Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Màu Da và Ngôn Ngữ, Nhận Định Email bài này

Về Những Vết Sẹo ….

Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đăng Thường (NDT) đã đọc và trình bày những nhận xét về bản dịch tiếng Việt của Ru. Trước hết, Ru được phổ biến qua dạng tiểu thuyết, và như vậy vẫn là fiction, chứ không hoàn toàn là một hồi ký phản ảnh 100% đời tư của Kim Thúy – vì thế coi như tác giả vẫn có “poetic license” trong việc hòa hợp hiện thực với hư cấu. Ở phần giới thiệu cho bản dịch Ru mấy hôm trước đây, có lẽ tôi đã không phân biệt rõ khoảng cách giữa tác giả và người kể chuyện, nên đã sửa lại phần này để độc giả thấy rằng Nguyễn An Tịnh không nhất thiết phải là Kim Thúy.

Để sự trao đổi được rành mạch, người dịch xin được bổ túc những câu trả lời ngay dưới những câu hỏi in nghiêng của nhà thơ NDT.

1.  (NDT) Trong đoạn thứ 3, tác giả viết:” Tên tôi là Nguyễn An Tịnh, và tên mẹ tôi, Nguyễn An Tĩnh…. Qua hai cái tên gần như nhập một này, mẹ tôi đã khẳng định cá nhân tôi như cái mầm được trổ ra từ thân bà, sự nối tiếp cho lịch sử của bà…” Nhân vật Nguyễn An Tịnh kiêm người kể chuyện như vậy là trai hay gái? Nguyễn An Tịnh hẳn không thể là “gái/nữ” vì tác giả viết tiếp: “Tôi đã có một thời sống trong hạnh phúc được rúc đầu vào bàn tay ấm của người lớn, và ba mẹ tôi biết mình được các cháu yêu khi hai thằng nhỏ hôn lên tóc ông bà…[khi còn ở quê nhà]” [Khi đã ra hải ngoại] “Mẹ tôi muốn tôi nói và luyện tiếng Pháp càng nhanh càng tốt, cả tiếng Anh nữa, vì tiếng mẹ đẻ của tôi, tuy chưa trở thành ngô nghê, đã có phần vô dụng. Năm thứ nhì ở Québec, bà gửi tôi đi học ở một trại lính chuyên dùng tiếng Anh với các học sinh dự bị quân sự.” Ngoài ra, cậu hay cô bé Nguyễn An Tịnh này có một cái nhìn phân tích rất “sâu sắc” về mọi việc. [Nhưng ở quân trường] “Tôi không hiểu tại sao tên một thằng con trai đứng cạnh tôi lại được trưởng đoàn lập đi lập lại. Tại sao hắn lại bắt tôi phải nhớ tên một đứa con trai lớn gấp đôi tầm vóc tôi. Bài học vỡ lòng trong tiếng Anh của tôi bắt đầu với câu chào, “Bái bai, thằng lỗ đít.” Lớn bắt nạt, ăn hiếp “nhỏ” tất nhiên. Hu hu.

“Nhân vật” Nguyễn An Tịnh là một phụ nữ québécoise gốc Việt. Câu văn “Tôi đã có một thời sống trong hạnh phúc được rúc đầu vào bàn tay ấm của người lớn, và ba mẹ tôi biết mình được các cháu yêu khi hai thằng nhỏ hôn lên tóc ông bà.” “Các cháu” ở đây là Pascal và Henri, hai đứa con trai của Nguyễn An Tịnh mà cô đã đề cập ở đoản văn thứ 5, bắt đầu với câu, “Số phận lưu vong khẳng định rằng các con tôi sẽ không bao giờ là những nối dài của bản thân tôi hay lịch sử của tôi. Tên chúng nó là Pascal và Henri, và chúng trông cũng chẳng giống tôi.”

Đoản văn thứ 5 cũng khẳng định giới tính của người kể chuyện, “Tình mẫu tử không đến với tôi lúc chúng rúc bú vú tôi vào 3 giờ sáng. Tình mẫu tử đến chậm, sau những đêm không ngủ, qua từng loạt tã nhớp, những nụ cười thật lòng, những hạnh phúc đến bất chợt, vỡ bờ.”

Dù sao, nhà thơ Nguyễn Đăng Thường vẫn có lý khi đặt nghi vấn về giới tính của người kể chuyện. Dưới cái nhìn của người bản xứ, một đứa trẻ Việt Nam tị nạn ở giai đoạn nhập cư, vì vấn đề bất đồng ngôn ngữ và thiếu thốn về mặt dinh dưỡng, vừa bị coi là “câm, điếc” vừa “vô giới tính” (asexual). Kim Thúy thuật lại trong một đoạn (không ở trong những đoạn đã dịch cho Da Màu):

[Bác sĩ] kéo dây chun cạp quần để khẳng định giới tính tôi thay vì hỏi thẳng tôi. Boy or girl? Tôi đã biết hai từ này. Tôi đoán có lẽ thân thể một đứa con trai và đứa con gái lên mười thoạt nhìn cũng na ná như nhau, vì tụi tôi còi cọc quá.
([Le docteur] a tiré l’élastique de mon pantalon pour confirmer mon sexe plutôt que le me demander. Boy or girl? Je connaissais aussi ces deux mots. J’imagine que la physionomie d’un garcon et celle d’une fille de dix ans devaient se ressembler énormement, vu notre maigreur.) Ru, tr. 28.

2. (NDT) Tác giả kể lể: Mẹ tôi thường nhắc đến phương châm được viết trên bảng đen trong lớp Đệ ngũ của bà ở Sàigòn: “Đời là chiến trận, nếu buồn là thua.” (nguyên tác: “La vie est un combat où la tristesse entraîne la défaite”) Ðây là một câu “phương châm” thực sự hay do tác giả “sáng tác”. Nếu thật thì cũng chẳng có giáo viên/giáo sư nào viết nó lên bảng đen, ngoại trừ những câu như “Thời giờ như thể tên bay”, hay “Thương người như thể thương thân,” “Một tinh thần tráng kiện trong một thân thể khoẻ mạnh”, vân vân, nhưng ở tiểu học.

Có lẽ đây là một “poetic license/sáng tác” của Kim Thúy—vì ngoài văn bản, chúng ta không có dữ kiện nào khác để kiểm chứng. Đồng ý với nhà thơ NDT rằng câu phương châm này, nếu “có thật,” thì thông thường được viết trên bảng đen ở cấp tiểu học, chứ không ở trung học.

3. (NDT) “Mới đây, ở Montréal, tôi thấy một bà nội Việt Nam hỏi đứa cháu trai vừa tròn tuổi: “Thương Bà để đâu?” Đứa bé đặt bàn tay lên đầu nó. Tôi quên bẵng cử chỉ mà chính tôi đã làm hàng nghìn lần hồi còn bé”. Xin hỏi: Ðứa bé trai “vừa tròn tuổi” mà đã biết nghe và phản ứng? Tác giả Kim Thúy hay nhân vật kể chuyện đã làm cử chỉ đó “hàng nghìn lần hồi còn bé” thật à?

Theo kinh nghiệm làm mẹ của chính người dịch thì một đứa bé tròn năm, tuy chưa biết nói, đã biết nghe và phản ứng bằng cử chỉ hoặc dáng điệu, nếu đã “được” người lớn luyện nhiều lần như chó của Pavlov. (Con gái đầu lòng của người dịch, lúc mới 6 tháng và vẫn còn được bế, đã biết khoanh tay cúi rạp đầu chào khách sau nhiều lần nghe bà ngoại nhắc đồng thời ra dấu “ạ đi con.”)

4. (NDT) “Họ cũng niêm đóng tủ gương lớn mà bà ngoại tôi và sáu người con gái của bà đã dùng đựng xú chiêng, nhưng họ không ghi xuống những gì có trong tủ gương ấy. Tôi đoán chắc anh công an trẻ bị bối rối khi tưởng tượng ra hình ảnh những nàng con gái với bầu vú tròn trịa ngồi hồn nhiên ở phòng khách trong những bộ quần áo lót gợi cảm may bằng soie Pháp. Tôi đoán có lẽ anh ta đã để trống trang giấy kiểm kê ấy vì đã quá chấn động bởi sự thèm muốn, nhưng tôi lầm: cho đến lúc ấy, anh công an chưa bao giờ nhìn thấy cái xú chiêng. Anh thấy chúng giống cái đồ lọc cà phê của mẹ anh, với vải bọc quanh khung tròn bằng thiếc, nối bởi tay cầm… Tôi nghe anh kể chuyện thời còn bé với những bạn đồng nghiệp ở một góc thang lầu. Anh ta không hiểu tại sao gia đình tôi lại lưu trữ quá nhiều khung lọc cà phê cất trong những ngăn tủ áo được lót giấy mỏng. Và tại sao những khung lọc này lại đi đôi? Có phải vì ai cũng uống cà phê với một người bạn?”

Tác giả đã suy bụng ta ra bụng anh công an? Thanh niên miền Bắc ngu dốt đến thế sao? Dù sao khi làm công việc kiểm kê anh công an trẻ này cũng đã vào miền Nam/Sàigòn… khá lâu rồi?

Theo lời kể của Nguyễn An Tịnh ở đoản văn 14 thì công an đến nhà của cô vào khoảng năm 1976, “Một năm sau, bọn người trong chính quyền mới đến đòi chiếm phần nhà còn lại, và những gì lúc đó còn thuộc về chúng tôi. Công an đến trước nhà chúng tôi không báo trước cũng không có trát hoặc bất cứ lý do nào và bảo mọi người trong nhà phải tụ tập ở phòng khách.”

Đây có lẽ cũng là một giai thoại có tính cách trào lộng và apocryphal không khác gì những câu chuyện truyền miệng về kinh nghiệm “ngỡ ngàng” của lính miền Bắc khi mới vào Nam sau tháng Tư 75. Nói chung, Ru, qua tựa truyện, tự nó bao hàm một huyền thoại/sự hãnh diện về bản sắc của người Sàigòn: tuy thua trận nhưng thật ra đã chiến thắng về mặt văn hóa. Theo lô-gích thì sự so sánh giữa kích thước của xú chiêng và cái lọc cà phê cho những ly cà phê (chỉ chứa đủ ba ngụm) có phần khập khễnh. Cùng lúc, cái lố lăng của dân Sàigòn (vô tình?) được thể hiện qua chuyện gia đình của Nguyễn An Tịnh có hẳn một tủ áo chỉ để đựng xú chiêng.

Vì thiếu sự kiểm chứng và tương đồng giữa hai luồng văn hóa, văn chương của những nhà văn gốc Việt xuất bản trong Anh ngữ hoặc Pháp ngữ đôi lúc vẫn lâm vào vấn nạn/danh hiệu “exoticism.” Những gì được coi là lạ, mới, qua sự cảm nhận của văn hóa dòng chính hóa ra lại sáo mòn trong khuôn khổ văn chương Việt ngữ. Người viết gốc Việt dù sao vẫn là thiểu số trong văn hóa dòng chính, và dù muốn dù không, đương nhiên “bị” mang vai xướng ngôn viên cho cả một cộng đồng. Ru, khi viết theo xu hướng trào lộng, sentimental, dựa trên những giai thoại truyền miệng, đôi lúc suy giảm phần nào tính chất nhân chứng của tác phẩm.

Trong một đoạn (không ở trong những đoạn đã trích dịch cho Da Màu), Kim Thúy tả chuyện nhóm công an buộc tội chủ nhà “ăn cắp” con cá mà cả nhóm đã để dành cho bữa cơm tối. Khi được chủ nhà hỏi là để cá ở đâu, thì nhóm công an trỏ tay vào bồn toilet và nói, “ta mới thả con cá vào đây buổi sáng nay, lúc đó nó còn bơi quậy, sống nhăn mà bây giờ nó đi đâu rồi.” Tác giả sau đó kết luận:

Nhờ con cá, chúng tôi đã có sự cảm thông. Ba tôi tức thì “ô nhiễm” [nhóm công an] bằng cách cho họ nghe lén những bản nhạc. Tôi ngồi dưới ghế piano, trong bóng tối, nhìn những hàng lệ chảy dài trên gò má họ, nơi các dấu vết tàn bạo của lịch sử đã rạch hằn không nhân nhượng…. Sau vụ này, chúng tôi không hiểu họ là kẻ thù hay nạn nhân. Và bọn họ cũng không rõ là họ đã giải phóng chúng tôi ra khỏi ách Mỹ ngụy hay ngược lại, chúng tôi đã giải phóng họ ra khỏi rừng rú của Việt Nam.
(
Grâce à ce poisson, nous avons pu établir une communication. Mon père les a par la suite corrompus en leur faisant écouter de la musique en cachette. J’étais assise sous le piano, dans l’ombre, à regarder les larmes rouler sur leurs joues, là òu les horreurs de l’Histoire s’etaient carrées, gravées sans hésiter. Après cet incident, nous ne savions plus s’ils étaient des ennemis ou des victimes ….Et eux ne savaient plus s’ils nous avaient libérés des Américains ou si, au contraire, nous les avions libérés de la jungle vietnamienne.)  Ru, tr. 41.

5. (NDT) Những vết sẹo sâu kín của Kim Thúy và dân tộc Việt.

“Khi tôi gặp những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu, những đứa con gái tự ý muốn có được những vết thương trên người, những đứa con gái muốn có những vết sẹo khắc mãi mãi trên làn da, thâm tâm tôi không khỏi ước ao, giá gì những đứa con gái này được gặp những đứa con gái khác cũng như chúng nó có những vết sẹo vĩnh viễn trên người, nhưng sâu kín đến nỗi mắt người không nhìn thấy. Tôi mong cả hai nhóm con gái được gặp mặt để cùng nhau so sánh: giữa vết sẹo được mong muốn và vết sẹo bị rạch trên người, giữa vết sẹo được mua và vết sẹo như giá phải trả, giữa vết sẹo hiển hiện và vết sẹo mịt mù, giữa vết sẹo ửng lên làn da và vết sẹo sâu thẳm, giữa vết sẹo như đồ trang sức và vết sẹo như bài học để đời.” (Kim Thúy/Ðinh Từ Bích Thúy)

Trước tiên xin hỏi: “vết sẹo bị rạch trên người… nhưng sâu kín đến nỗi mắt người không nhìn thấy” có mâu thuẫn hay không?

Thiển nghĩ của tôi là sự so sánh giữa hai loại “vết thương được mua như đồ trang sức” và “vết sẹo như bài học để đời” là sai bậy, nông cạn, không đúng chỗ.

Bởi lẽ, các hình xâm trên mình “những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu” chẳng phải là “vết thương” hay “vết sẹo”.

Ðại khái, không ai, không dân tộc nào độc quyền về những vết thương, vết sẹo sâu thẳm hay lộ liễu. Xin đừng tự ái tự ti, hay tự cao tự đại, bi lụy quá mức về những “vết thương”, “vết sẹo” kia. Các vết thương, vết sẹo của Việt Nam và của thuyền nhân nhờ có truyền thanh, truyền hình, báo chí, internet… nên chẳng hề sâu kín, bí mật.

scar of hiroshima victim

Như nhà thơ Nguyễn Đức Tùng đã nhận xét trong phần góp ý, “vết sẹo bị rạch trên người” là một ẩn dụ văn chương. Nguyên bản của Kim Thúy là “une cicatrice infligée” – có nghĩa là một vết sẹo bị chịu trên người—nhưng vì muốn nhấn mạnh “nỗi đau” của vết sẹo, tôi đã dịch là “bị rạch trên người.”

Tôi không nghĩ Kim Thúy “tự ái tự ti, hay tự cao tự đại, bi lụy quá mức” về những vết sẹo, mà chỉ nhận định về kinh nghiệm phổ quát của lớp người di dân – không chỉ là người Việt Nam mà có thể là bất cứ giống dân nào trên thế giới. Họ là những lớp người mang trên người nhiều vết sẹo biểu lộ hậu quả “mãn tính/kinh niên” của sự kém may mắn. Tuy “vấn nạn Việt Nam” là điều đã được phổ biến rộng rãi qua nhiều phương tiện truyền thông từ hơn 30 năm qua, hậu quả của từng trường hợp cá nhân vẫn chưa được truyền bá hay nhận thức tận tường vì nhiều lý do: hoàn cảnh, ngôn ngữ, kiến thức, giáo dục, v.v… Ở một khía cạnh nào đó, nạn nhân của thời thế vẫn mang trên người những vết sẹo, chưa được soi mói hay phân tích cặn kẽ qua văn chương, khía cạnh tâm lý học hay xã hội học.

Khi so sánh giữa vết xâm mình (tattoo) với vết thương chiến tranh, Kim Thúy ví von cách người dân ở một xứ sở tự do tư bản chủ ý thiết kế, thu thập những kinh nghiệm như một cách định nghĩa bản sắc cá nhân của họ, thay vì phải chịu đựng những biến chuyển của lịch sử. Bệnh tự kỷ (autism) cũng là một ẩn dụ văn chương mà Kim Thúy đã áp dụng trong Ru, biểu lộ trạng thái lưu vong và sự áp chế của lịch sử, làm nạn nhân bị ly thân ra khỏi môi trường sinh hoạt của xã hội giòng chính. Trong Ru, Henri, con trai của Nguyễn An Tịnh, bị bệnh tự kỷ:

Tôi không kêu la cũng chẳng khóc lóc khi người ta nói thằng con Henri của tôi bị giam hãm trong thế giới riêng của nó, khi họ xác nhận với tôi rằng nó ở trong số những đứa trẻ không nghe thấy chúng tôi, không trò chuyện được với chúng tôi, cho dù chúng nó không câm điếc. Thằng bé cũng ở trong thành phần những trẻ em cần được yêu thương từ xa, không nên ôm hôn, không nên cười đùa với chúng nó, vì [làm như vậy] mỗi giác quan của chúng nó sẽ bị tấn công tới tấp bởi mùi da thịt của chúng tôi, bởi cường độ của giọng nói chúng tôi ….
(Je n’ai pas crié ni pleuré quand on m’a annoncé que mon fils Henri était emprisonné dans son monde, quand on m’a confirmé qu’il est de ces enfants qui ne nous entendent pas, qui ne nous parlent pas, même s’ils ne sont ni sourds ni muets. Il est aussi de ces enfants de ces enfants qu’il faut aimer de loin, sans les embrasser, sans leur sourire parce que chacun de leurs sens serait violenté tour à tour par l’odeur de notre peau, par l’intensité de notre voix ….)  Ru,
tr. 17.

Bệnh tự kỷ–một biến thể của vết sẹo lịch sử — cũng được William Faulkner áp dụng trong tiểu thuyết Âm Thanh và Cuồng Nộ (The Sound and the Fury) để diễn tả hậu quả tâm lý, xã hội và tình dục gây ra bởi cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ cho gia tộc Compson, một gia tộc thuộc giới thượng lưu của miền Nam nước Mỹ. Benjy Compson, nhân vật kể chuyện, bị bệnh tự kỷ, tường thuật lịch sử gia đình không theo diễn tiến lô-gích của thời gian mà qua những vignettes của hồi ức, với màu sắc, mùi vị và cảm nhận tâm lý có nhiều tính chất thơ, hay của không gian mơ. Faulkner đã dùng ẩn dụ của bệnh tự kỷ để diễn tả sự vụn vỡ của mọi trật tự, luân lý xã hội, cũng như sự suy sụp tinh thần của người miền Nam chiến bại sau cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ.

Gần hơn với kinh nghiệm của Kim Thúy là Monique Trương, một nhà văn Mỹ gốc Việt, cũng đã viết về vết sẹo lịch sử. Monique Trương  định nghĩa vết sẹo Việt Nam như một vết sẹo vừa công khai vừa sâu kín trong bài tiểu luận Có Thực và Khiếm Khuyết (Real and Flawed), được Lưu Diệu Vân chuyển ngữ cho Da Màu số 24:

Nếu Việt Nam là một vết xâm, tôi thích nghĩ về nó như một chữ S căng giữa trũng sâu hai bầu ngực hoặc như dấu móc chung quanh chiếc rốn của tôi, một con rồng xanh tuyệt đẹp mà tôi đã in khắc nơi đó nhiều năm, một vết sẹo bí ẩn để cất dấu. Nhưng thật tình, Việt Nam lại là một chữ S in trên trán tôi, một lời mời gọi cho những ai muốn bình luận về vai trò tiến triển của đất nước đó trên vũ đài thế giới. Chữ S bắt đầu một cuộc đàm luận giữa công chúng. Nhưng tôi không phải là một chuyên gia về đất nước Việt Nam. Tôi biết quá ít tiếng Việt để chuyện trò bằng ngôn ngữ đó. Tôi không còn nhớ rõ lần cuối tôi chiêm bao bằng tiếng Việt – một biểu hiện xác thực nhất ngôn ngữ đó thuộc về bạn và bạn thuộc về ngôn ngữ đó. Tôi chỉ hình dung được rất mơ hồ về lịch sử của đất nước đó. Tôi càng mù tịt hơn về tình cảnh hiện tại. Tôi chưa lần nào về lại Việt Nam từ dạo tháng Tư năm 1975. Trước hết là bởi vì, tôi, nếu đã vơi phẫn nộ, thì cũng vẫn còn bị tổn thương vì chiến tranh đã được gây ra bởi chính quê hương mình. “Nội chiến” là một trong những nghịch lý trơ trẽn nhất trong Anh ngữ. Tôi tin rằng, cũng như những trận chiến khác, không ai là kẻ thắng cuộc, nhất là phe người Việt. Khác với những người Việt đang sống tại Việt Nam (nếu tôi tin lời tường thuật của các vị du khách tôi đã gặp), tôi là một di vật, không thể và không cam lòng, lãng quên dấu ấn đáng buồn này.

Nam Lê, một nhà văn Úc gốc Việt, viết truyện ngắn Tình Yêu và Danh Dự Và Xót Thương và Tự Hào và Cảm Thông và Hy Sinh (Love and Honour and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice) đã lấy ý từ những vết sẹo được Faulkner đề cập trong bài diễn văn nhận giải Nobel Văn Chương năm 1949. Theo Faulkner:

[M]ọi vấn nạn của trái tim con người trong trạng thái xung đột với chính nó sẽ luôn luôn là đề tài lôi cuốn vì đó là điều duy nhất đáng được viết ra, đáng được vun xới nhiều công lao và mồ hôi … Một người viết phải biết rằng điều thấp hèn nhất là sự sợ hãi; và khi đã biết điều này y phải mãi mãi dẹp nó đi; vì trong môi trường chế tạo [người viết] chỉ nên duy trì những thực thể của trái tim, những dữ liệu căn bản như “tình yêu và danh dự và xót thương và tự hào và cảm thông và hy sinh,” mà khi vắng bóng bất cứ tác phẩm nào cũng trở nên hư hao và phù phiếm …. Trừ khi biết [khai thác những dữ liệu của trái tim], người viết chỉ lao động dưới một lời nguyền. Một người viết không có đủ trái tim chỉ là một tên thợ viết về nhục dục thay vì tình yêu, hoặc về những thất bại mà chẳng ai mất mát điều gì quý giá, hay những chiến thắng vô vọng, và tệ nhất, không một chút xót thương hay cảm thông. Những nỗi đau của y [vì thế] không phải là những nỗi đau của hoàn cầu, không để lại những vết sẹo….
([T]he problems of the human heart in conflict with itself which alone can make good writing because only that is worth writing about, worth the agony and the sweat
…. He must teach himself that the basest of all things is to be afraid; and, teaching himself that, forget it forever, leaving no room in his workshop for anything but the old verities and truths of the heart, the old universal truths lacking which any story is ephemeral and doomed – love and honor and pity and pride and compassion and sacrifice. Until he does so, he labors under a curse. He writes not of love but of lust, of defeats in which nobody loses anything of value, of victories without hope and, worst of all, without pity or compassion. His griefs grieve on no universal bones, leaving no scars ….)

Trong Tình Yêu và Danh Dự Và Xót Thương và Tự Hào và Cảm Thông và Hy Sinh, Nam Lê khai phá những khó khăn của một nghệ sĩ di dân, lớn lên ngoài nước Việt Nam, có bố mẹ đã trải qua kinh nghiệm chiến tranh, trại cải tạo, và cuộc vượt biển tìm tự do. Làm thế nào để tránh chuyện khai thác tính chất exoticism của bản sắc hay quá khứ của bố mẹ mình, mà vẫn đạt được tiêu chuẩn văn chương “viết từ trái tim” của Faulkner?  Đây là một thử thách khá gay go.

Nói cách khác, điều đáng quan tâm không phải là “sự tự ái tự ti,” “tự cao tự đại,” hay “bi lụy quá mức” về những vết sẹo lịch sử, mà là cách những vết sẹo này được rao bán trong văn chương di dân của nhà văn gốc Việt. Nam Lê đã cảm thấu được vấn đề này khi phân tích chiều hướng của một nhóm người viết thiểu số, vì muốn có danh vọng, đã khai thác thị hiếu của văn hóa dòng chính bằng những công thức sáo mòn cho loại tác phẩm “da màu” của họ. Nhân vật chính trong truyện của Nam Lê, vì phải nộp bài cho khóa học viết văn, đã chủ tâm khai thác quá khứ của bố cậu vốn là một nhân chứng trong cuộc thảm sát Mỹ Lai, người bố đã chứng kiến sự tàn bạo của quân đội Mỹ với dân làng miền Nam, v.v….  Tóm lại, truyện ngắn của Nam Lê chất vấn chính cơ bản của nền văn chương diaspora: sự khai thác và rao bán những vết sẹo lịch sử sẽ biến người viết di dân thành một “ca” tự kỷ, bị ghetto-hóa bởi cách phân loại/đóng khung của độc giả dòng chính.

Tương tự, Kim Thúy đã biểu lộ nỗi sợ về bệnh tự kỷ văn hóa khi mô tả tâm trạng của một đứa trẻ di dân, như Henri “không điếc và cũng chẳng câm, [nhưng] đã mất đi mọi điểm tựa, mất hết mọi phương hướng ….” Tuy Ru đôi lúc cũng mắc phải những cliché, phần lớn giọng văn Kim Thúy là một giọng văn đặc thù, biết thao tác tính chất không ổn định của ngôn ngữ như một cách phá vỡ sự cô lập của văn hóa và lịch sử. Ru ám chỉ một bài hát dỗ ngủ, một dòng suối nhỏ (ruisseau), và tùy cách phiên âm địa phương của người Việt, sẽ là joue – gò má, động từ chơi (ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba) trong tiếng Pháp, hay du— hành trình phiêu lưu, khai phá và sáng tạo.

Hy vọng những điều thảo luận ở trên đã đáp ứng phần nào những quan tâm của nhà thơ Nguyễn Đăng Thường cùng quý độc giả.

Trân trọng,

Đinh Từ Bích Thúy
08-29-2011

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


3 bình luận »

  • phạm thị thanh viết:

    Xin mời xem phỏng vấn tác giả Kim Thúy về quyển sách “Ru” do đài truyền hình TV5 của Pháp thực hiện. Theo tôi, đây là trả lời trung thực nhất

    http://www.tv5.org/TV5Site/webtv/video-7140-L_ecrivaine_Kim_Thuy_raconte_l_exil_et_l_immigration_des_Vietnamiens_au_Quebec.htm

  • black raccoon viết:

    Nói cách khác, điều đáng quan tâm không phải là “sự tự ái tự ti,” “tự cao tự đại,” hay “bi lụy quá mức” về những vết sẹo lịch sử, mà là cách những vết sẹo này được rao bán trong văn chương di dân của nhà văn gốc Việt. (ĐTBT)

    Tui nhớ cách đây cũng khá lâu, tui có đọc trên báo chí bản tin ngắn về một vở diễn nhạc kịch “Bích Câu Kỳ Ngộ” do người Nhật biên soạn và dựng, tại Nhựt cho dân Nhựt xem. Lần đó, tui đã nêu ý kiến với một vài bạn hửu: Phải chăng người Nhựt chuộng Thần Đạo nên họ ngộ ra cái Thần trong Bích Câu?

    Tui thấy là trong huyền thoại, cổ tích Việt Nam, nói chung là các lĩnh vực bề sâu tâm thức dân tộc, có thật nhiều chi tiết. Những chi tiết vượt không thời gian. Dĩ nhiên, cần bàn tay của những nghệ sĩ mới làm bật dậy nổi. Hợp hòa cùng với thời đại.

    Như một thí dụ, truyện “Tiên Dung với Đồng Tử” của VN đó. Tự Do. . Luyến Ái. Độc lập…

    Người Việt mình tự ti quá. Hay là Bụt chùa nhà không thiêng?

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    Cám ơn nhà văn Ðinh Từ Bích Thúy đã giải đáp.
    Kim Phúc mà được các vết sẹo sâu kín của Kim Thúy thì đỡ khổ biết mấy.
    Tuy nhiên được voi không nên đòi tiên :-)))
    Thân ái.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)