Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định, Phê Bình Email bài này

Bài Thơ Thường, Thấm, Thấu (phần 2)

12 bình luận ♦ 20.11.2012

 

marylinmonroe-photoshoot

Norma Jean, một người mẫu “thường,”
trước khi “thấm và thấu” thành Marilyn Monroe

 

Đọc nhiều loại thơ

· Những bài thơ thuộc loại phổ thông là những bài thơ quá nhiều hoặc hoàn toàn xây dựng bằng những câu thường. Nghĩ sao nói vậy. Kể lể tâm sự. Đọc xong hiểu liền. Loại thơ này thường thường không đạt tới giá trị thi ca. Xin khỏi ví dụ.

· Lại có những bài thơ dâng hiến nụ cười. Nếu bài thơ có bản chất khôi hài nhưng trong dạng u mặc thì khác hẳn những bài thơ có tính cách "nói diễu" mua vui, ngoài ra chẳng có gì. Lúc mới làm thơ, tôi rất thích làm thơ loại này. Về sau, cũng có một lúc phong trào này nở rộng ở hải ngoại. Loại thơ "diễu" này hay bị lố hoặc vô thưởng vô phạt. Thôi thì cũng mua vui một vài trống canh. Ví dụ:

Vài tháng tắm rửa một ngày
Soi gương sạch sẽ mặt mày đẹp trai
Nếu ngày nào cũng tắm hoài
Soi gương chỉ thấy hình hài nhàm quen
Để dơ cho xấu lem nhem
Thỉnh thoảng lau bóng ngắm xem khác thường
Thử nhìn ai đang soi gương
Tắm xong mặt mũi dễ thương quá chừng

(“Thú Ở Dơ," Hoá Ra Nét Chữ Lên Đường Quẩn Quanh, Ngu Yên)

Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh!

Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

(“Chân Quê,” Nguyễn Bính)

Về sau, tôi vẫn thích làm loại thơ này nhưng quan tâm nhiều hơn về chất thấm và thấu. Trong khi bài thơ của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn nhìn con tập lật với một nụ cười nhưng khiến cho người đọc vừa bật cười đã phải hoang mang. Tập cho quen mất thăng bằng từ đây trở thành nụ cười u mặc. Bài thơ không phải chỉ hài kịch mà là bi hài kịch. Khác nhau giữa ba bài thơ là chiều sâu của tứ nhân sinh mà Nguyễn Đức Sơn đã đưa vào trong hình ảnh đứa bé ngây thơ và cả một cuộc đời "đầy thất vọng" đang chờ đón nó.

Nắm tay lật úp đi con
Co thân tròn trịa như hòn đá lăn
Muốn cho đời sống không cằn
Tập cho quen mất thăng bằng từ đây

(“Nhìn Con Tập Lật,” Nguyễn Đức Sơn)

(Câu kể: khai) 
(Câu thấm) 
(Câu cài) 
(Câu thấu: kết)

Rồi đọc lại bài thơ Trừ Tuổi của Hà Thúc Sinh. Lại giữa sân mưa được tắm truồng chẳng phải là một câu đùa làm tê tái hay sao? Sinh và lão chẳng phải nỗi khôi hài lo âu hay sao?

Ông Toại khuyên tôi muốn trẻ trung
Mỗi năm trừ một tuổi là xong
Mình cưòi thầm nhủ không lâu lắm
Lại giữa sân mưa được tắm truồng

(“Trừ Tuổi,”Hà Thúc Sinh)

(Câu kể: khai) 
(Câu kể: dẫn)
(Câu kể: cài)
(Câu thấu: kết)

 

Để tránh bị tính phổ thông, nhiều người đã trau chuốt chữ nghĩa hoặc dùng những chữ, cụm chữ kiêu kỳ, kiêu hãnh. Hoặc phô diễn bằng cấu trúc của câu, nhảy múa, nhảy hàng mà không thực sự cưu mang tâm tình hay ý tứ. Như một bình dân mặc áo lớn ra phố.

Bên cạnh thơ phổ thông là thơ Diễn Xuất. Một loại thơ khá thịnh hành hiện nay. Căn bản của loại thơ này là sử dụng từ ngữ mạnh bạo, đơn giản chữ trong câu cho trúc trắc, đưa ra những tứ thơ, hình ảnh khác thường. Càng lạ thường càng kiệt xuất. Không khí bài thơ mang tính bạo động không cần thiết. Bạo động ái tình, bạo động suy tư, bạo động sống. Chữ nghĩa gào rú không cần có nhu cầu. Ý tứ vất vả không cần có ý nghĩa hoặc không màng có tâm sự hay không….. vồ và nhai nát chú vịt xấu xí đang hãi sợ đến đáng thương….. Hiếp dâm mãi mặt trời và thế kỷ…. Móc mắt…. Thọc tay vào miệng xuống tận bao tử ...Mặt trăng gào lên tiếng chó…….và nhiều nhiều nữa…Thơ Diễn Xuất mới nhìn hao hao giống thơ Siêu Thực nhưng thiếu một nhu cầu thôi thúc và không cảm được lòng trung thực với nghệ thuật. Thơ này vốn không có thơ thật chỉ có ngông ngữ, dị hình và quái ý.

· Rồi đến những bài thơ có nhiều câu thường nhưng được diễn đạt qua ngôn ngữ "sang trọng", chải chuốt tình cảm, có cá tính, bày tỏ được nét đẹp của thi ca, trở thành một bài thơ hay. Ví dụ như "Đôi Bờ" của thi sĩ Quang Dũng. Trích đoạn. Xin đọc toàn bài trên mạng.

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm thu về một sớm mai

………………………………………….

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

· Những bài thơ có quá nhiều chữ và câu thường, nội dung kể lể, truyện cảm động, lâm ly cũng chỉ có thể có chỗ đứng cao hơn thơ phổ thông. Như những bài thơ của TTKH và Hoa Trắng Thôi cài Lên Áo Tím: Trích đoạn. Xin đọc nguyên bài trên mạng.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường

Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh

………………………………………..

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường

Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh đem gạch nát, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù

……………………………………………..

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.

(Nhà thơ Kiên Giang)

Nếu đánh giá một chai rượu đỏ ngon, thì phải biết vì sao nó ngon. Có một số lý do căn bản dùng để định mức ngon của rượu chát. Những người không rành về rượu thường suông miệng khen chê "một cách lãng mạn". Đọc thơ cũng vậy. Nếu khen hoặc chê một bài thơ, thì phải dựa trên những mấu chốt nghệ thuật căn bản nào đó, không phải là những lãng mạn suông. Có khi nào lại chỉ một biệt thư mà khen là nhà lầu cao, cho dù biệt thự đó đồ sộ. Tại sao lại khen thơ hay vì chữ nghĩa phù thủy? Cho dù phù thủy cao cấp cách mấy cũng chỉ là khéo léo thủ công chữ. Thơ không chỉ ở trong chữ. Đa số thơ ở ngoài chữ. Có thể nào chỉ một nhà ảo thuật tài ba, cho dù là David Copperfield, mà cho rằng đó là thiên thần. Có thể nào công nhận một người thợ sắp chữ trong nhà in là tác giả của những cuốn sách.

Một người đọc thơ, cảm thấy bài thơ hay là đủ. – Thưa, đủ nhưng không đúng. Như một đàn ông gặp một phụ nữ, thấy đẹp, thấy ưng ý, cưới về làm vợ. Như vậy là đủ. Nhưng nếu ra ngoài công chúng mà khen vợ mình đẹp thì phải cẩn thận. Cái đẹp này có hội đủ tiêu chuẩn của thẩm mỹ không? Nhất là nếu ông ấy cố thuyết phục đám đông rằng vợ ông rất đẹp. Phải chăng là lố bịch? Trong thực tế, chẳng mấy ai dám làm như vậy. Ngoài những trường hợp ngoại lệ. Ra công chúng, vào sách vở mà khen chê thơ theo tình cảm lãng mạn thì cũng tương tựa ông khen vợ. .

Có người cho rằng rượu đỏ ngon vì chát. Thơ hay vì "chát". – Thưa, chát không phải là yếu tố để định giá trị rượu. Nếu không nắm được những yếu tố để định rượu thì tốt hơn, chỉ uống. Uống cho ngà ngà sẽ sướng khoái hơn. Thật ra, không phải chỉ có rượu đỏ ngon. Thiếu gì rượu không đỏ mà ngon.

 

Thường Thấm Thấu

  • Thường

Thơ sáng tác có yếu tố thấm hoặc thấu hoặc cả hai thường là những bài thơ có giá trị, thông thường gọi là thơ hay. Dĩ nhiên một bài thơ hay còn có những chi tiết khác và kỹ thuật diễn đạt nhưng muốn đọc xuyên qua bài thơ để tìm thấy thơ, tôi thường áp dụng và phân tích bài thơ trên ba yếu tố thường thấm thấu.

Về phần kỹ thuật, chữ thường, câu thường, đoạn thường có nhiệm vụ căn bản là kểdẫn. Dẫn bao gồm luôn khai, kết, móc, nối, đưa, đón, lót…. Là thành phần thường vụ. Trong một bài thơ, đơn vị câu là quan trọng. Những câu thường là những câu dễ hiểu. Những ý tứ thường này, nếu nhiều sẽ bị thừa, làm bài thơ loãng; nếu quá nhiều sẽ thành bài thơ phổ thông; nếu ít quá, sẽ làm bài thơ khó hiểu. Chữ thường và cụm chữ thường cũng được phân giải như câu thường. Trong sáng tác, những chữ thường những câu thường là nơi sửa chữa, thêm bớt, nhất là bỏ. Những đoạn thường không cần thiết sẽ làm bài thơ lê thê và lang thang.

Có những tài năng vượt trội, biến những câu thường trong nhiệm vụ kể và dẫn thành những câu nghệ thuật (art sentence) hoặc những cụm từ nghệ thuật (art phrase) khiến cho bài thơ càng thơ thêm và càng nghệ thuật thêm.

Hư ảo nào như hư ảo trăng
Trời đưa ta tới chỗ em nằm
Em như huyền hoặc, đời như mộng
Ta ngả lưng làm một giấc trăng.

(“Hư Ảo Trăng,” Nguyên Sa)

Nhưng những cụm chữ, những câu thơ loại này dễ bị trau chuốt rỗng dễ bị những lầm tưởng khoe khoang những ý tứ điểm trang trà trộn. "Khoe khoang những ý tứ điểm trang trà trộn" là một câu loại nghệ thuật điểm trang, chữ lớn hơn nghĩa, không cần thiết phải diễn đạt như vậy. Nếu chữ nghĩa, câu cú bóng bẩy được xem là nghệ thuật thì đó là nghệ thuật lầm.

Hoặc dùng những câu thường để kể một nội dung rất thấm để từ từ rồi thấu, như bài thơ “Cánh Đồng Con Ngựa Chuyến Tàu” của thi sĩ Tô Thùy Yên:

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

Yếu tố thường, ngoài trừ hai nhiệm vụ căn bản, còn một đặc nhiệm khác: Cài. Những câu thường dàn những ý tứ để dẫn đến câu thấm hay câu thấu, là những câu cài.

Ta thấy tên ta những bảng đường
Đời ta, sử chép cả ngàn chương
Sao không, hạt cát sông Hằng ấy
Còn chứa trong lòng cả đại dương

(“Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền,” Mai Thảo)

(Câu khai)
(Câu kể)
(Câu cài)
(Câu thấu)

  • Thấu

Bản chất của Thấu thường đến bằng kinh nghiệm sống, chắt lọc qua nhiều năm tháng. Viết ra một hơi, nhẹ nhàng trơn tuột. Thông thường là dễ hiểu nhưng mang sức nặng của ý và khả năng chinh phục của tình. Câu thấu thông thường đến bất ngờ hoặc đến trong lúc xuất thần. Đôi khi như một tiếng thở dài não. Đôi khi như một ánh lóe lên. Không nên sửa đổi những câu thấu, những cụm chữ thấu.

Tôi tin núi tàn!
Tôi tin sông lấp!
Nhưng tôi không thể nào tin:
Một nhà thơ như anh lại ngã lòng suy sụp

(“Vô Đề,” Phùng Quán)

(Câu cài)
(Câu cài) 
(Câu cài)
(Câu thấu. Rất bình thường mà nặng ý, băn khoăn tình)

  • Thấm

Thấm đến từ kinh nghiệm sáng tạo, kỹ thuật sáng tác; từ nhân sinh quan; từ tư duy và dĩ nhiên từ kinh nghiệm sống. Những câu thấm, những cụm từ thấm mang nhiều lớp ý nghĩa hoặc nhiều nồng độ khác nhau của tâm tình qua những lớp ẩn mình bên trong ý tứ và chữ nghĩa. Thấm là văn bản chứng tỏ khả năng sáng tạo và trình độ tri thức của tác giả. Trong khi thấu nói lên bản lãnh sống và khả năng nhạy cảm của thi sĩ.

…………………..

The river that runs by
is always
running back.
Will tomorrow be another day?

( “Last Dawn,” Octavio Paz)

Dòng sông nào chảy qua đây
sẽ luôn luôn
trở lại ngày mai sau
Hỏi mai sau phải mai sau?

người tù thổ huyết chết tươi
tên y tá đến đứng cười nhe răng
một mình y nói rất hăng
mười lăm phút nữa có băng ca rồi

(“Lại Chuyện Thật,” Nguyễn Đức Sơn)

 

Qua Góc Làm Thơ

Người làm thơ mà nói về thơ thì dễ bị hạ thủ bất lưu tình. Nhưng tôi lại thích đọc những bài viết về thơ của các thi sĩ thành danh hơn là những bài viết bởi các nhà phê bình văn học nổi tiếng trên thế giới. Không phải vì hay hơn hay kém hơn mà vì gần gũi và dễ cảm thông hơn.

Kể cả những thi sĩ Nobel và những thi sĩ đã được xem là thi sư cũng không ai có thể nói về thơ một cách chung cho toàn hảo. Mỗi người chỉ có thể bày tỏ một mảnh riêng tư của họ. Ngay từ đầu, họ viết về nghệ thuật không phải để thuyết phục mà để ghi lại những kinh nghiệm, thử nghiệm, cảm nghiệm và suy tư. Được thể hiện như một phương pháp tự học và tự tìm hiểu bản ngã. Thuyết phục là công việc của phê bình. Tự ngộ là việc làm của thi sĩ.

Ngàn ngàn lần tôi đã tự hỏi mình, làm sao để có thể làm thơ hay? Góp nhặt từ người này người kia, tôi có cả trăm câu trả lời. Chưa bao giờ có được cảm giác cầm đúng chìa khóa để mở cửa vào một nơi mà mình mong muốn tới. Tôi có một xâu chìa khoá nhiều và nặng nhưng lần lựa đã thử hết rồi, không chìa nào mở được. Biết bao là hoài nghi. Biết bao là thất vọng. Nghi ngờ tài năng. Nghi ngờ số mạng. Nghi ngờ những người xung quanh là thủ phạm. Rồi một hôm…

Người thanh niên ấy đã già. Ông vẫn cắm cúi lặn tìm viên ngọc có thể nghe được tiếng nói của muôn loài. Viên ngọc trong truyện thần thoại Dã Tràng. Ông tin rằng viên ngọc đó có thật. Viên ngọc đó đã bị biển cả chôn vùi. Mỗi ngày ông tiếp tục ra khơi. Y như một con còng.

Rồi có lần, một cậu bé nghịch ngợm bắt được con còng. Nhốt vào một cái hộp gỗ. Cái hộp hình chữ nhật, vừa vặn kề đầu, tựa chân. Không có chỗ xê dịch. Nằm trong hộp gỗ, thốt nhiên con còng hiểu được. Không có chiếc chìa khoá nào để mở cửa. Chỉ có chìa khóa để suy gẫm về cách mở cửa. Con còng đã thoát thân. Ông già đã thoát nạn. Không còn muốn tìm viên ngọc nghe được tiếng nói của muôn loài. Ông Dã Tràng có hai viên ngọc. Một viên nghe được tiếng nói của thú vật là do con rắn cho. Một viên khác do con ngỗng cho, có quyền lực rẽ nước khi đi vào đại dương. Ông già đi tìm viên ngọc thứ hai.

· Cái yếu lòng của làm thơ là chú tâm và vọng tưởng, đôi lúc hoang tưởng về bài thơ. Luôn luôn mong muốn làm được bài thơ hay, bài thơ giá trị. Đúng ra, nên quan tâm đến trước khi làm thơ. Đồi với thi sĩ, ngoài lúc làm thơ là lúc "chuẩn bị" để làm thơ. Thời giờ chuẩn bị này dài gấp trăm ngàn lần thời giờ làm thơ. Thời giờ chuẩn bị là thời giờ sống bình thường hàng ngày. Thu thập dữ liệu. Suy tư về những băn khoăn. Cảm nghiệm tâm tình và ý tứ. Kiến thức tuy cần thiết nhưng tiêu hóa kiến thức còn cần hơn. Tiêu hóa không chưa đủ, cần đưa vào thành máu. Sự chuẩn bị thường xuyên và sâu sắc sẽ sẵn sàng khi thơ đến. Thơ đến bất chợt như một người khách không mời mà xuất hiện. Nhưng đối với thi sĩ, đó là chuyện vui mừng. Bất cứ lúc nào, khách bước vào, ta đón tiếp.

Nói như vậy, e rằng có người sẽ tưởng làm thi sĩ rất bận rộn và căng thẳng. Lúc nào cũng lăm le thu thập dữ liệu, mặt mày u uất suy tư. Không phải như vậy, chẳng cần phải như vậy. "Chuẩn bị" dùng ở đây có nghĩa là cảnh giác. Như một người đi du lịch trong đời sống. Ăn uống ngủ nghỉ bình thường. Khi thấy cảnh đẹp, dừng chân ngắm rồi chụp vài tấm hình. Khi thấy chuyện đời, thì dừng lại nghe ngóng, bàn thảo. Đêm mất ngủ thì suy tư. Ngày dậy sớm thì cà phê thuốc lá…Rồi có lúc nổi hứng, kể lại chuyện đã nghe, mãnh đời đã thấy theo cách riêng. Rồi có khi nhớ người, gửi một tấm hình đã chụp với vài câu tâm tình……Thái độ đó là cách chuẩn bị khi thơ chưa tới.

· Cái yếu lòng thứ hai của làm thơ là thường lo lắng cho số phận của bài thơ làm xong. Gửi đăng ở đâu? báo nào? mạng nào? Ai khen. Ai chê. Đáng lẽ nên để giờ làm quyết định về sự sống còn của bài thơ. Khi một bài thơ hoàn tất, người làm thơ sẽ có ba lựa chọn: Bỏ, giữ hoặc sửa.

Trong lúc làm thơ vì say mê vì áp lực của chữ nghĩa nên khó thấy những lầm lỗi nhưng khi đã làm xong, vài ngày sau đọc lại, những thiếu sót sẽ hiện ra rõ hơn. Nếu bài thơ không đến vì nhu cầu nội tâm thôi thúc thì bài thơ nên bỏ. Nếu bài thơ không đủ mức độ kỹ thuật diễn đạt và phương pháp sáng tác của cá tính, thì nên bỏ. Nếu hội đủ các điều nêu trên, bài thơ có cơ hội sóng sót. Hãy giữ lại và để thời gian kiểm chứng. Bất cứ lúc nào trong hành trình tuổi tác, khi đọc lại, biết rõ lý do làm hư bài thơ, bất cứ là bài nào, hãy bỏ đi. Nếu có lý do để sửa, chỉ nên sửa những câu thường và câu thấm. Đừng sửa câu thấu. Cái lý do mà các thi sĩ thường in bộ toàn tập vào cuối đời là để xác nhận những bài thơ có đủ sức sống đến phút cuối hoặc đã được sửa chữa cho vừa ý tác giả hơn. Toàn tập và tuyển tập có mục đích khác nhau.

Từ khía cạnh sáng tác, bài thơ bắt đầu bằng sự thôi thúc của một nhu cầu nội tâm đặc thù và tạm chấm dứt sau khi đã chọn lựa sự sinh tồn của bài thơ. Đoạn ở giữa, thơ được ghi lại theo phương pháp sáng tác riêng tư của mỗi thi sĩ và xây dựng trên ba yếu tố Thường, Thấu và Thấm. Ít Thường, nhiều Thấm, đúng Thấu.

Tuy nhìn từ văn bản nhưng ba yếu tố thường thấm thấu thuộc về nội tạng của bài thơ. Như một thầy thuốc bắt mạch tay mà biết được thận vượng hay suy, gan tốt hay xấu, ruột có viêm hay không. Chữ, cụm chữ, câu và đoạn của bài thơ qua ba mạch thường thấm thấu sẽ cho người đọc tìm hiểu được giá trị của khả năng sáng tạo, phần thơ đặc thù của bài thơ, sức nhạy cảm và súc động của tâm tình. Thường thấm thấu không cho biết về kỹ thuật sáng tác, phương pháp sáng tạo và nghệ thuật diễn đạt bằng ý tứ. Nói cách khác, thường thấm thấu chuyên về nội không trị ngoại hình. (Xin đọc Phương Pháp Sáng Tạo trong Thơ và Tôi. "Nháp và Nốt" Phần 1. Có trên www.damau.org )

Thường Thấm Thấu của mỗi người sáng tác sẽ khác nhau. Tùy vào kinh nghiệm sống, kiến thức sống, cá tính, phương pháp sáng tạo và không khí nghệ thuật của thời đại mà thường thấm thấu trở thành đa dạng. Vì vậy, sẽ không có một bài thơ mẫu mực hoặc một thước đo nhất định nào cho bài thơ giá trị. Nhưng tôi nghĩ rằng, bất cứ bài thơ nào, Đông Tây Nam Bắc, đều có thể thẩm định phần thơ trong bài thơ qua ba yếu tố này.

Khi mới bắt đầu bước vào cõi thơ, người làm thơ thường có hảo vọng muốn nghe được tất cả tiếng thơ như cái gọi là cung đàn muôn điệu. Anh miệt mài tìm kiếm viên ngọc để ngậm vào tim. Để nghe tiếng thơ đến từ vạn vật. Và viên ngọc này đã có lần chìm xuống đại dương. Biển rộng biển sâu biết đâu mà tìm. Tôi, một hôm, chợt hiểu không có viên ngọc này.

Tôi cũng biết rõ, mỗi người làm thơ có mỗi thế giới riêng, mỗi cách làm thơ riêng, mỗi lòng tự phụ và luôn luôn thấy thơ mình hay, nếu không muốn nói là hay nhất. Chỉ vì anh ta hiểu rõ bài thơ của mình, thích thú với ý tứ của mình và diễn lại sự rung động chính xác mỗi khi đọc lại bài thơ của mình. Anh ta không thể làm như vậy khi đọc bài thơ người khác. Cho nên khi chọn viết những điều này, tôi không có ý thuyết phục. Chỉ có ý gợi ra chỗ khác biệt của nhau, những điều trái ý nhau, những gì cần hỏi nhau, những chỗ cần được bổ túc cho nhau. Tôi yêu thơ và cứ bị ám ảnh rằng những người yêu thơ cũng giống tôi, có tâm nguyện tìm cái hay của thơ. Cùng một lúc tôi biết rõ cái hay là ngàn trùng xa cách. Và cái hay này có khi làm cho người với người xa cách ngàn trùng.

Đã lỡ chừng này, lỡ thêm cũng không sao. Nhân chẳng còn biết làm gì khác hơn, thôi thì tiếp tục. Một đời người, dài quá để làm việc mình không thích, lại ngắn quá để làm việc mình thích.

Bạn thơ của tôi nói, làm nghi vấn tăng thêm:

– Cũng có thể vất đi “thường, thấm, thấu”, vất đi phần lý trí cứng ngắt, biết đâu chừng, cái hay của thơ sẽ hiển lộ… (Thường Mộng)…

Nếu ai cũng “an tâm đi dưới tấm bảng chỉ đường” thì vận sự nọ rõ là bi kịch cho một kẻ rắp tâm ưa sáng tác… (Hồ Đình Nghiêm)…

Có lẽ, cái bi kịch của đời sống là khi con người cảm thấy bị ép buộc vào một nơi này với tâm trạng của chốn khác chăng…(Black Raccoon)

– Bi kịch của con người là không có sự lựa chọn. Tôi thích đi nhà hàng ăn cơm tấm, nhưng bị bắt ra ngõ hẻm hoặc ngược lại…….Đi đường nào để đi tìm thì tùy mỗi nơi, mỗi lúc. Lạc đường, đúng đường? Khó nói. Tùy vào kinh nghiệm và công lực.…(Nói chơi thôi)…

(Trích www.damau.org)

Xin các bạn tiếp tục làm thơ và mang băn khoăn này ra biển. Có lẽ chúng ta cần viên ngọc thứ hai của Dã Tràng. Có viên ngọc rẽ nước này thì đại dương không cản được bước chân.

Nhưng chắc gì viên ngọc đã có thật?

 

Ngu Yên
Houston, tháng 11 năm 2012

bài đã đăng của Ngu Yên


12 bình luận »

  • thường mộng viết:

    Với thi sĩ Ngu Yên,
    “Những bài thơ thuộc loại phổ thông là những bài thơ quá nhiều hoặc hoàn toàn xây dựng bằng những câu thường. Nghĩ sao nói vậy. Kể lể tâm sự. Đọc xong hiểu liền. Loại thơ này thường thường không đạt tới giá trị thi ca. Xin khỏi ví dụ.”
    Chúng ta thử đọc mấy câu nầy từ truyện Kiều:
    …phong trần mài một lưởi gươm
    những phường giá áo túi cơm sá gì
    nghênh ngang một cõi biên thùy
    thiếu gì cô qủa thiếu gì bá vương
    trước cờ ai dám tranh đương
    năm năm hùng cứ một phương hải tần…
    Những câu trên đều ở dạng “thường” chẳng có gì thấm thấu, theo thi sĩ Ngu Yên-nó tồi ư?
    Chúng ta cũng thử đọc lại mấy câu sau từ Chinh Phụ Ngâm khúc:
    … xin vì chàng xép bào cởi giáp
    xin vì chàng rũ lớp phong sương
    vì chàng tay chuốt chén vàng
    vì chàng điểm phấn thoa hương não nùng…
    Chắc với thi sĩ Ngu Yên những câu trên chẳng có gì thấm với thấu, cũng đều đáng vất đi?
    Tôi tin rằng chúng ta vẫn có sự chọn lựa, chúng ta vẫn có thể hát ca bằng chính ngôn ngữ của mình, chúng ta cũng có thể tung bay bằng chính tâm thức của mình; chúng ta cũng có thể giống như Thánh Thán -chữ nghĩa không phải là của ta, sao không thể vì nhân sinh mà vận dụng-vất hay không vất, đập cùng chẳng đập -thơ tự nó vẫn là thơ…
    Cảm ơn thi sĩ Ngu Yên, cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • Ngu Yên viết:

    Chào anh Thường Mộng,

    Cảm ơn anh đã cho ví dụ rất hay.
    Theo như Ngu Yên thì:

    “Những phường giá áo túi cơm sá gì” là câu thấu. Phải chăng những người va chạm có kinh nghiệm trong cõi nhân sinh mới biết ngán ngẫm phường giá áo túi cơm? “Sá gì” thật đúng chữ, đúng chỗ.
    “Nghêng ngang một cõi biên thùy” là câu cài để đưa câu” Thiều gì cô quả thiếu gì Bá Vương”, có thấm và thấu. Nếu đã có bá vương tất sẽ sinh cô nhi quả phụ. Mộng bá vương phải chăng là khí thế của anh hùng, của tài năng nhưng lại là thảm trạng cho nhân sinh?

    Bên dưới, “….tay chuốt chén vàng” Cụm từ thấm. Không phải ai cũng hiểu hoặc cảm chữ chén vàng và cụm từ “chuốt chén vàng” mới hay.
    ” vì chàng điểm phấn thoa hương não nùng”. Không có mấy thi sĩ diễn được “điểm phấn thoa hương não nùng”. Phấn son vốn để làm đẹp, mua vui mà ở đây lại để não nùng, hay quá. câu này thấm thía. E rằng có nhiều ẩn ý có thể diễn ở đây.

    Kiều và Chinh Phụ Ngâm có rất nhiều đoạn và câu thơ giá trị do đó hai tác phẩm này tồn tại. Những câu thường và đoạn thường dùng để dẫn, cài…v..v… sẽ cần thiết vì cả hai tác phẩm nầy “kể truyện”. Thiếu nhiều câu thường sẽ khó hiểu và câu truyện không mạch lạc.
    Ngu Yên rất thích đoạn thơ này:

    Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,

    Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.

    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,

    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu. (câu thấm)

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu, (câu cài)

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai (Câu thấu)

    Đoạn thơ này nhiều câu thường nhưng diễn tả sự “xa cách”, “nhớ mong”, “một chút hờn tủi khi hỏ: tình chàng ý thiếp ai sầu hơn”, quá là sâu. Kinh nghiệm về những cuộc tình chia xa hoặc chia tay trong đời của mình, phải chăng em hay tôi, ai buồn hơn.

    Ở đoạn kết, anh viết rất đúng:

    “Tôi tin rằng chúng ta vẫn có sự chọn lựa, chúng ta vẫn có thể hát ca bằng chính ngôn ngữ của mình, chúng ta cũng có thể tung bay bằng chính tâm thức của mình; chúng ta cũng có thể giống như Thánh Thán -chữ nghĩa không phải là của ta, sao không thể vì nhân sinh mà vận dụng-vất hay không vất, đập cùng chẳng đập -thơ tự nó vẫn là thơ…”..

    Đọc thơ là tìm hiểu thơ người khác nên sợ lầm lẫn, nhất là sợ không thưởng thức được món ngon. Còn làm thơ thì chỉ có thể làm theo ý mình. Tất cả những chuyuện còn lại, không quan tâm lắm.

    Cảm ơn anh Thường Mộng. Sự chia sẻ của anh làm cho thơ thêm hấp dẫn.

    Ngu Yên.

  • hồ đình nghiêm viết:

    xin đừng lấy thơ tôi mang ra biển, vượt biên một lần há chẳng sợ sao? vàng lá đâu mà dúi túi thơ làm lộ phí, eo ôi thời nào hải tặc cũng hăng say. Anh Ngu Yên ạ, cứ làm những gì mình thích, tựa như Bùi Giáng: Vui thôi mà. “Mai sau còn lại chút gì, ấy là khu vực nhu mì của em”. Chúc nhà thơ mãi thân tâm an lạc, gạt bỏ tiếng ong ve ngoài giới hạn. Đi Houston thì chắc khỏi phải dùng ghe, dù rất thích tìm thấy ngọc trai trên đường chèo chống.

  • duongadaloa viết:

    huớng dẫn đọc thơ, như huớng dẫn đòan nguời đi vào mê cung vô tận, rất nên thận trọng. Tôi bị thu hút bởi tiêu đề của loạt bài này, tuy nhiên khi đọc xong chỉ gặp những huơng vị quá quen thuộc. Marilyn Monroe vẫn là thí dụ cho sự “đẹp”, Quang Dũng cho sự “hay”, rồi TTKH, Phùng Quán, Lê Đạt. Còn lại là những dòng dẫn dụ rất vòng vèo không quên nhắc nhở về công việc chính của nguời viết. Marilyn có thể vẫn đẹp, nét đẹp cận đại pha chút cổ điển, nhưng sao không phải là Jessica Alba, Megan Fox, hay là… thủ tuớng Yingluck? Ở góc độ một nguời chọn lựa cái đẹp, tôi thấy những nguời này “hơn” Marilyn, và rất nhiều nguời ở quanh tôi cảm thấy như vậy. Có lẽ nên đến lúc ngừng thêu dệt thêm huyền thọai Marilyn, cũng như huyền thoại về thơ, lúc con nguời đã bớt tin vào huyền thoại. Một bài thơ hay, giống như tô phở, nhưng phở ăn nhiều sẽ chóng ngán. Khi đó lại chuyển qua ăn cơm, một bài thơ hay khác. Phở và cơm, tuy vậy, cái nào phán xét đụơc cái nào? Và dựa trên một mẫu số, tiêu chuẩn, huyền thọai nào?

    Vài dòng thân ái, cảm ơn tạp chí Da Màu và nhà thơ Ngu Yên.

  • thường mộng viết:

    Với thi sĩ Ngu Yên,

    ““Nghêng ngang một cõi biên thùy” là câu cài để đưa câu” Thiều gì cô quả thiếu gì Bá Vương”, có thấm và thấu. Nếu đã có bá vương tất sẽ sinh cô nhi quả phụ. Mộng bá vương phải chăng là khí thế của anh hùng, của tài năng nhưng lại là thảm trạng cho nhân sinh?”
    -làm gì có “cô nhi” cùng “quả phụ” ở trong câu trên- cô trong “cô gia”;quả trong “quả nhân”-tất cả đều là bá vương cả đấy thi sĩ ạ.
    Cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • Ngu Yên viết:

    Cảm ơn anh Thường Mộng.
    vậy là toàn bá vương. Ngu Yên lầm nha. Anh thấy không, đâu dễ hiểu hết cái thâm ý của thi sĩ. Cái thấm cần thời gian, cần tìm tòi, cần học hỏi. Anh có phần “chuyên” về những ý tứ xưa nên đọc ra dễ dàng. Không phải ai cũng có kiến thức đó. Cảm ơn anh nhiều. Xin tiếp tục chỉ giáo.

    Ngu Yên

  • Ngu Yên viết:

    Chào anh duongadaloa,

    Theo như văn phong của anh, Ngu Yên đoán là nam giới. Nếu không phải xin lượng thứ.
    Xin đón nhận ý kiến của anh.
    Như NY đã trình bày, một ý tưởng về suy nghĩ về thơ phải đứng trên hai chân: Một chân trên thơ đã có để chứng minh và một chân trên thơ sẽ có hoặc đang có để chứng thực.
    Ngu Yên đang ở trong phần chứng minh đi từ thơ xưa như Đường thi, hài Cú đến các nhà thơ nổi tiếng như Thanh Tâm Tuyền, Quang Dũng, Nguyên Sa….Trong phần chứng thực sẽ có những nét đương thời. Nhờ sự nhắc nhở của anh, nhất định Ngu Yên sẽ tham khảo các nét đẹp như anh đã dẫn. Ngu Yên rất thích Jessica Alba.
    Ngu Yên nghĩ rằng thơ hay ví như tô phở và ví như bữa cơm nhưng thơ hay thì không bài nào giống bài nào. Mỗi bài một vẽ, một phong cách, một cá tính. Nếu chỉ ăn toàn thơ hay thì khó mà ngán. Có lẽ anh nói đúng ở điểm là trong thiên hạ có quá nhiều bài thơ chưa đủ hay mà gọi là hay nên chúng tương tựa nhau như một loạt phở hay một loạt cơm. Ăn một loạt thì ngán là đúng.

    Anh Duongadaloa, nếu có dịp đọc bài Ngu Yên, xin anh cứ nói thẳng những gì anh nghĩ. Có thể nhờ vậy mà Ngu Yên biết mình sai ở đâu, thiếu cái gì và cần làm gì. Nếu không nghe được lời thẳng thì Ngu Yên không cầm viết. Rất mong và cảm ơn anh.

    Ngu Yên.

  • một bạn đọc viết:

    Thưa quý vị,

    Theo Từ Điển Hán Việt Từ Nguyên,của Bửu Kế: “Cô là lẻ loi; Quả là ít. Lời tự khiêm. Lời các bậc vua chúa tự xưng một cách khiêm nhường là Cô hay Quả cho mình lẻ loi và ít đức (quả đức), Tiếng gọi các vua chư hầu.”
    Ví dụ: Thiếu gì cô quả,thiếu gì bá vương. (Kiều)

    Theo Từ Điển Văn Học Quốc Âm của Nguyễn Thạch Giang: “Cô Quả:Tiếng khiêm xưng của các vua chúa chư hầu-vua các nước nhỏ thời xưa. Cô tức như đứa con mồ côi, không ai dạy bảo, giúp sức; quả tức quả nhân, ý nói khiêm nhường là người ít đức, nhờ quần thần giúp đỡ. Sách Lễ ký:”Kỳ ư địch dĩ hạ, viết quả nhân, tiểu quốc chi quân viết cô.” Nghĩa là “Vua chư hầu khi nói với người hàng dưới mình, thì tự xưng là quả nhân, vua một nước nhỏ tự xưng là cô.”
    Ví dụ: “Nghênh ngang một cõi biên thùy,
    Kém gì cô quả, kém gì bá vương.(Kiều)

    Theo Từ Điển Tuyện Kiều của Đào Duy Anh: “Cô quả: Vương hầu các nước nhỏ ở Trung Quốc xưa thường tự khiêm xưng là cô (người mồ côi),là quả (người góa bụa)

    Ví dụ :”Kém gì cô quả…” (câu 2448)

    Thêm vài quyển tự điển về “cô quà”, để tiện dụng.

  • black raccoon viết:

    Phong trần mài một lưởi gươm
    Những phường giá áo túi cơm sá gì
    Nghênh ngang một cõi biên thùy
    Thiếu gì cô qủa thiếu gì bá vương

    孤 Cô. Một mình, cô độc.
    寡 Quả. Ít , góa bụa. Quả dục: ít ham muốn. Quả phụ: người góa chồng

    Tiếng nói nhún mình của các vua chư hầu, nghĩa là mình tự khiêm mình là kẻ đức độ kém. Ðời sau gọi các vua là xưng cô đạo quả 稱孤道寡 là theo ý ấy.(Thiều Chửu)

    Trở lại câu trên:

    Nghênh ngang một cõi biên thùy
    Thiếu gì cô qủa thiếu gì bá vương

    Đúng như quý vị đã giải thích. Nghĩa là Từ Hải một mình làm vua một cõi.
    Cô quả 孤寡 vừa là tiếng khiêm xưng của ông vua đối với bề tôi, vừa có nghĩa là người ở địa vị tối cao.

    Ông vua mà khiêm xưng, nhún nhường với bầy tôi là theo đúng kỷ cương Nho Giáo đề ra: Quân sự thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung. Người trên đối với người dưới bằng lễ pháp. Người dưới chỉ phục vụ người trên bằng sự trung chính ngay thẳng (không cần phải khúm núm thái quá).

  • Ngu Yên viết:

    Cảm ơn Một Độc Giả,

    Đã cho chúng ta thêm ý nghĩa của “Cô quả”.
    Hôm Ngu Yên đọc thì hiểu là cô nhi quả phụ và vì chữ “thiếu gì” đã đưa tới ý nghĩ:
    “Nếu đã có bá vương tất sẽ sinh cô nhi quả phụ. Mộng bá vương phải chăng là khí thế của anh hùng, của tài năng nhưng lại là thảm trạng cho nhân sinh?”

    Và Ngu Yên đã lầm. Anh Thường Mộng đã giải thích cô quả.
    Có điều Ngu Yên thắc mắc là: “Thiếu gì” và “Kém gì” sẽ làm cho nghĩa khác nhau. Ngu Yên không có bản Kiều hoặc Đoạn Trường Tân Thanh chính xác để tra. Anh có sách không? Cho Ngu Yên học hỏi thêm.

    Thú thật, tìm hiểu từ hai anh là những người có lẽ am hiểu nhiều về tiết mục này sẽ nhanh hơn là Ngu Yên tự tìm hiểu. Nếu mà có mấy anh để lúc nào bí chữ xưa, xin câu trả lời thì sướng biết mấy.

    Xin cảm ơn.

    Ngu Yên

  • một bạn đọc viết:

    Thưa thi sĩ,
    Khỏi cảm ơn thi sĩ ơi, vì chữ nghĩa các cụ xưa cũng cắt nghĩa mỗi người mỗi cách, ít khi trùng nhau. Chẳng hạn ba cuốn tự điển vừa kể thì Đào Duy Anh “quả” là “góa bụa” chứ không phải là “ít đức”. Còn Kiều thì các nhà cũng dẫn khác nhau. Tự Điển Văn Học Quốc Âm thì “kém gì cô quả, kém gì bá vương” (trang 302), còn các Từ Điển của Bửu Kế, cuả Nguyễn Vân Thanh(Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển) thì giống bản của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo:
    “Nghêng ngang một cõi biên thùy,
    Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương.”(trang 176)

    Nhơn nhắc về Kiều, xin được chép lại hai đoạn thơ của Quách Tấn và Nguyễn Hiến Lê trao đổi với nhau như dưới dây, để thi sĩ đọc chơi:

    Thư Quách Tấn đề Nha Trang ngày 23-11-1980:

    “… Còn bài “Ta nhớ người xa…”, anh có nhớ đủ tám câu chăng, và anh có hiểu trọn ý nghĩa cả tám câu chăng? Tôi có đủ song e không đúng nguyên văn nên nghĩa còn “lúng túng”:

    Ta nhớ người xa cách núi sông
    Người xa xa quá… nhớ ta không
    Sao đương vui vẻ ra buồn bã(*)
    Vừa mới quen nhau đã lạ lùng (**)
    Lúc nhớ nhớ gì trong mộng tưởng
    Khi riêng riêng cả mối tình chung
    Tương tư há phải là trai gái (***)
    Một ngọn đèn khuya trống điểm thùng.

    Bài anh có giống thế chăng. Khi nào rảnh anh cho biết ý từng câu theo anh hiểu, nhiều người giải nghĩa tôi nghe vẫn ngượng ngập. Tôi chịu chứ không sao giảng nghĩa sao cho xuôi tai được.”

    (*) Có chỗ chép:”Cũng vì vui quá ra buồn bã”
    (**) Có chỗ chép “Vì mới quen nhau hóa lạ lùng”
    (***) Có chỗ chép: “Tương tư lọ phải là mưa gió.
    (Chú thích của Quách Tấn)

    Thư hồi đáp của Nguyễn Hiến Lê đề Long Xuyên ngày 20-12-1980:

    “Bài từ của cụ Tú Xương trong Văn Đàn Bảo Giám, Hư Chu hiệu đính (Mai lâm in năm 1968), chép như sau:

    “Ta nhớ người xa cách núi sông
    Người xa xa có nhớ ta không?
    Sao đương vui vẻ ra buồn bã
    Vừa mới quen nhau đã lạ lùng
    Lúc nhớ như cùng trong mộng tưởng
    Khi riêng riêng cả đến tình chung
    Tương tư chẳng lọ là mưa gió
    Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng.”

    Mấy câu anh không hiểu nghĩa thì tôi cũng bí, mà tôi chắc mọi người đều bí. Tâm tình riêng của các cụ (Phan và Trần). Các cụ nói úp úp mở mở thì làm sao mình biết được.

    Câu 3: tôi đoán là cụ Tú tả lúc sực nhớ bạn mà buồn.
    Câu 4: tôi đoán là cụ muốn nói mới gặp cụ Phan ở Trung ra, mới quen nhau, hiểu nhau thì cụ Phan đã phải qua Trung Hoa ngay.
    Câu 7: tôi cho là”trai gái” hay hơn “mưa gió”.
    Tôi cũng thích “ngọn dèn xanh” hơn là “đèn khuya”.

    Ấy đấy, mới có mấy chục năm, ở vào thời đại có máy in mà một bài ngắn như vậy đã có mấy “version”(*), không biết “version” nào đúng. Nói chi đến Truyện Kiều dài mấy ngàn câu sao đi chép lại từ 150 năm nay!

    Nói đến chuyện hiệu đính Kiều tôi ngán quá, bàn cãi cả thế kỷ cũng không xong.”
    (*)version: bài dịch.

    (Trích từ cuốn “Quách Tấn & Nguyễn Hiến Lê: Những Bức Thư Đầm Ấm” (trang 319 và trang 326)

  • Một Bạn Đọc Khác viết:

    Nhờ quý vị đưa banh qua lại tôi lại thưởng thức một bài thơ hay . Cá nhân tôi ” thấm” câu ” cũng vì vui quá ra buồn bã” nó làm tôi liên tưởng đến câu thơ ” Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới ” của Thanh Tâm Tuyền .Cám ơn Da Màu ,cám ơn quý vị.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)