Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Hiểu và Cảm, Thấm và Thấu (Phần 2)

8 bình luận ♦ 1.11.2012

 

zenforhead

Nam June Paik, Zen for Head
(Thiền cho Đầu – Biểu diễn Fluxus) (1962)

 

 

Biểu diễn chữ nghĩa

Trong các loại sáng tác, nghệ thuật chữ nghĩa là nơi dễ bị sự biểu diễn xen vào, vô tình hay cố ý. hàng ngày, con người sử dụng chữ nghĩa để trao đổi ý tứ, chia sẻ tình cảm, tranh luận đề tài, thuyết phục người nghe……Ngôn ngữ, lời lẽ không thể không có lúc phô trương, biểu diễn hay gian lận. Ngược lại, có ngôn ngữ bình thường, ngôn ngữ ẩn ý, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ thật thà. ….v…v… ngôn ngữ duyên dáng và ngôn ngữ đẹp.

Văn thơ, nhất là thơ, chuộng ngôn ngữ đẹp. Có lẽ vì người xưa xem việc văn chương thi phú là việc cao hơn những chuyện bình thường hàng ngày. Họ dùng nét đẹp, tinh thần đẹp đưa vào chữ nghĩa để phân biệt với chữ nghĩa bình dân. Truyền thống trau chuốt chữ và câu trong văn thơ vẫn mãi còn đến ngày nay.

Trong những năm đầu tiên khi làm thơ, tôi có nhận được đôi dòng viết tay của nhà văn Võ Phiến, vốn là bạn nhỏ tuổi hơn ba tôi. Vài dòng ngắn trong mảnh giấy ngắn, nhắc tôi nên quan tâm đến nét đẹp trong thơ. Tôi hiểu được ý của bác ngay vì tôi có chủ trương dùng ngôn ngữ rất thường, những tiếng địa phương và đôi khi là những chữ thô và góc cạnh. Mãi đến hôm nay, tôi vẫn không thay đổi ý định ban đầu. Tôi cho rằng thơ cũng giống mọi sinh hoạt khác, sản phẩm khác, dùng để sống, không dùng để chiêm ngưỡng. Cứ theo tự nhiên và bản gốc của mình. Tôi không thấy thơ có nhiệm vụ gì cao cả. Tôi vốn dở thể thao. Những trò chơi đều về chót. Cờ bạc hay thua. Không thích làm việc. Chẳng coi trọng học hành. Thường hay suy tư và lãng mạn nên thích hợp làm thơ. Chỉ vậy.

Câu và chữ được trau chuốt đẹp và lãng mạn hoặc bóng bẩy chỉ có giá trị thật sự khi cưu mang một ẩn tình, ẩn tứ, ẩn ý hoặc gợi lên một hình ảnh, sự tích, dụ ngôn nào đó. Hoặc bình thường là có ý nghĩa. Nếu không sẽ chỉ là những câu, những chữ mang tính làm duyên hay son phấn bên ngoài. Người ta thường biện luận rằng thơ không cần phải có ý nghĩa. Sao lại không cần? Có chữ là có ý. Có câu là có chuyện. Nếu một câu thơ không mang ý tứ gì hoặc ý tứ hời hợt thì chắc sẽ bị lãng quên rất nhanh. Cứ thử nghĩ có bao nhiêu câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du mà ta có thể nhớ và đó là những câu nào.

Thơ Việt hiện tại lại có nhiều từ ngữ biểu diễn những tứ thơ có tâm tình kích động quá độ mà tâm tình đó đọc lên không cảm thấy có thật. Những tứ thơ nổi loạn, gào thét, đập phá hoặc trình bày những hình ảnh, mẩu chuyện kỳ dị như một bộc lộ để thoát ra những qui chế hoặc dòng thơ đương thời nhưng đọc lên không nhìn thấy tác giả. Chỉ thấy lao động ý tứ.

Một trong những khía cạnh biểu diễn là sự cường điệu. La to mà trống. Chữ lớn mà rỗng.Lăn lộn mà không đau. Khóc lóc mà không khổ. Nói chung là không cảm được sự trung thực. Không nhận ra được nhu cầu nào đã thôi thúc cho bài thơ thành hình.

Làm thơ phải bắt đầu từ một nhu cầu nào đó để thúc đẩy lời lẽ xuất hiện. Thường là xuất hiện hàng loạt. Đôi khi xuất hiện một hai câu để bài thơ bắt đầu từ đó. Bài thơ không có sắp đặt trước nhưng khi chấm dứt, chỉ có tác giả mới biết được anh ta đã giải tỏa nhu cầu ban đầu hay chưa. Bài thơ không đến từ một nhu cầu muốn thốt ra hoặc cần phải trải ra bằng chữ nghĩa, thì bài thơ này không có căn bản của thơ. Thơ không thể phát xuất từ nhu cầu biểu diễn hoặc nhu cầu danh tiếng hoặc nhu cầu thương mại. Nhu cầu để diễn đạt nghệ thuật là nhu cầu giải thoát những nỗi niềm cô đơn, như đã nói trên và nhu cầu trả lời cho những thao thức đi tìm bản ngã qua thẩm mỹ. Đọc xong, có thể có cảm tưởng, người làm thơ phải chờ đợi một nhu cầu trầm trọng. Thưa không, nhu cầu tình cảm và nhu cầu tri thức vốn đã sẵn có trong mỗi người. Có khi thôi thúc, có khi im lặng. Sự thôi thúc đến bất ngờ mặc dù có thể nó đã giằng co trong một chuỗi suy tư. Sự thôi thúc này, có khi rất nhỏ nhoi như cảm giác đói bụng, cần một miếng ăn. Hoặc khát nước mà muốn uống bia lạnh thay vì ly nước lã.

Để có thể chia sẻ nhiều hơn, hãy chọn nhu cầu tình yêu, vốn là động lực lớn nhất của thi ca và nghệ thuật. Nhu cầu cần có tình yêu là nhu cầu luôn luôn chiếm ngự trong tâm trí của mỗi người. Nhưng người không dùng nghệ thuật để diễn đạt nhu cầu này. Nhu cầu này sẽ bị thôi thúc bởi ông X, cô Y. Tạo ra một nhu cầu tình cảm đặc thù có nội dung và đối tượng là ông X hoặc cô Y. Những thôi thúc này là động cơ của sáng tác.

Một sáng tác nghệ thuật là một kết quả của một nhu cầu đặc thù bị thôi thúc. Sự thôi thúc mạnh hay yếu sẽ tạo ra sức sinh động của tác phẩm. Nhu cầu lớn hay nhỏ tạo ra tầm vóc của tác phẩm. Diễn đạt được nhu cầu này như thế nào là giá trị của nghệ thuật sáng tạo. Những yếu tính này kết hợp với nhau tạo ra giá trị cho một tác phẩm. Cho dù là một bài thơ chỉ có vài câu, cũng có yếu tính như vậy. Xét một tác phẩm nghệ thuật, xét một bài thơ cũng căn cứ vào nhu cầu, sức thôi thúc và cách diễn đạt.

Không nghe được người thưởng ngoạn, đừng tưởng họ câm. Không thấy được người thưởng ngoạn, đừng tưởng họ mù. Nhưng giữa trùng trùng bao la, họ đọc những lời thơ và nghe ra tâm địa của tác giả.

Sau khi sư ông Bankei qua đời. Không một ai trong các thiền sinh hiểu rõ sư phụ. Nhưng một người mù thường sống cạnh thiền viện kể với bạn rằng: – Bởi tôi mù nên không thể nào nhìn thấy rõ mặt ai, vì thế tôi đoán được tâm tánh của mỗi người qua tiếng nói. Thông thường khi tôi nghe ai khen ngợi kẻ khác hạnh phúc hay thành công, tôi còn nghe được cái giọng thầm kín của ganh tị. Khi nghe lời chia buồn kẻ khác gặp điều bất hạnh, tôi nghe có giọng khoái trá thỏa mãn, rõ là kẻ nói lời chia buồn mà lòng thì sung sướng vì có những món kẻ kia bỏ lại để cho mình chiếm đoạt.

Chỉ riêng giọng nói của Thiền sư Bankei là luôn luôn thành thực. Khi ngài nói lời vui vẻ, tôi chỉ nghe độc có giọng vui vẻ. Khi ngài tỏ lòng buồn rầu, tôi chỉ nghe độc một giọng buôn rầu.

Nói về sáng tác, đã nắm rõ yếu tính và tinh thần thẩm mỹ thì những kết quả nghệ thuật hoặc thơ văn vì những lý do không thuộc về thẩm mỹ thì làm sao có được tính đẹp trong tác phẩm và đức đẹp trong bản ngã.

 

* * *

 

Thơ hay là thơ ra sao?

Tôi đã nhiều lần phân biệt thơ hay và thơ giá trị. Không cần phải lập lại. Thôi thì lấy chữ "hay" theo nghĩa chung. Và dĩ nhiên đây chỉ là quan niệm riêng.

Nếu bạn nặn chanh chua vào một ly trà, những giọt chanh mau chóng tan biến vào nước trà. Nhưng nếu bạn bỏ đường vào ly trà, bạn phải khuấy lên, đường mới tan ra. Cả hai hợp lại thành ly trà chanh. Thơ cũng vậy, có lời lẽ, câu cú chui vào lòng và tan theo rung cảm. Có lời lẽ, câu cú phải suy tư, nghiền ngẫm mới tan ra. Một bài thơ gồm có cả chanh lẫn đường thì ly trà thơ này dễ uống. Nhất là chanh phải chua, đường phải ngọt thì sẽ làm khẩu vị tuôn trào nước miếng.

Bản tính Thấm và Thấu của chữ và câu là căn bản của bài thơ hay.

Có những chữ và câu thuộc về Thấm. Trước hết những chữ và câu này phải được đọc cẩn trọng hoặc trang trọng ngay từ đầu. Kiến thức, kinh nghiệm và khả năng hấp thụ thơ của người đọc là điều kiện để đón nhận và thời gian, từ từ những ý tứ của chữ và câu xâm nhập vào tâm tư thưởng ngoạn.

Về diện sáng tác, những chữ và câu có bản chất và nội dung Thấm là những chữ và câu có nhiều lớp bề sâu. Càng nhiều lớp chồng lên nhau càng thấm xuống lâu hơn.

Có những chữ và câu thuộc về Thấu. Từ chữ nghĩa câu cú đi thẳng vào lòng người đọc. Thấu không cần phải là dễ hiểu nhưng là hiểu liền, cảm liền.

Về diện sáng tác, những chữ và câu có bản chất và nội dung Thấu là những chữ và câu thường đến bằng trực giác sáng tạo. Chúng lóe lên và mang theo một tình ý có khả năng tuôn qua những rào cản để đâm thẳng vào tim.

Có những chữ và câu thuộc về Thường. Dùng để kể, để đệm, để nối, để dẫn…….Bất cứ bài thơ hay nào cũng có những chữ và câu thuộc loại này. Và thơ không hay là thơ có quá nhiều hoặc toàn là những chữ và câu thuộc loại thường. Nếu như cả bài thơ toàn là Thấm thì thuộc về bài thơ quá khó: Ví dụ,

Truyện bồ câu

Nước rửa lông mày
anh tưới tâm cây
Vùng lửa hạn
mắt lá ngày răm mát

Mãng cầu
chim huyền thoại
truyện bồ câu

hoặc

Vải Thanh Hà

Tàu ú còi tu hú kêu vườn đỏ
Tuổi vào ga mùa ủ lửa má vừa

(Thơ. Lê Đạt)

Một bài thơ hay có ít Thường và nhiều ThấmThấu. Thấu thì quan trọng hơn Thấm. Thấu là tinh hoa nội lực của mỗi thi sĩ. Nhưng phải có thấm thì thấu mới sung sức trở lại mỗi khi đọc lại bài thơ và thấu có khi sâu đậm hơn khi đã thấm qua nhiều lớp.

Đọc: Poet’s epitaph của Octavio Paz:

He tried to sing, singing                               Hắn đan tâm hát, hát lên
not to remember                                            để không còn nhớ
his true life of lies                                            nỗi niềm nhân sinh (sống đời thật để dối mình)
and to remember                                           để rồi nhớ mãi
his lying life of truths                                    tâm tình băn khoăn (đối đầu sự thật dối gian)

(Octavio Paz, Selected Poems, tr. 2;  ed. Eliot Weinberger, New Directions: 1984) 

He tried to sing, singing (Câu thường: khai)
not to remember (Câu thường: dẫn)
his true life of lies (Câu thấm)
and to remember (Câu thường: nối)
his lying life of truths (Câu thấu)

Chữ viết của người Việt khởi nguyên từ tiếng Hán. Về sau chuyển sang Hán Việt và biến dạng tiếng Nôm. Sau cùng chuyển thành chữ quốc ngữ dạng chữ La Tinh. Cấu trúc và luận lý trong chữ Hán và chữ La Tinh rất khác nhau. Chữ Việt thừa hưởng cả hai.

Chữ Hán là chữ bắt đầu bằng tượng hình sau đó mới diễn nghĩa. Ví dụ chữ Nhàn do chữ Nguyệt nằm trong chữ Môn. Nguyệt lai môn hạ nhàn. Đa số những chữ Hán căn bản bắt đầu từ vẽ lại một hình, vật, thú trong đời sống rồi dần dà biến báo theo thẩm mỹ. Bản chất là tượng trưng rồi diễn ý.

Chữ Việt viết theo chữ La Tinh là ráp vần a, b, c … cấu trúc theo thứ tự và luận lý để tạo ra ý nghĩa ví dụ: tu (đi tu), thêm dấu huyền là tù (ở tù), thêm vần n và g là tùng (cây tùng) …. Ý nghĩa của chữ thay đổi theo vần và dấu ráp thêm.

Ngôn ngữ Việt có thể diễn Hán, diễn Nôm, diễn La Tinh. Từ tinh thần cấu tạo và cách diễn, dễ nhận ra bản chất và ý tứ của chữ, trong cấu trúc lớn hơn là cụm từ rồi thành câu. Chữ và câu trong thơ Việt có thể hoặc tượng hình rồi diễn ý hoặc diễn ý diễn tình theo luận lý mở ra (unfold).

Ví dụ như dùng chữ Âm.  "Chiều âm …."

Hình tượng và ý nghĩa khi đọc chữ này là phân vân giữa Âm nghĩa trừ, Âm nghĩa tiếng, Âm nghĩa trái với dương. Âm là chữ tượng hình rồi mới diễn ý. Chiếu âm là câu tượng hình.

Chữ Âm thêm dấu sẽ mang đến Chiều ấm … Chiều ẩm …

Chữ âm thêm chữ sẽ Chiều âm thầm … Chiều âm vang … Chiều âm ỉ …

vậy thì:

Chiều âm
Tiếng rơi
Em không tới
Khói nhang
cháy ngún lòng tôi

………………

Đoạn thơ này có những chữ và câu làm người đọc băn khoăn. Bên dưới những chữ và câu này là gì? Những hình tượng đọc thấy ban đầu như Chiều âm… mở dần ra với Tiếng rơi….Em không tới……bổng đổi màu, thay ý khi nối vào Khói nhang cháy ngún lòng tôi…

Khói nhang cháy ngún lòng tôi…..Câu Thấu.

Chiều âm …Tiếng rơi … Em không tới … Câu Thấm. Âm nào? Tiếng gì rơi? Vì em không tới, phải chăng là chiều âm thầm, cô đơn hay chiều âm phủ? Phải chăng là tiếng lệ rơi hay tiếng lòng thảm thiết? Ý tứ gì đây? Em hẹn mà không đến hay em đã chết không thể trở về?

Đây chỉ là một ví dụ. Dĩ nhiên khi đọc, sẽ đọc một lượt nhưng cứ mỗi dòng thơ hoặc mỗi cụm từ tiếp theo sẽ mở dần những ngõ ngách, con đường đi vào cõi thơ. Bài thơ hay là bài thơ mở ra nhiều con đường khác nhau, kể cả đường hầm để người đọc tha hồ chọn lựa, đi lui đi tới, đi ngang đi dọc…..Mỗi đường, mỗi nẻo, mỗi thú vị, mỗi rung cảm tâm tư.

Bạn thử đọc bài thơ " Hết Hạ lại Thu" của thi sĩ Quang Phạm. Bạn có cảm được nồng độ của nhu cầu sáng tác? mức độ trung thực? và bản ngã của thi sĩ?

nhà tôi trên đồi
chạy quanh con suối cạn mùa khô
hôm em ghé chơi thẫn thờ bên gốc hạnh già
rồi bất chợt cất giọng bi ca, thảng thốt
tôi nghe như bắt đầu từ đó
nao nao, tiếng nước gieo chân đồi
rồi nắng hạ thấp, gió mùa dâng cao
từng cụm trắng đen mây rủ nhau tới
đổ bóng thiên thu trên thềm cửa vắng này
cây đàn bầu em bỏ đó hết hạ lại vào thu

một hôm rầu rầu mây trời bay ngang khung cửa nhỏ
khung cửa sổ như mắt, đăm đăm dõi nhìn
cung thương cung vũ bỗng dưng mình ên giật
chuyện như chẳng có gì
tự nhiên muốn bật khóc lòng đau
thoai thoải dốc đồi kia
bên dòng buồn buồn chảy
bóng hạnh là một vệt dài trên nền cỏ úa

ô kìa em chỉ còn một chiếc lá đỏ thôi
dáng, hình như tan vỡ đong đưa
rơi vèo vào chiều thu tịch mịch nhức nhối

chuyện tình buồn nhiều hơn vui
chẳng nói làm gì
chuyện như chẳng có gì
nhưng mỗi khi nghĩ tới lệ lại ít nhiều rơi

Rồi bạn thử tìm xem, chỗ nào Thấm, chỗ nào Thấu, chỗ nào Thường và bạn cảm ra sao?

Rồi mời các bạn thử đọc bài "Phẩm Giá Thơ" của thi sĩ Đoàn Minh Đạo. Đọc bài thơ này sẽ cần nhiều thời giờ để tìm hiểu rồi thấm mới có thể cảm. Bài thơ này như một chứng minh: Thơ khó không vì khó hiểu hoặc cố tình tạo nên khó hiểu mà vì có nhiều lớp để thấm qua. Bài thơ này có rất nhiều chữ và nhiều câu và nhiều đoạn thuộc về thấm. Có vài câu thấu, đọc nghe rất mủi lòng. Tiếng hát lương tri vượt ngục….. Nhà thơ người gieo hạt / Câu hỏi thơ đặt ngược với chúng ta…. Đất nước cần nhà thơ trong thời khốn khó…..

PHẨM GIÁ THƠ

Ông đã ra đi mùa hoa tháng Năm
Trời tháng Sáu tím sắc oải hương nở bên đồi
Điều mọi người yêu nói về mùa hạ
Nhưng thơ ông chỉ có
Màu tím hoa găng
Vừng trăng như
mẹt kê vàng*
Trong giấc mơ kẻ khó
Những câu âm ma sát cùng sinh tử
Chữ nghĩa đọa đày
Đói nghèo lao ngục
Canh cánh bên lòng
Dong riềng khoai sắn
Xác pháo tân hôn tàn vỏ khoai tím rịm
Miếng ăn bạc trắng mồ hôi
vắt tận trong xương
Đường đời gieo neo
Quị gối vin tay còn lênh đênh chao đảo
Nẻo sương chiều khổ lụy
Chút thơ mộng chắt chiu
Từng mụn trăng
vá lụa áo tù
Cuộc lữ qua đời mệt mỏi
Khổ đau nuôi thành con chữ
Bát nước vối chát lòng tự sự
Cơn khát thơ dải yếm lụa còn vương
Quai tay búa ngỡ nảy tay thơ
Nhớ thủa cân mười trang con ngựa phủ chúa
Nhờ ơn cao rộng
Đong mười hai năm sống sót trở về
Bèo nhèo thân phận
Bó gối gục đầu
Lòng mãi giữ ngay thước thợ
Mở mắt xem đêm
Tình quê vươn từ ngọn rau cái kiến
Ánh nhìn tươi rói trẻ thơ
Bầu trời sơ nguyên chung thủy.

Ông đã ra đi mùa hoa tháng Năm
Trời nơi đây rưng rưng tử đinh hương
Cũng tím hoa cà thủy chung thân phận
Ôi miền đất ngục tù nhà thơ đục vào ký ức
Bài thơ ngậm lời ứ tựa ca dao
Khi giấy mực chỉ thét gào cùng quyền lực
Cái ác hoành hành
Người thơ thụ nạn khổ hình
Chối từ thỏa hiệp
Níu đau thương trọn kiếp làm người
Chỉ ra kẻ
đâm người dấu mặt
Vu cáo gây thù
Khi bạo quyền đều muốn dẫn độ nhà thơ
Thi nhân thu sẵn hành trang rõ nơi phải đến
Chẳng hận thù
Vẫn nhân ái với kẻ gây tội
Cảm thông người thống hối lỡ lầm
Ước gì ta dõi bước theo ông
Trong dẫn lối lương tri
Hummingbird say mật tường vi
Cánh mong manh tinh âm thanh tân
Lập lòe
đom đóm khuya soi bóng lộc vừng
Người ngưỡng mộ ông
Mỗi hình ảnh là quê hương sự sống
Mỗi ý nghĩ thiện tâm chắt gạn trong lao nhục
Mỗi hành động nhân hậu vực trổi dậy
Trong hoang hoại
của cảnh giác nghi ngờ
Tàn khốc thời văn hóa hư vô
Đời trại giam không ngày tháng
Thời nát bụi tro
Những tiếng tung hô cài lên cửa miệng
Thủa điện đài đã thành phế tích
Gió gào sử lịch mù sương
Cơn mưa cuồng đáy vực
Tiếng hát lương tri vượt ngục
Sóng biển xô nhịp đập hoá sinh

Ông đã ra đi mùa hoa tháng Năm
Hoang vu tràn lũng linh lan
Bóng chuông nhỏ vang trời huyết lệ
Từ vừng trán ráng chiều đôn hậu
Cửa tử sinh nhân thế
Nhẹ tựa mây
Đất nước vướng dây oan nghiệt
Cái đói nghèo còn buộc chưa tha
Nhà thơ người gieo hạt
Câu hỏi thơ đặt ngược với chúng ta
Đeo đuổi
người tím ruột cơ hàn
Đan kết hoang vu thương tích
Ất Dậu tháng Ba tưởng đâu dịch xóa lâu rồi
Cũng cái đạp vào mặt phẩm giá con người
Những em bé ơi thanh xuân đất nước
Vươn rừng bạt ngàn sức sống hồi sinh
Chúng ta chẳng cần sử thi thần thọai
Khi mãng xà đưa đẩy
giọng cừu non
Ta bắt đầu bài thơ nén vần sâu lắng
Cánh thiên nga trắng ngần
Đùa gió hồ Xuân say cơn nắng Hạ
Minh triết vút đỉnh xa ngưỡng vọng cõi bờ
Đất nước cần nhà thơ trong thời khốn khó
Sự sống hiển linh len từng dẽ lúa
Câu thơ lời lá cỏ ven rừng
Đêm ca dao của vầng trăng muôn thủa
Vỗ về hơi thở sơ sinh
Nhà thơ bạc tóc rạp đầu
lạy hạt gạo thiêng
Lả nhánh hương tưởng niệm chiều tà
Ôi mãi vắng thơ mùa hoa tháng Năm.

(*Chữ thẳng vay trong thơ Phùng Cung
Trích: http://www.gio-o.com)

Hai nhà thơ là hai phong cách sáng tác. Hai cá tính khác xa nhau.

Có thể đọc ra nhu cầu thôi thúc của bài "Hết Hạ Lại Thu" từ một vết thương của một chuyện tình đã qua. Vết thương không lành, không chảy máu xối xả mà âm rỉ khi kỷ niệm đeo đuổi rồi nhắc nhớ. Chữ nghĩa của nhà thơ Phạm Quang thì bình thường nhưng cấu kết vào câu lại không bình thường, khiến cho câu thơ đọc lên thấy trăn trở: cây đàn bầu em bỏ đó hết hạ lại vào thu…..Hoặc nhiều câu mở ra khiến cho ta cảm thấy sự xót đau trung thực của tác giả. Chuyện như chẳng có gì / nhưng mỗi khi nghĩ tới lệ lại ít nhiều rơi….Không có nhiều câu thấm. Nhưng chỉ câu này, cũng cho ta sự cảm khái: bóng hạnh là một vệt dài trên nền cỏ úa. Bóng hạnh, bóng của cây hạnh già hay là bóng hạnh phúc có lần đã "thẫn thờ" nơi đây nay đã ngã trên cỏ úa. Không có câu thấu của trí tuệ nhưng câu thấu của tâm sự làm bùi ngùi cho kẻ đồng cảm: chuyện tình buồn nhiều hơn vui (dẫn) / chẳng nói làm gì (thấu)…. Nhà thơ Phạm Quang không chứng tỏ một phương pháp sáng tạo rõ ràng. Cách diễn đạt của ông bình dị như lời tâm sự thường thường mà gây cảm động. Không ào ạt sướt mướt mà nhẹ nhàng như chiếc lá đỏ rơi.

Bài "Phẩm Giá Thơ" thì khác hẳn. Nhu cầu thôi thúc để bài thơ này ra đời là sự dằn vặt của suy tư về giá trị của làm người. Nhân vật "ông" vừa là nhà thơ Phùng Cung, vừa là bất cứ một người nghệ sĩ nào còn sĩ khí sống trong một xã hội bị phủ quyết nhân quyền, vừa là tâm sự của tác giả. Xuyên qua cái biểu dụ Phùng Cung, "Ông đã ra đi.." và những gì ông để lại, chính là những điều ta nghiền ngẫm về sự bi thảm của hào khí. Nỗi bi thảm này không phải chỉ của Phùng Cung mà của bất cứ ai có tâm hồn hào sĩ. Thế thái nhân tình, thành bại nhân sinh cũng làm cho hào sĩ hôm nay ngán ngẩm. Ông đó, người đây có phẩm chất làm người. Nhưng liệu rằng nhân phẩm của nhà thơ có làm nên phẩm chất thơ? Bài thơ tạo ra nghi vấn cho người đọc băn khoăn. Đó là đề tài thấm.

Phương pháp sáng tác của ông trước hết là vay mượn ít lời của nhà thơ Phùng Cung, những lời thấm thấu và khéo léo ráp vào câu trở thành lời lẽ của tâm sự …. Miếng ăn bạc trắng mồ hôi vắt tận trong xương …. Từng mụn trăng vá lụa áo tù …. Mở mắt xem đêm Chỉ ra kẻ đâm người dấu mặt … Nhà thơ bạc tóc rạp đầu lạy hạt gạo thiêng v..v …. Chữ nghĩa của ông dùng thận trọng và chải chuốt. Câu cú ông xử thuộc về "khó" vì ông tạo ra những khoảng trống không giữa các ý tưởng. Sự liên tục của câu và ý bị gián đoạn để người đọc sụp vào khoảng suy tư. Những câu chuyện đời thật và truyện viết bởi Phùng Cung Nhớ thủa cân mười trang con ngựa phủ chúa … được cài chung vào tâm cảnh và tâm ý của ông … Quị gối vin tay còn lênh đênh chao đảo…. Chút thơ mộng chắt chiu…. Thi nhân thu sẵn hành trang rõ nơi phải đến….. Khổ đau nuôi thành con chữ…..v…v……Phương pháp sáng tác của ông có thể nhìn thấy đó là sự chọn lựa chữ và cụm chữ phức tạp. Câu cú chải chuốt cài nhiều ẩn ý. Ông phân biệt ranh giới giữa lời thơ và lời thường.

Một bài thơ dài là vì tự nó sinh trưởng hay vì tác giả cố nuôi cho nó lớn? Một bài thơ ngắn, chỉ có vài câu là vì tác giả hụt hơi hay vì tự bài thơ đã đủ? Không ai có thể thoát ra qui luật tự nhiên. Có nhu cầu lớn, có thôi thúc mạnh, sẽ có nhiều thơ. Có nhu cầu sâu sắc, có thôi thúc bất chợt, thường sinh thơ cô đọng. Căn bản của nghệ thuật làm thơ nằm trong bốn chữ: Tự nhiên và xuất thần.

Ở bất cứ thời đại nào, hoàn cảnh nào, chuyện làm người vẫn mãi mãi là chuyện ấm ức cần bộc lộ từ những tâm hồn chống đối rồi bị bầm dập bởi số mạng. Và cũng từ đó…Ta bắt đầu bài thơ nén vần sâu lắng…..

Ngu Yên
Houston,  ngày 16 tháng 10 năm 2012

(Kỳ sau: "Bài thơ Thường Bài Thơ Thấu Bài Thơ Thấm")

bài đã đăng của Ngu Yên


8 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Có nhu cầu lớn, có thôi thúc mạnh, sẽ có nhiều thơ. Có nhu cầu sâu sắc, có thôi thúc bất chợt, thường sinh thơ cô đọng. Căn bản của nghệ thuật làm thơ nằm trong bốn chữ: Tự nhiên và xuất thần.(NY)

    + Trang Tử có một ngụ ngôn về sự lớn và vô dụng. Có người cho Trang Tử trái bầu khô thật lớn. Nhưng mà mọi người cho là nó vô dụng. Làm cái gáo múc nước thì quá lớn. Xẻ ra làm chiếc xuồng lại quá nhỏ. Làm cái gì bây giờ. Vô dụng. Trang cười ha hả. Tại sao không lấy nó làm trái nổi, nhảy ùm xuống sông tắm chơi !

    + Có nhà văn Tây Phương viết rằng cái chuyện ái ân nhiêu khê rắc rối của nhân loại hiện nay, xét cho cùng khi lên đến cực điểm thì cũng không khác thời ông A Dong và bà E Và từng trải qua thuở khai thiên lập địa. Chắc là vậy.

    + Tui nghĩ thêm, xét cho cùng, vào một nhà hàng cực sang trọng với ngồi xổm hẻm nhỏ ăn dĩa cơm tấm bì nước mắm chua củ kiệu, thì sau rốt sự khoái khẩu cũng không hẳn là bên nào hơn bên nào.

    Có điều, xử ở đâu thì tùy theo đấy. Đã vào nhà hàng lớn thì phải chấp nhận cung cách ăn vận của ladies & gentlemen. Phải cho tiền tip hào phóng. Về hẻm nhỏ thì uống ăn dễ dãi tự nhiên hơn đôi chút, nhưng vẫn phải đường hoàng sảng khoái và lưu tình.

    Có lẽ, cái bi kịch của đời sống là khi con người cảm thấy bị ép buộc vào một nơi này với tâm trạng của chốn khác chăng?

  • Ngu Yên viết:

    Anh Black Raccoon

    Có lẽ, cái bi kịch của đời sống là khi con người cảm thấy bị ép buộc vào một nơi này với tâm trạng của chốn khác chăng: HAY.

    Ngu Yên.

  • Nói chơi thôi. viết:

    Trên ý nghĩa thực dụng, xét cho cùng, vật gì cũng hữu ích ít hay nhiều tùy cách xử dụng. Điều quan trọng là cái hữu ích có xứng đáng với công sức bỏ ra. Lấy cái cây kéo đàn violin làm cái cây đánh con nít, nó cũng hữu dụng. Trên ý nghĩa tinh thần thì tự bản thân sự vật đã hữu dụng rồi khi chẳng cần phải dùng cho việc gì cả ngoại trừ được dùng như cái cớ thôi. Hành động cho và nhận cái bầu, tôi nghĩ chắc đã làm cho người cho và người nhận vui sướng rồi
    Khi đến cực điểm có thể là giống nhau. Nhưng ái ân trong 30 phút chắc sẽ khác hơn 30 giây. Đôi khi sự sảng khoái nằm trên con đường đi chứ không phải chỉ ở điểm đến.
    Quá đơn giản khi nghĩ rằng món ăn là yếu tố duy nhất quyết định cho khẩu vị. Cũng là một món ăn nhưng đầu bếp người pháp sẽ bỏ ra 1 giờ đồng hồ để bày lên đĩa, còn đầu bếp người việt bỏ ra 5 phút. Sự trình bày trên đĩa chắc hẳn phải có ảnh hưởng đến khẩu vị của người ăn.
    Cũng món cơm tấm, nhưng nó sẽ khác khi ăn ở nhà hàng và ăn ở ngõ hẻm(chưa biết ở đâu ngon hơn). Bi kịch của con người là không có sự lựa chọn. Tôi thích đi nhà hàng ăn cơm tấm, nhưng bị bắt ra ngỏ hẻm hoặc ngược lại.

  • hồ đình nghiêm viết:

    Tôi tính nói thiệt, cái điều mà “nói chơi thôi” đã ngôn. Chơi mà thiệt là cách mà văn thi sĩ thường bị lậm. Đã lỡ lậm, xin đừng chỉ bày đâu là chính đạo. Nếu ai cũng “an tâm đi dưới tấm bảng chỉ đường” thì vận sự nọ rõ là bi kịch cho một kẻ rắp tâm ưa sáng tác. Cám ơn những chia sẻ của người “Nói chơi thôi”. Chung cuộc: Nói dậy mà hổng phải dậy!

  • Ngu Yên viết:

    Chào các bạn,

    Các bạn đưa ra những lý thú rất chơi và rất thật, đọc đi đọc lại, thấy quả thật là cách sơn đả ngưu. Ngu yên vẫn biết, nghệ thuật chỉ là một cách vui buồn của những ngày còn lại nhưng không khỏi thao thức về cái hay thật sự của thơ nằm ở đâu? Mong các bạn cho Ngu Yên thêm một chút thú vị này để suy gẫm.

    Ngu Yên

  • thường mộng viết:

    Bác Ngu Yên,
    “…cái hay thật sự của thơ nằm ở đâu?…”, dường như cái hay của thơ nằm ở ngoài thơ thì phải, bởi nếu cái hay nằm ở trong thơ bác Ngu Yên đã thấu được rồi, nhưng cái hay của thơ nằm ở ngoài thơ, thời cái hay kia chắc không dính dáng gì đến thơ-hay là đập cái bầu của bác Raccoon để cứu cụ Trang tử khỏi “tử” thêm lần nữa, may ra thấy được cái hay của thơ…cũng có thể vất đi “thường, thấm, thấu”, vất đi phần lý trí cứng ngắt, biết đâu chừng, cái hay của thơ sẽ hiển lộ…
    Cảm ơn bác Ngu Yên về “PHẨM GIÁ THƠ”, cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • black raccoon viết:

    … nhưng cái hay của thơ nằm ở ngoài thơ ™

    – Cái hay đã nằm “ngoài” thơ thì đập trái bầu của cụ Trang Tử để làm gì?
    – Cũng vậy, cụ Trang Tử đã sống “ngoài” cõi nhân gian rồi thì cứu sống cụ lần nữa có cần thiết không?

    Cũng như nhà thơ Ngu Yên, tui cũng rất mong được thưởng thức thơ hay ngoài thơ của quý đọc giả như tm như thế nào. Xưa nay tui chỉ loanh quanh phở ngon tại phở, người đẹp xinh tại ngay bong mỹ nhân thôi. Mong thay.

  • Nói chơi thôi. viết:

    Thay vì nhìn vào vấn đề, chúng ta có khuynh hướng giải quyết vấn đề. Và chúng ta cũng thường tạo ra một vấn đề lớn hơn để giải quyết một vấn đề. Xin thưa, đây chỉ là một nhận xét và không có xét đoán.

    Đi tìm cái HAY THẬT SỰcủa một bài thơ đã khó. Mà đi tìm CÁI HAY THẬT SỰ của thơ thì vô cùng tận. Nhưng cái thú đôi khi nằm ở trên đường đi, chứ không chỉ ở điểm đến. Nhưng đường đi đôi khi cũng vô vị nếu chúng ta chỉ nhắm đến đích mà bỏ qua những hoa thơm, cỏ lạ ven đừơng. Tôi nghi là ý nghĩ đi tìm cái hay của thơ chỉ là cái cớ cho bạn NguYên dong ruỗi trên đường vạn lý. Bạn ngắm, bạn ngẫm và “ba hoa” những điều tâm đắc. Xin lỗi bạn NguYên nếu tôi đoán sai và chữ ba hoa làm phật lòng bạn.
    Đi đường nào để đi tìm thì tùy mỗi nơi, mỗi lúc. Lạc đường, đúng đường? Khó nói. Tùy vào kinh nghiệm và công lực. Xin tạm ngừng nơi đây trên con đường vạn lý…

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)