Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Hiểu và Cảm, Thấm và Thấu (Phần 1)

1 bình luận ♦ 30.10.2012

 

artwork_images_1042_196698_philip-guston

Philip Guston, Story (1978)

 

 

Tại sao nghệ thuật khó hiểu?

Vì không thể thấy được cái thật của nghệ thuật. Nói một cách khác, không thể thấy chân lý của cái gì làm nên thẩm mỹ.

Một người đang diễn thuyết giữa đám đông, nơi công cộng. Anh ta nói về sự thật. Nhìn thấy một con ngỗng đang ngủ, đứng một chân, dưới tàn cây. Anh chỉ nó và nói: – Sự thật như con ngỗng đang đứng kia. Một nhóm người quay sang nhìn con ngỗng rồi vỗ tay. Con ngỗng giật mình thức dậy, bỏ chân xuống. Bấy giờ nhóm người còn lại mới quay nhìn. Anh lập lại: – Sự thật như con ngỗng đang đứng kia. Đám người còn lại cũng vỗ tay.

Một sự thật là con ngỗng đứng một chân. Còn sự thật kia là con ngỗng đứng hai chân. Anh ta nói sai sao? – Thưa không, anh ta nói đúng. Cả hai đều đúng. Sự thật ở nơi con ngỗng đứng. Nhìn thấy sự thật là do con người.

Nếu lấy Nghệ Thuật thay cho con ngỗng, sự thật ở nơi nghệ thuật. Nhìn thấy sự thật của nghệ thuật là do con người. Như vậy, sự thật của nghệ thuật có thể nhìn thấy có một chân, hai chân, trăm chân, ngàn chân…. Đã không thể giống nhau thì làm sao gọi là sự thật. Mà sự thật qua con người thì không giống nhau. Vì vậy nghệ thuật khó mà hiểu cho rõ.

Nhìn ở góc cạnh khác, con ngỗng là sản phẩm của tạo hóa, của tiến hóa…Còn nghệ thuật là sản phẩm của con người. Nếu sự thật ở nơi nghệ thuật mà nghệ thuật ở trong con người, thì con người nhìn thấy sự thật của nghệ thuật là nhìn thấy sự thật của chính mình. Con người cũng khó hiểu được mình vì sự thật đó có quá nhiều chân khác nhau.

Nếu đã kết luận, nghệ thuật khó hiểu, thì có cần phải tìm hiểu không? Có nơi nào hoặc ai đó để tìm câu trả lời.

Hoàng đế Goyozei học đạo Thiền với sư ông Gudo. Hoàng đế là người thâm cứu, có kiến thức sâu rộng về Thiền. Khi gặp sư Gudo, Hoàng đế hỏi rằng:

– Theo Thiền, tâm là Phật phải không?

Sư Gudo trả lời:

– Nếu bần tăng nói là đúng thì bệ hạ sẽ cho rằng mình đã hiểu nhưng thật ra bệ hạ không hiểu. Nếu bần tăng nói sai, thì bần tăng đang nói ngược lại điều mà nhiều người khác đã hiểu tường tận.

Hoàng đế lại hỏi:

Người chết đi về đâu?

– Bần tăng không biết.

– Tại sao thiền sư lại không biết?

– Bần tăng chưa chết.

Rốt ráo, chân lý của nghệ thuật có nhưng không xác định được trong ý nghĩa chung, quan niệm chung mà chỉ được "nhìn thấy" một cách riêng tư theo mỗi người, mỗi thời. Không ai có thể trả lời cho bạn câu hỏi này một cách chính xác. Nếu chưa chết thì làm sao biết được về sự chết? Sự thật trong lòng của một người và sự thật chung, có khác nhau chăng? – Khác. Có giống nhau chăng? – Giống. Như Tâm với Phật vậy.

Nếu không có một sự thật chung về nghệ thuật thì mỗi nghệ sĩ sẽ phải hiểu nghệ thuật ra sao? Hiểu theo trường học? Hiểu theo sách vở? Hiểu theo nghiên cứu? Hiểu theo tự phát tự diễn? Chưa có người nghệ sĩ thành danh nào mà không có một quan niệm nghệ thuật thâm sâu, độc đáo và riêng tư.

Dĩ nhiên đã chọn con đường nghệ thuật thì phải tìm biết nghệ thuật. Trăng trên trời là thật. Trăng in trong nước là ảo. Nhưng nếu đứng vào góc độ của ảo thì trăng ở trong nước là thật. Ví nghệ thuật thật là mặt trăng. Nghệ sĩ nào cũng nhìn thấy nhưng không ai bắt xuống được. Nhưng nghệ thuật in xuống trong lòng của nghệ sĩ. Nghệ thuật này như là bóng trăng và bóng trăng là nghệ thuật thật trong lòng. Chuyện còn lại là mỗi người hứng bóng trăng như thế nào? Bằng thau, bằng giếng, bằng hồ, bằng sông hay bằng biển?

Có một sư cô gánh nước đêm trăng. Sư nghĩ đến câu chuyện ngón tay chỉ mặt trăng của Phật dạy mà nghiền ngẫm. Nhìn lên, trăng ở quá cao. Nhìn xuống, thấy trăng trong thùng nước đang gánh. Ngón tay chỉ phải chăng là thùng nước đựng mặt trăng? Sư miên man tìm hiểu. Vẫn chưa nghĩ ra, sư tiếp tục gánh hết gánh nước này đến gánh nước khác. Mang trăng từ sông về đổ ở chùa. Đến gần sáng, vẫn chưa tìm thấy chân lý của trăng trong thùng và trăng đầu ngón tay. Quá kiệt sức, sư cô vấp ngã. Nước đổ ra đất. Gánh gãy. Thùng bể. Nằm sát đất sư cô phát ngộ tính. Viết rằng:

Chẳng còn nước trong thùng
Chẳng còn trăng trong nước.

Nghệ thuật có thể nằm ở mặt trăng nhưng làm nghệ thuật là gánh nước. Gánh nước thì không cần phải có trăng chỉ cần ánh trăng sáng để soi đường đi và ánh sáng đẹp để tận hưởng trong lúc đang gánh nặng.

Quan điểm này có lẽ không còn thỏa đáng cho tâm sự con người trong thời hiện đại. Con người hôm nay, dấn thân hơn, chi tiết hơn, thực tế hơn và có nhiều phương tiện hơn. Vì sao phải dùng tay để chỉ mặt trăng? Phải chăng vì con người muốn xác định một phương hướng. Nhìn về phía mặt trăng là một cái thấy không chăm chú và là cái thấy của riêng mình. Lấy tay chỉ, là hội tụ cái thấy và hướng dẫn những người khác nhìn theo. Mặt trăng đã có từ lâu. Người thường, ngắm trăng lơ là. Nhà khoa học thì muốn lên tận mặt trăng và họ đã đến trong thế kỷ 20. Vì vậy ánh trăng đẹp có thể thỏa mãn cho người thường nhưng không thỏa mãn cho người nghệ sĩ.

 

* * *

 

Đây cũng là một trong những lý do mà người nghệ sĩ luôn luôn cảm thấy cô đơn cho dù anh có thể có hết mọi thứ trên cõi đời này. Làm nghệ thuật là con đường đi tìm lại chính mình.

Một nhà tu đi tìm bản ngã, có lẽ sẽ dễ dàng hơn vì ông có được sức "cố vấn" của tôn giáo. Một nghệ sĩ đi tìm bản ngã, có lẽ bi kịch hơn vì ông biết được nghệ thuật không có phép lạ. Cái bản ngã trong tôn giáo là cái bản ngã có sắc hình của Thượng Đế hoặc của hư không. Còn cái bản ngã tìm thấy qua nghệ thuật là một bản ngã đã có sẵn. Như một kẻ đi tìm một tấm gương để soi lại một nhân vật giống y như mình mà mình chưa từng thấy trước đây.

Tấm gương này không phải dễ tìm thấy. Cuộc hành trình này đầy bóng tối. Tìm ra tấm gương cũng không có đủ ánh sáng để soi gương cho thấy rõ. Bi kịch của nghệ sĩ nằm trong màn kết thúc này. Trong khi màn cuối của các bậc chân tu là màn kịch có hậu.

Một nghệ sĩ không tìm thấy hình dạng của mình thì không thể có tác phẩm của mình mà chỉ có tác phẩm của người khác. Cũng gần giống như nếu một người không thật sự tìm thấy vợ của mình thì người đàn bà sống cạnh bên là vợ của người khác cho dù cô ta không ngoại tình. Rất nhiều người tưởng mình có vợ. Rất nhiều người tưởng mình có chồng. Rất nhiều nghệ sĩ tưởng mình có tác phẩm.

Sự tìm không rõ bản ngã là một dằn vặt từ vô thức đến tri thức. Dù biết hay không, cái cảm giác không ai hiểu, không ai giúp, không ai chia sẻ, mãi mãi đeo đuổi người nghệ sĩ. Nỗi cô đơn này không có lối thoát. Làm nghệ thuật là tìm cách thoát ra. Càng vùng vẫy, càng đối phó với nỗi cô đơn để tìm thấy mình chừng nào thì tác phẩm càng có giá trị chừng đó. Khổ đau chỉ làm cho tác phẩm có giá trị tình cảm. Chính cái dằn vặt của cô đơn mới làm tác phẩm có chiều sâu. Cái dằn vặt cô đơn của nghệ sĩ cũng chính là cái khổ công đi tìm bản ngã qua con đường thẩm mỹ.

Zenkai là một võ sĩ đạo, du hành đến Edo và được nhận làm hầu cận của một quan lớn. Anh ta tư tình với bà vợ quan và chuyện bị vỡ-lở. Vì tự vệ, anh ta hạ sát viên quan rồi tẩu thoát với nhân tình. Nhưng người đàn bà tham lam quá độ làm cho Zenkai ghê tởm. Cuối cùng, anh đành phải bõ rơi bà ta và trôi nổi đến một tỉnh xa Buzen, trở nên một tên hành khất lang thang.

Ðể chuộc tội trong quá khứ, Zenkai nguyện làm vài điều thiện trong đời. Biết có một con đường đi qua vực núi rất nguy hiểm đã làm nhiều người chết và bị thương, anh quyết tâm đục một đường hầm qua núi. Khất thực ban ngày. Zenkai đào hầm vào ban đêm. Sau ba mươi năm, đường hầm đã được đào khá dài.

Hai năm trước khi công việc hoàn tất, người con của viên quan bị giết, nay là tay kiếm cao thủ, tìm ra tông tích Zenkai và tìm đến để trả thù. – Ta sẽ nộp mạng cho ngươi, Zenkai bảo. Hãy để ta hoàn thành công việc này. Ðến ngày đó ngươi có thể giết ta.

Người con chờ đợi ngày đó. Vài tháng trôi qua và Zenkai tiếp tục đào. Người con chán ngồi không và góp tay đào giúp. Sau hơn một năm giúp đào, người con thán phục tư cách và ý chí của Zenkai. Cuối cùng, đường hầm đào xong và mọi người qua lại an toàn.

– Hãy lấy đầu ta, Việc đã hoàn tất.

– Sao ta lại có thể cắt đầu của thầy ta được? . Người thanh niên hỏi mà nước mắt đầm đìa. (trích truyện Nhật bản).

Điều tốt đẹp của người nghệ sĩ là làm cho nghệ thuật đương đại được đẹp hơn. Nhưng điều này to lớn quá. Điều có thể của người nghệ sĩ là làm cho nghệ thuật trong bản ngã mỗi ngày mỗi đẹp hơn. Và cái đẹp này mang đến cho giới thưởng ngoạn. Có rất nhiều nghệ sĩ như Zenkai đã dùng hết một đời để đào những con đường hầm cho kẻ thưởng ngoạn đi qua, đi nhanh mà không bị lạc lối. Không phải là đường hầm dài hay ngắn, lớn hay nhỏ mà là hành động đào đường hầm đã thuyết phục chính anh và người xung quanh.

 

* * *

 

Tại sao nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng, không cần hiểu chỉ cần cảm?

Rất nhiều nhà trí thức am tường về nghệ thuật thường dùng quan niệm trên để giải thích cho những người cố gắng tìm hiểu nghệ thuật hoặc đọc phải một bài thơ "khó" không hiểu nổi.

Quan niệm này có đúng không?

Tôi làm việc chung với nhiều người Ấn Độ. Họ là những nhà toán học rất giỏi và những kỷ sư viết phần mềm rất tài tình. Tôi có nhiệm vụ phân tích data của thị trường rồi chuyển sang họ để thành hình những cấu trúc và hành xử của robot. Những robots tự động giao dịch tiền tệ quốc tế. Một trong những anh kỷ sư Ấn này là bạn khá thân với tôi. Chúng tôi có chung một sở thích là đọc thơ thế giới. Một hôm sau khi làm hết phần hành, chuyển sang anh. Trong khi anh đang cặm cụi đúc kết dữ liệu, tôi tò mò lấy cuốn thơ của thi sĩ Ấn lừng danh Sukanta Bhattacharya trên bàn của anh ra đọc. Bìa hình của Sukanta thật đẹp. Vài phút sau, tôi đành bỏ xuống vì không hiểu gì cả. Cũng không cảm được chút nào. Tôi không biết đọc tiếng Bengali (một loại ngôn ngữ Ấn).

Có thể xác định trên căn bản, nếu không hiểu thì không thể cảm. Như vậy lý luận này phải chuyển sang: Nếu hiểu đại khái nhưng với một sức nhạy cảm cao hoặc trực giác sắc bén thì có thể cảm được một bài thơ khó, một sản phẩm nghệ thuật cao kỳ. Bạn nghĩ sao?

Có một thời thịnh Thiền tại Nhật Bản, những sư đi tầm đạo thường tranh luận với nhau để quán giải hoặc mở ngộ tâm tánh. Một thiền sư danh tiếng có khả năng tranh cãi bằng cử chỉ không bằng lời nói và đã thuyết phục nhiều nhà hùng biện và giải đáp những thắc mắc của các thiền sư khác. Ông có một sư đệ, tính tình nóng nảy lại bị chột một mắt nên ít khi ra thiền viện.

Một hôm có vị cao tăng đến từ phương xa xin được tranh luận nhưng vị sư tụ trì đang mắc bệnh phong hàn không tiếp khách được. Ủy thác cho sư đệ ra tiếp kiến. Chỉ một khoảng ngắn ngủi, vị sư khách đã chạy tới khấu kiến sư trụ trì mà nói rằng:

– Sư đệ của ngài quả thật cao thâm. Đã giải ngộ cho bần tăng, Bần tăng xin cảm tạ.

– Hãy kể cho ta nghe.

Thế này, trước hết bần tăng đưa lên một ngón tay ngụ ý nói Đức Phật là duy nhất để giải ngộ. Sư đệ đưa lên hai ngón tay ám lời là Đức Phật và giáo pháp của ngài đều là giải ngộ. Bần tăng đưa lên ba ngón tay tượng trưng cho Phật, Pháp và Tăng. Sư đệ liền đưa ra cú đấm. Ám chỉ cả ba đều khởi phát từ nhất thế. Bần tăng khâm phục. Nói xong vị cao tăng từ giã ra về.

Kế tiếp, vị sư đệ chạy vào phòng hỏi sư trụ trì:

Lão sư già đó đi đâu rồi?

– Ông ta đã xuống núi. Đệ đã thắng cuộc tranh luận như thế nào, hãy kể cho ta nghe.

– Thật là đáng chết. Mới ngồi xuống, lão ta đã đưa một ngón tay lên, ám chỉ đệ chỉ có một mắt. Đệ bực tức nhưng cố nhường nhịn đưa hai ngón tay, có ý chúc mừng lão còn hai mắt. Lão thật không biết điều, lại đưa ba ngón tay, ám chỉ cả hai người mà chỉ có ba con mắt. Đệ không nhịn nổi, đành đưa ra cú đấm để cảnh cáo. Cũng may lão lãnh hội nên vội vã rút lui.

Common sense is not so common, ông Voltaire đã nhận xét như vậy. Huống hồ chi là khả năng cảm thông trong nghệ thuật. Những tri thức thu thập do cảm thông từ một tác phẩm nghệ thuật của thưởng ngoạn không có gì bảo đảm là của tác giả. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta đã gặp thiếu gì chuyện hiểu lầm, cảm trật. Cùng là một câu nói có người khen, kẻ chê. Cùng một câu chuyện, có người diễn thế này, người diễn thế khác.Vậy thì tại sao lại có thể đặt niềm tin nơi cái cảm vào một đối tượng như nghệ thuật, vốn dĩ rất mơ hồ.

Như vậy nếu hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật thì khả năng cảm thông có phần chính xác hơn phải không?- Thưa chỉ đúng với các chuyên viên khảo giá tác phẩm và gần đúng với các nhà phê bình nghệ thuật chuyên nghiệp nhưng không giải đáp được cho người thưởng ngoạn bình thường. Lý do tại sao?

Có một người thầy bói nổi tiếng bói đúng. Ông có thể nói đúng gần một trăm phần trăm chuyện quá khứ của người đến xem bói. Từ đó ông biện giải những chuyện tương lai và người ta đồn rằng ông đúng là thánh sống.

Một thanh niên nghe tiếng nên lặn lội đường xa đến để xem bói. Đến phiên anh ta vào gặp ông thầy để xin một quẻ. Thầy nói:

– Nào, anh muốn xem về gì? Tình duyên, gia đạo hay công danh?

– Thưa thầy, không. Anh thanh niên thò tay vào túi quần, bốc ra một nắm. Anh mở ra cho thấy toàn là đậu đen. Xong, anh nắm tay lại và hỏi.

– Xin thầy xem giùm trong tay con có bao nhiêu hạt đậu?

Một bài thơ khó khi đến tay người đọc. Có những người đọc xong, hiểu một cách mơ hồ. Có những người đọc xong, hiểu theo ý riêng của họ. Dùng văn bản để tìm về ý tứ và tìm vào tinh thần của tác phẩm không phải là chuyện có thể tin một trăm phần. Như một nhà khảo cổ, tìm thấy một mớ xương người xưa, có thể đối chiếu và suy diễn ra một tương thuyết về một nhóm cổ nhân, một thời đại xa xưa. Nhưng cũng chỉ là một cách bói.

Kết luận, một tác phẩm quá khó, quá mù mịt, không thể hiểu thì không thể cảm. Nếu một tác phẩm có thể hiểu được thì sự cảm thông sẽ giúp cho thưởng ngoạn dễ chia sẻ với tác giả. Một tác phẩm quá dễ hiểu, ruột để ngoài da, thì thông thường không được coi trọng. Như vậy giá trị của một tác phẩm nằm giữa một đầu là quá dễ hiểu và đầu kia là không hiểu gì cả. Vậy thì nằm ở khúc nào sẽ có giá trị cao?

Tính tình bảo thủ thì sẽ chọn trung dung. Trung dung trong nghệ thuật thường hợp với thương mại hơn là giá trị sáng tác. Nhìn lại những tác phẩm giá trị theo lối thống kê, có thể nói, tác phẩm giá trị nằm trong đoạn từ trung dung đến khó hiểu. Càng đến gần khó hiểu càng có giá trị.

Khó hiểu ở đây có nghĩa là có nhiều cách hiểu, nhiều tầng lớp để hiểu, có rộng có sâu để hiểu. Không có nghĩa là làm khó khăn cái hiểu. Nhiều cách hiểu như công án Thiền. Nhiều tầng lớp để hiểu như truyện Kim Dung. Bề rộng để hiểu như Chiến Tranh và Hòa Bình của Leon Tolstoy. Bề sâu để hiểu như Lá Cỏ của Walt Whitman….

Và dĩ nhiên như chuyện thường tình là những tác giả cho rằng sự khó hiểu cần thiết cho tác phẩm nhưng lại lầm lẫn sự khó hiểu theo lối sáng tác biểu diễn.

Người ta kể lại một câu chuyện xảy ra ở thành Athènes dưới thời đại văn minh của Hy lạp. Có một lực sĩ từ thành Sparte tới Athènes và biểu diễn, có tài đứng trên một chân lâu hơn mọi người. Quả thật, anh ta đã bỏ nhiều thời giờ luyện tập. Tạo ra một sức khỏe tốt. Sức chịu đựng bền bĩ. Hơi thở điều hòa không mất thăng bằng. Anh có thể đứng trên một chân giờ này qua giờ kia mà vẫn đứng vững vàng. Người qua đường hết sức thán phục. Có người ca ngợi không tiếc lời. Một nhà hiền triết đi ngang qua thấy đám đông tụ tập, bèn ghé vào xem. Ông lớn tiếng nói rằng, thật uổng phí tài năng. Một con ngỗng không cần luyện tập vẫn đứng được trên một chân, còn giỏi hơn anh ta.

Nếu mục đích của thể dục thể thao không phải là biểu diễn thì làm nghệ thuật có cần phải biểu diễn không?

 

Biểu diễn? Biểu diễn như thế nào?

– Biểu diễn thật là trình diễn một điều gì phát xuất từ tài năng thật sự.

– Biểu diễn lòe là trình diễn một điều gì mà không có tài năng thật sự hoặc vì mục đích lợi ích khác.

– Biểu diễn cần phải đúng chỗ, đúng thời, đúng việc. Nghệ thuật không có chỗ cho biểu diễn lòe và biểu diễn thiếu khả năng.

– Biểu diễn cao độ, quá độ, cực đoan thường rơi vào cụm từ "lập dị". Lập dị chỉ cần thiết khi nó là con đường khai phá với tâm huyết, với tài năng, hoặc với một lý thuyết vững vàng. Lúc đó, lập dị không còn là lập dị mà là một con đường mới, một sáng tác mới, một học thuyết mới. Ví dụ như phái DaDa là lập dị mà phái Siêu Thực, từ DaDa, lại là học thuyết sáng tạo.

Lập dị để gây sự chú ý và không có tác phẩm giá trị để chứng thật thì lập dị này sẽ không có đời sống lâu dài. Tự trong thâm tâm của mỗi tác giả, sẽ biết mình có ý đồ gì nơi tác phẩm.

Sáng tạo và sáng tác lúc nào cũng có sai lầm, lúc nào cũng bị tương tranh với sân si nhưng nghệ thuật phát ra từ bản ngã của người nghệ sĩ chân chính sẽ loại trừ dần những sai lầm kia. Creativity is allowing yourself to make mistakes. Art is knowing which ones to keep. (Scott Adams).

Trước hết là tài năng và tài hoa có chỗ khác nhau. Có tài hoa mà thiếu tài năng thì nghệ thuật tuy bay bướm mà cạn sớm. Có tài năng mà thiếu tài hoa thì nghệ thuật chỉ có thể đạt đến mức cao mà không đạt được sự bay bổng. Tài năng không phải là kiến thức, cũng không phải là kinh nghiệm, mà là khả năng tiêu thụ, tái tạo kiến thức và kinh nghiệm. Nói một cách khác là khả năng học hỏi và khả năng sử dụng những học hỏi.

Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh – Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư nhìn cốc nước tràn cho đến khi không nhịn được, bèn lên tiếng: – Nó đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!

– Thì cũng như chiếc cốc này. Nan-In thong thả nói, ông đã mang đầy tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không cạn cốc của ông?

Tài hoa thường cất cánh tài năng để trở thành kỳ tài. Nếu không, thì công phu là một cách cho tài năng đạt đến nghệ thuật có giá trị. Cả hai đều đòi hỏi sự trung thực và trực giác sáng tạo của và về thẩm mỹ

Nếu ai đến thăm thiền viện Obaku ở Kyoto đều nhìn thấy một bảng gỗ khắc chữ đại tự "Nhất Ðế" trên cổng. Ðối với người biết thưởng thức lối viết chân phương ai cũng đều tấm tắc khen ngợi là một tuyệt tác. Nó được viết bởi thiền sư Kosen hai trăm năm trước.

Thực ra ngài viết trên giấy, rồi nghệ nhân mới dựa theo khắc trên gỗ thật lớn. Khi Kosen viết thảo thì một thiền sinh đã đứng bên cạnh mài cả hàng mấy hủ mực lớn tướng, và cũng bạo dạn không ngừng phê bình lối viết của sư phụ.

– Chưa được, thiền sinh thưa với Kosen sau bản thứ nhất.

– Cái này thì thế nào?

– Còn kém, tệ hơn bản trước nữa, đệ tử phê.

Kesen kiên nhẫn viết bản này qua bản khác cho đến khi đếm được tám mươi tư bản với chữ "Nhất Ðế" chồng chất mà đệ tử vẫn chê. Ðến một lúc thiền sinh trẻ kia bước ra ngoài trong chốc lát, Kosen nghĩ: "Bây giờ là lúc ta thoát ra khỏi cái dòm chừng của nó," và ngài phóng bút viết liền tay với tâm thơ thới chữ "Nhất Ðế." Quay vào, nguời đệ tử reo lên: – Tuyệt tác.

 

(Phần 2 sẽ tiếp nối vào ngày 11/1/2012)

bài đã đăng của Ngu Yên


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Có thể xác định trên căn bản, nếu không hiểu thì không thể cảm. Như vậy lý luận này phải chuyển sang: Nếu hiểu đại khái nhưng với một sức nhạy cảm cao hoặc trực giác sắc bén thì có thể cảm được một bài thơ khó, một sản phẩm nghệ thuật cao kỳ. Bạn nghĩ sao?(NY)

    + Nhà văn Võ Phiến có kể lại câu chuyện sau đây trong tác phẩm biên khảo văn học Miền Nam của ông. Đó là một cuộc hội luận nhỏ, tại tòa soạn báo Bách Khoa thì phải. Khi ấy nhà văn hồ Hữu Tường nói đại ý: “Văn nghệ nên mang đặc tính trị liệu (healing)”. Và nhà văn Nhất Hạnh cũng đồng quan điểm đó. Ông T.N Hạnh có mở rộng thêm ý nghĩa qua triết lý Phật Giáo về “trị liệu”. Nhà văn Trung Hoa, Kim Dung viết về sự trị liệu cúa âm nhạc trong tác phẩm Tiếu Ngạo Giang Hồ, không phải là huyễn tưởng. Đó là sự thật.

    + Nhà văn Bình Nguyên Lộc thì cho rằng người viết cần cảm hứng, nhưng mà cảm hứng có thể do mình tự tìm ra được. Ông đưa thí dụ: Một ngày chủ nhật đẹp trời, đạp xe đạp đến một viện dưỡng lão trò chuyện, an ủi, làm việc giúp đở những người già cô đơn… biết đâu sẽ đem lại sự cảm hứng cho một truyện ngắn.

    + Học giả Nguyễn Hiến Lê đã đặt tên một cách khéo léo những tư tưởng gia cổ điển Trung Hoa: Khổng Tử là nhà giáo, Lão Tử là nhà đạo đức, Mặc Tử nhà tu, Mạnh Tử chính trị gia, Tuân Tử là tay hùng biện triết gia, và Trang tử là nghệ sĩ.
    Ông N.H Lê không nói đùa. Những tác giả này ông đều có sách biên khảo về họ thật hay.

    + Khổng Tử là nhà giáo. Mà lạ thay, ông lại bàn về Kinh Thi, Thơ Ca, khá nhiều. Khổng Tử chủ trương Lễ Nhạc điều tiết và điều hòa xã hội. Nhưng ít ai để ý, Lễ Nhạc là dụng. Chính Thi Ca mới là thể. Hưng ư Thi. Hứng khởi là từ Kinh Thi, Thơ Ca. Câu này có 2 vế, người làm thơ cần cảm hứng. Cảm hứng thơ phải truyền được qua người đọc thơ.

    + 興 hưng, hứng
    Chữ hưng ám ảnh tui lâu dài. Hưng cũng đọc là hứng, cảm. Nghĩa nó là dấy lên, cất lên. Chỉ sự động. Sự phục hoạt (của trị liệu).
    Tui nghĩ, người làm thơ phải có hứng cảm thật sự. Từ đó thì mới truyền được cảm xúc đến đọc giả. Hứng khởi không hẳn chỉ là niềm vui. Nếu là niềm vui, niềm vui đó không hoan lạc tanh bành. Nếu là nổi buồn, nổi buồn ấy không bủn rủn té qụy. Nếu là hờn căm, bực tức nầy chẳng bao giờ đồng thời thiêu rụi luôn tâm tư.

    Nghệ thuật nói chung là truyền được cảm xúc. Thơ nói riêng, với tui, là gây được cảm hứng đến đọc giả.

    Poetry heals the wounds inflicted by reason. Novalis
    Thi ca chửa lành vết thương do lý sự giáng xuống

    http://www.artashealing.org/ahfw3.htm

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)