văn nghiệp sau 1975 của họ không có gì đáng kể, phần chính vẫn thuộc về thời kỳ trước…’"(Nguyễn Mộng Giác, sđd, trang 21-30)

Một lần nữa, đợt di tản trước lại bị Nguyễn Mộng Giác chỉ trích, chú mục vào khuyết điểm lớn nhất với một người cầm bút: không sáng tác được.

Như vậy, đọc vài đoạn viết về người tỵ nạn 1975 và đợt nhà văn hay trí thức tỵ nạn 1975 của các tổ chức và nhân sự này, chúng ta có ngay cái cảm tưởng người tỵ nạn 1975 đã chịu sự tấn công, có khi phỉ báng, chỉ vì họ đã đi lọt và không thể bị chế độ Cộng sản kiềm chế. Từ năm 1977 khi cuốn sách của Kelly xuất bản cho tới năm 2001 khi bản Sơ thảo của Nguyễn Mộng Giáp nộp lên cho Học viện William Joiner Center, đợt nhà văn di tản đầu tiên nói riêng và cộng đồng văn chương nói chung đã đối phó ra sao với những lần tấn công đó? Nhưng trên hết thảy, nếu Nguyễn Mộng Giác cả quyết rằng đợt di tản 1975 đã không còn hoạt động văn nghệ được nữa mà chỉ có đợt đi sau như ông mới tiếp tục sáng tác được ở ngoài nước– một phần vì đợt đi sau có "chính nghĩa" hơn, thì chỉ có một cách kiểm chứng, là xét xem đợt đi trước quả đã có ngưng sáng tác hay không, và nếu không thì thành quả của họ ra sao từ tháng tư, 1975 cho tới nay? [NTC]

Chú thích:

1) Bà Lady Borton (Hà Nội) trả lời phỏng vấn của ông Daniel C. Tsang (Hoa Kỳ)

“[…]It is difficult and I think I want to say in terms of this book we had a group of us who worked on this, and in most cases these were duos; occasionally in this book you will find translations like the one just I read which was just done by a Vietnamese person… Or few places that just I’d done some. But mostly we had a pair and there were groups of us, groups of pairs working together. We got together every other Friday afternoon for a while and critiqued them and it was fascinating with a whole lot of fun. We had great time doing it and what was really fun to watch was the Vietnamese colleagues who have very good English and the Americans may or may not have been Vietnamese, right, they all have some Vietnamese. To watch the Vietnamese colleagues get into these ferocious discussions with each other about what a line meant, right, now this is their own language and their own culture and sometimes we sat along this long table, I mean, one of them would jump up and they would run around the table and they would get so excited: "no no" this and "no no " that. And I would come with all the dictionaries that I had and we’d pulled out every dictionary we get into these great discussions about what a line means and some of the poems use the Vietnamese language that comes from Chinese because they are ancient poems, so they use words that aren’t common now. We had a Vietnamese American who was working on some of these poems, a very helpful, wonderful colleague, but she was using dictionaries from the South, the former South, and she just plain got some of the translations wrong because she did not know the words, right? The word for a little boat is different in the South […] So those words are locality and you have to know that local word so Vietnamese friends and colleagues in the States, many of whom come from the South, won’t know a word that was used in some of the ancient poetry that came from the North, right, they might not know that and the meaning becomes completely wrong, right, if they, don t understand what the word is , so a lot of discussions, lots of changes as we worked. […] Absolutely. I think anybody studying Vietnamese—this is THE book—the only one from Vietnam itself, everything else you are reading had gone through the filter. This is chosen by Vietnamese, originated, edited by Vietnamese. It is very very different when you get that group of  Vietnamese running around the table challenging each other on the translations; very very different from having a Vietnamese American doing it because Vietnamese Americans don’t have that deep base in the culture. You can’t. You can’t if you spend a significant time in another country. So I think we got a kind of base going which is really wonderful and exciting. So my hope is that it can be a resource for other people to build from, to do other books…"

2) Họa sĩ Phan Cẩm Thượng sinh năm 1957, tốt nghiệp tốt nghiệp khoa Lý luận và Lịch sử trường Đại Học Mỹ thuật Hà Nội. Ông là tác giả của cuốn Nghệ thuật ngày thường và cùng các cộng sự viên thân thiết xuất bản những cuốn sách chuyên môn trong lĩnh vực điêu khắc hay đồ họa: Chùa Dâu và nghệ thuật Tứ pháp, cuốn song ngữ Điêu khắc cổ Việt Nam-Ancient Sculpture of Vietnam, Đồ họa cổ Việt Nam, Điêu khắc Tây Nguyên. Năm 2013, ông đã cho xuất bản bộ sách dày 700 trang có tựa Văn minh vật chất của người Việt. Sách của ông bán rất chạy, thường tuyệt bản ngay.

Kỳ tới:

Phần II-VĂN HỌC VIỆT NAM BIỂN NGOÀI -Cuộc di tản ra khỏi Việt Nam tháng 4. 1975

2-Văn chương có chắc đâu mà trú thân?

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)