Trang chính » Học Thuật, Lịch Sử Email bài này

Sơ thảo: Bài Sử Khác cho Việt Nam – Chương XVII

 

 

 

CHƯƠNG XVII:

THỜI MỚI DƯỚI TAY NGƯỜI KHÁC: THUỘC ĐỊA VÀ VƯỢT THOÁT

 

La Cochinchine francaise / Nam Kì thuộc Pháp với thế lấn lướt của một nền văn minh mới

Có ý kiến cho rằng khởi thuỷ việc chiếm Nam Kì cũng chỉ là giải pháp tình thế của đội liên quân Pháp Tây Ban Nha đang lúng túng ở Đà Nẵng năm 1859: Trên bộ thì họ không thể tiến đến Huế vì đường đất khó khăn, không có dân đạo hưởng ứng như các giáo sĩ từng đoan chắc; muốn ra Bắc, nơi có nhiều dân đạo họ mong bảo vệ thì lại gặp mùa gió ngược. Chỉ còn địa điểm Gia Định sông rộng nước sâu, vị trí gần gũi với các địa điểm giao thương phồn thịnh đương thời mà các sĩ quan hải quân xa xứ thấy là quen thuộc. Tuy nhiên dù thế nào thì sự chiếm đóng cũng đã xảy ra, việc giữ gìn đất mới đi theo với ý định phòng thủ, cứ từng bước sẽ dẫn đến những tổ chức đặt căn bản cho sự cai trị lâu dài về sau. Cho nên ngay lúc toan tính đưa phái đoàn Phan Thanh Giản đi Pháp xin chuộc đất, triều đình Huế cũng đã thấy đất Gia Định mà người Pháp “mới dựng nên đã thành cơ chỉ rồi”… Và chính sự chiếm lĩnh đầu tiên và thời gian cai trị lâu dài tiếp theo dưới quyền các sĩ quan hải quân chuyển thành nhân viên hành chính đã góp phần ảnh hưởng đến việc phần đất này của Việt Nam phải mang cơ chế riêng biệt trong vùng thuộc địa của Pháp để mang tên Cochinchine francaise / Nam Kì thuộc Pháp.

Lúc khởi đầu thì cũng như ở những cuộc chiếm đóng khác, điều quan trọng là việc giữ gìn an ninh cho đội quân trên đất lạ, đầy thù nghịch. Cho nên muốn khỏi gây xáo trộn, Phó Đô đốc Bonard kí nghị định 19-3-1861 giữ nguyên tình trạng đồn điền, đến khi gặp trường hợp Trương Định và Tri huyện Đỗ Trình Thoại đánh úp Gò Công (22-6), Charner lại phải kí nghị định giải tán chúng (22-8-1861). Tiếp theo kinh nghiệm đó, khi chiếm Miền Tây, De la Grandière liền ra lệnh chuyển đổi các đồn điền nơi đây thành các làng xã mới. Không đủ quân chiếm đóng, người Pháp lập thêm các toán quân phù trợ bản xứ để giữ an ninh trật tự, phụ giúp trong các cuộc hành quân lấn chiếm, chống đối nổi loạn. Từ đó nảy sinh những tên tổ chức quân đội quen thuộc kéo dài mãi suốt thời ngoại trị: lính tất tập, lính tập, lính mộ partisan, lính mã tà (cùng tên nhưng khác với các toán matamata người Phi, phụ lực của quân đội Tây Ban Nha lúc đầu). Trừ súng đạn mới, dồi dào hơn người lính của triều đình Huế, tổ chức lính mới vẫn còn có dạng bản xứ: đơn vị là Đội 50 người, trang phục màu mè, nhiệm vụ bắt lính, điền thế, nuôi lính là của làng, lính thay phiên tập luyện theo kiểu chia “ban” cũ… Với thời gian, loại lính mới này đã có số lượng khá lớn như trong cuộc tấn công Đồng Tháp (28-3-1866) có cả 1000 “lính tập và Mả tà”. Trong chiến dịch chiếm ba tỉnh Miền Tây, De La Grandière cũng đã huy động đến cả ngàn người. Tiếp theo là những người lính “viễn chinh” Bắc Kì của các chiến dịch 1874, 1883-1985.

Chính từ đây đã xuất hiện ba nhân vật nổi tiếng ở địa phương – tiếng xấu đối với quốc gia bị đô hộ nhưng là “người của thời đại”, của thế giới mới, hãnh diện với “cấp bằng của Đại Phú Lãng Sa Hoàng đế”. Huỳnh Tấn, người bắn chết Trương Định, độc nhất được Pháp cho mang chức Lãnh binh của thời Đàng cựu, võ biền thô lỗ, không thể tiến thân hơn nhưng để lại người con Huỳnh Minh trong “thơ” Cậu Hai Miêng như một chứng cớ về sinh hoạt thời mới, lạ lùng dưới mắt người bình dân đương thời. Trần Bá Lộc, hăng hái tìm đường tiến thân trong các chiến dịch chống đối người kháng chiến, có đủ ranh ma để thấy nhu cầu của chủ mới mà vượt khuôn khổ quy định, lãnh việc tổ chức quân riêng, đúc ấn Tổng đốc Khánh Thuận quan phòng, in danh thiếp “Khâm sai”, dẫn người đánh quân Cần vương đến tận Phú Yên, Bình Định. Không dừng lại ở vai trò quân sự, ông nhận cầm đầu một “Uỷ ban nghiên cứu luật bản xứ”, lại thấy rõ ưu thế khai thác ruộng đất trên vùng đất rộng mênh mông này nên đã chủ trương đào con kinh lớn đương thời xuyên qua Đồng Tháp Mười, gây thán phục cho cả người Pháp, được lưu giữ với tên Kinh Tổng đốc Lộc cho đến trước 1975. Cũng với hàm Tổng đốc độc nhất cho hai người hợp tác, là Đỗ Hữu Phương, Hộ trưởng một khu phố Chợ Lớn (1865), chiếm Bà Điểm trong tay Trương Quyền (con Trương Định), bày mưu hiến kế đánh Nguyễn Trung Trực, uyển chuyển thu phục Nguyễn Hữu Huân, cho người Pháp thấy ra hình dạng một “trí thức” theo kịp thời đại. Ông dự Đấu xảo Pháp 1878, vào dân Tây (1881) mở đường cho hai người con làm “trung tá trẻ tuổi nhất của quân đội Pháp”, phi công bản xứ đầu tiên của Đông Nam Á.

Để nắm quyền sâu sát hơn, người Pháp chia vùng đất chỉ có “sáu tỉnh” về trước: Nam Kì Lục tỉnh, thành 20 đơn vị nhỏ mang tên Quận/Hạt (Arrondissement), rồi cuối cùng cố định là Tỉnh (Province). Đứng đầu tỉnh tất nhiên là người Pháp, phần lớn lúc đầu là các sĩ quan hải quân chuyển ngành, làm Giám đốc Bản xứ vụ, dưới quyền một Giám đốc Tối cao, tất cả như một hệ thống quan lại mới theo một chế độ do các Đô đốc thay nhau chỉ huy, làm “Toàn quyền”, được gọi nôm na là Soái phủ Nam Kì. Với kinh nghiệm lấy từ thuộc địa Algérie, trong một khoảng thời gian ngắn, Bonard áp dụng chính sách cai trị gián tiếp qua các nhân viên bản xứ. Các chức danh cũ được đặt lại để trực tiếp trông coi dân chúng, theo kinh nghiệm của guồng máy cai trị Đàng cựu, trên có các sĩ quan Pháp làm nhiệm vụ thanh tra. Thí nghiệm không thành công vì các quan triều đình Huế bất hợp tác hay chống đối, người được bổ nhiệm xuất thân thấp kém, hãnh tiến nên không có uy tín với dân chúng, còn thành phần hợp tác quan trọng lúc đầu là các giáo sĩ cũng phản đối vì sợ trở lại chế độ mà họ phải chịu đàn áp trước kia. Thế là phải thành lập chế độ trực trị dưới quyền các viên thanh tra người Pháp, được hệ thống hoá năm 1863 với chức danh Thanh tra bản xứ vụ (ba thanh tra hành pháp, tư pháp, tài chính mỗi tỉnh), có quyền hạn rất lớn. Một Nha Nội vụ được thành lập ở Sài Gòn năm 1864 lo sắp xếp việc cai trị, mở trường dạy chữ quốc ngữ, chữ Pháp, ban hành thuế lệ… Tuy nhiên vấn đề lại là sự kiến hiệu của tổ chức.

Cai trị gián tiếp qua các nhân viên, tầng lớp thượng lưu bản xứ mang các chức danh mới hay có biến cải (Huyện, Phủ, Đốc phủ sứ…) thì nhẹ gánh vì tránh được tình trạng hỗn loạn do người Pháp không thông hiểu ngôn ngữ, phong tục địa phương. Bonard đã khuyến dụ dân Nam Kì là họ trung thành với Pháp vẫn không trái với lí tưởng trung quân vì “cũng như người con gái theo chồng mà không phủ nhận cha”. Dưới thời ông có một ít người thân cận cố gắng thâm nhập xứ sở họ đến cai trị như Aubaret dịch Gia Định thông chí Hoàng Việt luật lệ, Philastre chú giải bộ luật Gia Long, Luro nghiên cứu xã hội Việt Nam, Landes nghiên cứu ngôn ngữ, truyền thuyết Chàm và Việt… Một khi chuyển qua chế độ trực trị, sự lạm dụng quyền hạn đi theo với tình trạng không thấu hiểu lớp người bị trị đã khiến người Pháp phải chịu những cuộc nổi dậy liên tiếp qua các năm 1872, 1873, 1874… Sự bất mãn cũng xảy ra với cả những người hợp tác. Giám đốc Nội vụ Nam Kì phải hăm he Huỳnh Tấn vì ông “général” / lãnh binh này đã lên tiếng mắng mỏ Tham biện Bến Tre là “quan coi binh, chưa từng biết đến việc dân, cho nên ra việc quan, làm thì làm bậy, nói thì chẳng thông sự lí bằng dường như kẻ ngu si dốt nát…” Và thế là đến năm 1873, lớp sĩ quan biệt phái được thay thế bằng các công chức hành chính thực thụ trải qua thời gian học tập ở trường Tập sự (Collège de Stagère) để làm quen với khía cạnh văn hoá Việt Nam.

Những cuộc chống đối vẫn tiếp diễn, lúc đầu là vì tinh thần yêu nước, chống người dị chủng, tả đạo, vì tuân lệnh triều đình, về sau được nuôi dưỡng tiếp tục vì những cải cách của người Pháp động chạm đến chính sinh hoạt bản thân, có khi vẫn không thích ứng được với thời mới. Và đúng là có một thời Đàng Cựu tưởng chừng không thể trở lại mà vẫn đang hiện diện ở phía bắc không xa, với người đồng chủng, với triều đình vua quan nên còn gợi tiếc nuối ước mơ. Cựu quan chức chống đối bị dập tắt hay bị ngay chính triều đình dưới áp lực Pháp, bỏ rơi, kẻ cố cùng đơn độc hành động hi sinh (Trương Định, Tri huyện Thoại…), người bỏ đi “tị địa” trên phần đất Bình Thuận giáp giới, với hi vọng gần gũi nơi cũ sẽ trở về (Phan Trung được Tự Đức che giấu, và Võ Duy Dương rủi ro hơn, chết giữa biển…) Hết quan chức thì đến những người dân vô danh, đi theo những tin tưởng thần bí tại chỗ, với thời Nguyễn là của những “gian đạo sĩ”, với thời mới thì tính cách tôn giáo khép kín lại dung chứa thêm những dạng hình chống đối ngoại di, kẻ xâm lược, nổi bật ở khu vực Miền Tây là truyền thống Bửu Sơn Kì Hương. Nhóm Tứ Ân Hiếu Nghĩa được cho là có lãnh tụ Ngô Lợi (1831-1890) lẩn trốn dai dẳng nhưng cũng tạo chiến tích cho Trần Bá Lộc huênh hoang: “Thầy vãi Thất Sơn đều trốn sạch”. Lại cũng không thiếu cả những kẻ thấy thời thế là dịp đạt mộng công hầu, liền tự xưng với chức danh cao cấp Đàng cựu (“Tổng binh, Thống quản đầy tràn”), ban phát “bằng cấp” cho những người hưởng ứng, quấy rối làng xóm, “nào ai mở miệng dao phay chém bằm”, che chắn hành động cướp bóc bằng chính nghĩa vì dân vì nước. Những người đó, khi trở cờ theo Pháp, cũng sẽ làm luỵ không ít cho ông chủ mới.

Tuy nhiên sự chống đối thất bại của tầng lớp quan lại và sĩ phu cũng khiến người cai trị mới thoát được cách thế tiếp xúc qua văn tự (Hán) một chừng mực để đến thẳng với người dân qua tiếng nói bản xứ. Trong trường hợp này thì người cầm quyền đã có sẵn thứ chữ biểu âm do giáo sĩ đưa lại nên dễ dàng học hỏi và buộc người dân học hỏi để làm phương tiện truyền đạt mệnh lệnh trong thời mới. Chữ “quấc ngữ” biểu hiện tiếng Việt bằng văn tự La tinh như thế, lúc đầu, chỉ mang chừng ấy tác dụng chứ chưa cho thấy là một phương tiện đảo lộn văn hoá to lớn như sẽ tỏ rõ theo với thời gian. Chính sách lúc đầu vẫn là mang tính cách thuyết phục, tờ Gia Định báo (1865) là một thứ công báo viết bằng thứ chữ mới, thực hiện ước mơ của triều đình Huế khi nghe nói đến tờ báo tương tự của triều Thanh dành cho dân Trung Quốc. Thế rồi Nghị định 6-4-1878 buộc từ đầu năm 1882 các công văn tiếng Việt phải viết bằng chữ quốc ngữ. Tình trạng chuyển hoá văn tự đã phát sinh một phó sản không ngờ: Tỉnh Vĩnh Long mở trường dạy thứ chữ mới (1869), làng xã cấp tiền cho người đi học để đủ học sinh theo quy định, đã mở đường thăng tiến cho một lớp người cùng khổ của xã hội cũ đi vào giai tầng cai trị mới. Về sau rất lâu, người ta vẫn nhớ có những ông Đốc phủ sứ gốc là chăn trâu của những điền chủ trung thành với Đàng Cựu, sợ đổi thay. Có lẽ cũng cùng nguồn gốc nhưng được che chắn kĩ vì danh vọng cuối cùng quá cao, là ông Phủ / Đốc phủ mở đạo Cao Đài. Và những Đốc phủ sứ tương tự gốc Miên, không những được thoát tiếng Di Man thời cũ mà còn khiến cho cả tập đoàn người Khmer Krom trong vùng đã sáng giá hơn đồng chủng ở chính quốc, từng cung cấp các nhân vật chính yếu cho nước Kampuchia ngày sau: Sơn Ngọc Thành, Sơn Ngọc Minh, Ieng Sary mang họ Kim của Minh Mạng ban cấp…

Trên bình diện văn hoá tổng thể thì vai trò chính thức của chữ quốc ngữ đã làm một bộ phận lớn của dân chúng đoạn tuyệt với quá khứ như mong muốn của một số nhà cai trị ranh ma sâu sắc. Một thứ nền văn học quốc ngữ thành hình trên đất Nam Kì với bản truyện Kiều dạng chữ mới (1875, cùng lúc với Đại Nam quốc sử diễn ca) trong lúc nó vẫn còn đang được khắc trên khung gỗ ở phía Bắc, rất lâu về sau! Khuất lấp hơn, bản văn Thơ Nam Kì và Thơ tiếp theo thơ Nam Kì (1876) làm việc phóng sự bằng chữ mới, để lại chứng cứ lịch sử về việc mất Sáu tỉnh, sớm hơn Hà Thành thất thủ hay Vè thất thủ Kinh đô. Và không phải chỉ là chuyện chuyển đổi văn tự. Có cả một tinh thần văn hoá, xa lạ với khuôn khổ cũ trong việc phổ biến trung thực bản văn, sự kiện, không sửa đổi, phổ biến y như nó đã xuất hiện, được ghi chép bởi người khác xứ. Ta thấy ở đó có một chút gì ngây thơ, ngờ nghệch, không nệ phải bày tỏ những điều “nhạy cảm” trái thời thế, động chạm đến quyền lực đang ngự trị, có thể gây dao động về đường lối hợp tác của cả người sao lục. Những ngự sử văn đàn đầy xúc động cao cả về sau có mắng chửi Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, có ca tụng Nguyễn Đình Chiểu hẳn cũng chỉ có thể lấy từ bản văn, ví dụ Văn tế vong hồn mộ nghĩa / Văn tế ngãi sĩ Cần Giuộc của Đồ Chiểu, của những người “hợp tác” đó mà thôi.

Nhưng thoát ra ngoài vết mòn ngàn năm, lúc này không phải chỉ vượt qua kinh sách mà còn là cả một hệ thống cai trị dựa trên kĩ thuật, công nghệ mới. Súng đạn công phá hiệu quả, tàu chiến rầm rộ có gây thêm tinh thần kháng cự trong tủi nhục thì cũng tạo được một lớp người không phủ nhận được rằng có một thời thế khác, có uy lực hơn. Vừa chiếm Gia Định, Pháp đã bỏ lệnh cấm xuất cảng gạo của triều đình Huế, mở cuộc đấu xảo trưng bày sản vật địa phương (1866), thông báo phổ biến luật kinh doanh (1869), mở đường cho việc kinh doanh lúa gạo ở Nam Kì, tạo cơ hội cho người Hoa mở nhà máy xay xát (1876) làm đà cho độc quyền càng lúc càng lớn của tập đoàn này. Và từ đó cũng thấy thấp thoáng quyền lực của người Hoa, cả từ tận đáy tầng xã hội với các hội kín chân rết từ chính quốc nay thêm những vặn vẹo ẩn ức của đời sống lưu vong, toả rộng bứt phá trên đất mới. Bưu điện Sài Gòn thành lập kéo theo sự xuất hiện của con tem đầu tiên (1863). Mới chiếm Vĩnh Long một năm đã có thông cáo về việc kiểm tra trâu bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh… mở đường cho ý hướng tổ chức vệ sinh y tế khoa học. Ý tưởng làm đường sắt từ Sài Gòn, dự tính năm 1874 sẽ thực hiện với lần khánh thành năm 1885. Tư bản tài chính cũng hiện diện rất sớm với sự thành lập Ngân hàng Đông Dương (1873) rồi sẽ vươn cánh tay quyền lực ra toàn vùng, đi theo với đà chiếm lĩnh thuộc địa của các quân nhân, chính khách.

Tất cả nền tảng cai trị thuộc địa đều đã hiện hình trên vùng đất chiếm đóng để lan toả ra, chuyển đổi theo với tình hình mới, đi theo đoàn quân viễn chinh, theo chân các chính khách tràn ra phía bắc, dời đổi trục trung tâm của thuộc địa với tính chất phức tạp hơn… Từ 1879 Nam Kì có sự chuyển tiếp từ quyền hành quân sự qua chế độ dân sự với Thống đốc Le Myre de Viliers (7-7-1879). Cơ quan quyền lực cao nhất được dịch văn vẻ là Soái phủ Nam Kì. Nha Nội vụ được gọi với cái tên Toà Bố, có ông Giám đốc mang chức danh xưa cũ trong các văn thư “Tư Thừa Chánh Bố / Phó Bố quan…” Các chức danh trên cấp tỉnh qua bao đổi thay với danh xưng khác nhau: Directeur / Inspecteur des Affaires Indigènes… như đã thấy, vẫn được gọi là Tham biện, Tham biện Chủ tỉnh… Với thời gian, tính chất Pháp hoá, dễ thấy ở đây hơn so với các vùng Trung Bắc, đã tăng thêm dáng vẻ riêng biệt cho vùng đất cuối phương nam này, nơi còn nổi bật một dạng hình melting-pot, lặng lẽ mà sôi sục tràn đầy khi xuất hiện nơi các giáo phái.

 

Ba Kì trong hệ thống thuộc địa Đông Pháp

Hiệp ước 1874 mở đường cho chế độ Bảo hộ của Pháp vẫn chưa có tên đó. Tuy nhiên với thế yếu của triều đình Huế, chút quyền còn lại của Việt Nam nằm trong các hiệp ước vẫn lần lần bị tước đoạt. Ngay sau khi Kinh đô thất thủ, các tỉnh Trung Kì có những người Pháp đại diện chính quyền bảo hộ được gọi là Công sứ, nắm thực quyền trong vùng. Năm 1887, Liên hiệp Đông Dương thành lập bao gồm thuộc địa Nam Kì và hai nước bảo hộ Việt Nam và Cao Miên (sáu năm sau thì thêm Lào). Qua năm 1888, phần thuộc địa lại có thêm ba địa điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Chức Kinh lược Bắc Kì đặt năm 1886 cũng sẽ bị bãi bỏ năm 1897 khiến cho Bắc Kì thành một thứ “bảo hộ” khác với Trung Kì, để hai viên chức Pháp cầm đầu tuy cùng có tên Résident Supérieur mà tên Việt lại khác: Thống sứ cho Bắc Kì và Khâm sứ cho Trung Kì – “Khâm” sứ chỉ là tên mang sĩ diện hão với ý rằng còn thuộc quyền vua Việt bổ nhiệm! Và tất cả đều dưới quyền một viên chức tối cao của chính phủ Pháp có tên là Toàn quyền, trực thuộc Bộ Thuộc địa. Có nghĩa là vua Việt Nam từ nay phụ thuộc một viên chức của Bộ Thuộc địa Pháp. Tiến trình lấn át lúc đầu như thế khiến ta hiểu được những chống đối quân sự của dân chúng, quan chức cũ có tên là Phong trào Cần vương, Văn thân mà đại biểu cuối cùng là quan Đình nguyên Phan Đình Phùng ở Vụ Quang (Hà Tĩnh) kéo dài đến khi chủ tướng tử trận (1895).

Văn thân tàn tạ bên trong, phải chuyển sự hướng vọng về bên ngoài theo tinh thần đồng văn, đồng chủng nơi ngôi sao Á Đông vừa nổi trên chính trường có dạng quốc tế hoá là nước Nhật. Có thể nói Phan Bội Châu là nhân vật văn thân – cần vương quá mùa, phản ứng đối với buổi đầu thành hình cơ cấu thuộc địa Đông Dương. Ý định cầu cứu nước Nhật, tôn phù Cường Để nằm trong tiến trình hợp lí của kết quả đào tạo cá nhân con người lãnh đạo phong trào Đông Du đó. Thời thế kết hợp được sự hưởng ứng nồng nhiệt hơn ở vùng Nam Kì, nơi sự cắt đứt với đất Mẹ đã khiến lưu giữ những cảm tình, hoài niệm cũng cuối mùa trên vùng đất đang thay đổi mạnh mẽ này. Và trong khi Phan Bội Châu thất bại với ý định ngoại viện, vẫn phải tự mình dựa vào sự thành công của Cách mạng Trung Quốc (1912) để tổ chức những cuộc quấy động người Pháp từ bên ngoài bằng những toán quân Việt Nam Quang Phục Hội của ông thì sự chống đối bên trong, theo truyền thống khu vực lại trở về tay những ông Tổng, ông Cả như của thời Nguyễn cai trị. Thế là chức danh chính thống phù trợ cho triều đình lại gượng gạo kéo dài khá lâu với sự hoạt động của Hoàng Hoa Thám, rồi cũng đi đến thất bại năm 1913.

Nắm quyền từ trung ương qua các hiệp ước, người Pháp đã lợi dụng được cả uy lực còn sót của triều đình Huế để buộc các quan triều phục vụ cho mình mà như dấn thân cho vua cũ: Kinh lược Hoàng Cao Khải đánh dẹp ở Bắc Kì và Tiễu phủ sứ Nguyễn Thân sắt máu tung hoành như một Tổng tư lệnh chiến trường ở Trung Kì, cả hai từ vị trí nhỏ nhoi của gia thế, của địa phương, đã vươn lên theo đà của thời thế đưa lại, nhưng sự khởi đầu một chừng mực đó lại có vẻ “dễ coi” hơn trường hợp những Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương. Cho nên, dù còn phải “bình định” những cuộc chống đối nhưng qua thế kỉ XX, người Pháp thấy mình đã đủ năng lực để tổ chức cai trị thuộc địa một cách bài bản hơn. Và lịch sử thuộc địa bước qua giai đoạn mới với Toàn quyền Paul Doumer (1897-1902), “người đặt cơ sở cho guồng máy thống trị và tổ chức khai thác Đông Dương… được giữ cho đến năm 1945” (Phan Khoang 1971).

Tính chất thống nhất toàn vùng được đặt ra với một ngân sách chung (1898), các nha môn quy tụ về Phủ Toàn quyền, với sự thành lập các ngành quan quản thuế thuốc phiện, ruợu (1902), muối (1903), khiến tập họp được tiền bạc xây dựng phần cơ cấu kĩ thuật mới: đường xe lửa nối với nội địa Trung Hoa, khởi công đường sắt xuyên Đông Dương, trang bị các hải cảng lớn, xây cầu Doumer vững và đẹp, năm 2009 vừa được nhà nước hiện tại loạc choạc làm lễ Kỉ niệm khánh thành 100 năm… Sự yên ổn chính trị có sự khuyến khích của chức quyền khiến tư bản Pháp đổ tiền vào Đông Dương thuộc Pháp / Đông Pháp, khai mỏ (Công ti than đá vùng Đông Bắc, Công ti thiếc đầu thế kỉ), mở nhà máy sợi, xưởng dệt, xi măng Hải Phòng (1900), kinh doanh thương mãi… thu lời nhanh chóng vì được hưởng chế độ quan thuế đặc biệt, loại trừ các đối thủ cạnh tranh khác nước.

Sự chuyển đổi quyền lực tối cao cũng khiến cho vấn đề điền địa đảo lộn, có lợi trước nhất cho chủ nhân mới, dù phải nhường một ít cho những người liên kết. Các đồn điền được lập ra theo những điều kiện dễ dãi, từ trên công thổ quốc gia, từ đất của các sở hữu chủ tản lạc qua chiến tranh, từ những khai thác mới… Do đó đất Nam Kì còn hoang vu là thiên đường cho các “điền Tây” mở rộng đi theo các con kênh ngang dọc tháo phèn, rửa mặn tạo ra các làng xóm mới, tụ tập người về. Lúa gạo đưa đến sự sung túc cho dân chúng và cũng là nguồn xuất khẩu quan trọng cho chính quyền thuộc địa. Từ nền nông nghiệp truyền thống, việc khai thác hướng đến ngành nông nghiệp kĩ nghệ với cây cao su, cà phê (Công ti cao su thành lập 1906)… Nhìn chung sự phát triển của xứ Đông Pháp có đà đổi thay đến tận gốc, chính phủ Pháp không còn thấy thuộc địa như là một gánh nặng phải bù đắp tài chính nữa. Nhưng chính trong say sưa tiến hành công việc với bàn tay sắt, người cầm quyền đã không kềm hãm được những bất mãn gia tăng của dân chúng vì chính sự đổi thay nọ.

Trước nhất, vì tính chất đối lập chính trị, người Pháp không thể huy động được một bộ phận văn thân cũ đứng ngoài sự chiêu tập của phần hành bản xứ dưới quyền họ. Tổ chức mới không còn chừa bao nhiêu chỗ làm, địa vị xã hội cho các “trí thức” khoa bảng cũ vì còn phải dành chỗ cho khung cai trị mới. Toàn quyền P. Beau (1902-1908) ra lệnh cắt giảm nhân số trong ngạch quan lại. “Ông nghè ông cống cũng nằm co, Chi bằng đi học làm thông phán…” Tuy nhiên thời mới cũng lại vẽ ra hướng phải đi trong thực tế đó cho những người bên lề, đến lúc này vốn đã được hấp thụ Tân thư bằng lí thuyết. “Chữ quốc ngữ là hồn trong nước”/ “Bất phế Hán tự bất dĩ cứu Nam quốc”/ “Mau mau đi học lấy nghề…” (Phan Châu Trinh). Trường Đông Kinh nghĩa thục (1907) của các nhân sĩ lập ra ở Hà Nội có cả phần dạy chữ Pháp cho các ông Cử ông Tú vốn chỉ biết chữ Nho! Thế là, như một sự ngưỡng vọng người cai trị trong ấm ức, họ đi theo thời đại mới, “theo Pháp” mà không mang tiếng phản bội, lại được quần chúng nhìn với cặp mắt cảm tình tuy là cũng bởi vị thế bên lề đó mà họ lại bị đàn áp không nương tay, khi người Pháp nhìn ra là một phong trào quần chúng có phương hại đến an ninh trật tự. Không bằng cớ nào tỏ rõ sự ngưỡng vọng ấy nơi con người gian khổ Phan Bội Châu, có lúc cũng bàn tới khẩu hiệu Pháp Việt đề huề để một nhân vật Đệ tam Bắc Kì đổi tên ông là “Phản” Bội Châu!

Lại cũng chính lớp người khoa bảng bên lề này đã ảnh hưởng đến công cuộc Duy Tân về phương diện lập hội kinh doanh, mà về điều này các ông Cử Tú cũ vốn không quen thuộc lắm nên thấy xuất hiện những khuôn mặt văn thân cấp thấp ở thôn quê, thành thị nhỏ. Có thể nói đất Quảng Nam với tư thế tiếp xúc rộng rãi từ thời Đàng Trong còn lại, đã là nơi xuất hiện những hội buôn sớm nhất, từ trước 1906, đồng thời với các hô hào mở hội cày, hội học, hội công… của lí trưởng Lê Cơ anh vợ Phan Châu Trinh, của Bang tá Nguyễn Đình Tán chẳng hạn. Đây có thể nói là một phong trào quần chúng, khác với ở xứ Bắc là được kêu gào từ thủ phủ Hà Nội toả ra. Duy tân về phương diện này là sự đòi hỏi quyền lợi của người bản xứ muốn hình thành một tầng lớp tư sản mà người Pháp đã không quan tâm đến.

Đất Nam Kì cũng cho thấy sự riêng biệt của mình khi các hội buôn mở ra không cần nhiều đến các lời hô hào lí thuyết vì đã có đà kinh doanh cũ trong vùng. Không có chuyện ồn ào mở trường học vì người Pháp đã bao trọn việc giáo dục như đã thấy. Những người bất mãn, hướng vọng Đàng Cựu thì theo tiếng gọi Đông Du của Cường Để. Ý thức chống Tây hướng về vương triều cũ, ước vọng xưa khiến người ta dùng chữ Minh Tân vướng vất tinh thần Thiên Địa Hội vẫn sôi sục trong dân chúng, lan toả trong khắp các hoạt động xã hội bên lề. Cho nên tình hình phức tạp thêm, là qua tay những nhân vật Minh Hương trở thành Việt không tranh cãi, Duy Tân / Minh Tân có thêm dáng dấp chống Tàu, chống lớp người Thanh mới đến nhiều ưu thế hơn. Sự đối chọi này sẽ nổi bật hồi sau với các vụ tranh chấp điền địa dẫn đến đổ máu như vụ Ninh Thạnh Lợi (1927). Có điều tình thế trực trị riêng biệt ở đây đã khiến những người khởi xướng và ủng hộ viên Minh Tân không phải chịu hình phạt như các người đồng điệu phía bắc.

Sôi động đòi hỏi đổi thay xuất hiện ngay trên thôn xóm, làng xã nên đã dẫn đến những rối loạn có người chết và sự can thiệp của binh lính. Đó là những vụ chống sưu thuế trong các năm 1908 ở các tỉnh Miền Trung mà gốc xuất phát ở Quảng Nam không phải là điều lạ nếu ta lưu ý đến nhận xét về trước. Ngày 9-3-1907, khoảng 400 người dân hè nhau lên huyện lị Đại Lộc kêu nài xin giảm sưu, lôi kéo theo một vài xã khác. Gặp sức phản kháng của quan quyền, cuộc chống đối mở rộng vào Quảng Ngãi, Bình Định, trở ra Thừa Thiên, Nghệ An, có những tên riêng cho từng vùng (giặc Đồng Bào ở Bình Định) nhưng gọi chung theo lối bình dân, đó là Phong trào Xin xâu, Giảm thuế.

Nhìn riêng lẻ của sự việc thì vấn đề không có gì đặc biệt cho lắm. Vẫn biết là “dân Quảng Nam hay cãi” nhưng sưu thuế, và sự lạm dụng của quan quyền tại chỗ gây thêm phản kháng lúc đầu, cả hai cũng chỉ là chuyện khá bình thường cùng lúc ở các nơi khác. Tất cả chỉ như là một tia lửa phát ra vào lúc dồn ép cao nhất mà chính những quyết định của nhà cầm quyền cũng góp phần gây rối nhiều hơn. Một ông Tổng đốc Bình Định đời Tự Đức, đi trấn nhận đất Nam Định đã mắng ba “văn sĩ” kiện quan huyện tham tang: “Chuyện thật đáng trách, nhưng làm quan không nhận đồ biếu xén thì lấy gì ăn, mặc?” Ông Cử Hà Ngại của thời Bảo Đại cũng nhận rằng phải để bà Huyện nhận tiền cửa sau mới đủ chi dùng, không phải chỉ cho cá nhân mà cho cả việc công. Thuế má thì tất là nặng nhưng chống thuế là chuyện bình thường của thế gian. Trốn xâu lậu thuế cũng là bình thường, nhưng gặp lúc người Pháp đem phép kiểm soát người dân thi hành gắt gao hơn thời hơ hỏng xưa thì dân khó trốn hơn nhiều. Xưa chỉ có hai thứ thuế: đinh và điền, nhiều thứ thuế xưa kia (chợ, kiểm lâm, muối…) thực tế là tản lạc trong các danh xưng, quyền chức khác nhưng nay được định danh bởi chính phủ Bảo hộ nên oán than đã dồn về chính quyền mới. Người nào đặt bài vè ta thán về thuế, với ý nghĩa “thứ gì cũng thâu”, cho phái Đông Kinh nghĩa thục chỉ là làm việc phản ảnh tâm trạng của dân chúng đương thời. Đi xâu/sưu cũng là chuyện bình thường nhưng với thời mới thì công tác xây dựng đáng lẽ phải cần máy móc (vì tầm mức to rộng hơn) lại lấy sức người thay thế thì hẳn là không dễ kham như thời xưa. Với thời đại “tiền bạc” đã chen vào, có thể đem tiền thuê mướn người làm thay thì sự bất công hiện rõ thêm vì gánh nặng việc công đổ dồn vào người nghèo khổ dù rằng chính họ đã lãnh tiền làm mướn.

Ông quan huyện Đại Lộc rủi ro nhón chút tiền xâu, phân phối việc không công bằng là dịp để xảy ra những việc cũng là bình thường về trước, nay trở thành khác thường, trong đó sự khích động của dân chúng đã làm tăng độ hỗn loạn. Lại không phải chỉ có chuyện xin giảm xâu như lối nhìn biến động một cách đơn giản của các tay chủ xướng. Trong các cuộc biểu tình lại có ẩn chứa nhiều đòi hỏi đổi thay xã hội, không phải nhắm vào chính quyền mà còn ngược với “truyền thống” đương thời, gây phản ứng với cả dân chúng nữa. Nghĩa là rối loạn không có chỗ để bênh hay chống cho đúng nghĩa. Biến động có phần chỉ thuần tuý là rối loạn, không mang một “chính nghĩa” nào hết. Ví dụ việc đòi bỏ cái đầu tóc dài, đòi hỏi cưỡng bách đến mức có tên “giặc Đầu Bào” khiến trong Châu bản và văn thư Pháp phải nói đến “giặc cắt tóc”.

Để tóc dài, không phải chỉ ở thời bây giờ mà cả gần đây, vốn không phải là chuyện nghịch thường: Cứ nhìn các ông trong vùng Hoà Hảo thì đủ rõ. Cắt tóc nhìn ở phương diện truyền thống cũng chính là một tội trọng: Lúc gần thế chiến II, một thanh niên ở Tân An (cách Sài Gòn 40km) đi chơi bị cò bót bắt, tức giận đăng lính để có dịp trả thù, tất nhiên phải cắt tóc, liền bị cha mẹ từ bỏ! Tuy nhiên Thành Thái hớt tóc, bắt thị vệ làm theo, phô bày long nhan cho sĩ phu Quảng Nam trông thấy (1905) mà không ai dám bài bác vua. Phan Châu Trinh mang cái đầu lùm xùm từ Nhật về chỉ gợi sự ngạc nhiên. Các nhà nho Quảng Nam buổi đầu cắt búi tóc, thấy người chung quanh dè bỉu có ngượng ngùng vì sự thay đổi, vẫn vượt qua được vì không bị áp lực nguy hiểm đến bản thân. Nhưng trong một cuộc tập họp có kẻ (quần chúng!) cầm dao kéo để “xởn” tóc người đi đường, có lí trưởng chánh tổng (quan nhỏ!) xướng suất thì người dân thấy hẳn không phải là chuyện tự nguyện như khi kéo lên tỉnh xin xâu bắt quan huyện, dìm nước kẻ thi hành phận sự giữ an ninh. Phong trào chống đối 1908 ở Miền Trung như thế không phải chỉ giản dị là kháng thuế nên Khâm sứ Lévêque đang nhìn thấy những bất mãn do việc phế truất Thành Thái (3-9-1907), có tung quân đàn áp thì cũng chỉ là hiểu theo nghĩa tuyên dương sức mạnh của chính quyền, của bất cứ ai nắm quyền.

Cho nên nhìn chung, biến động vừa theo đuôi vừa phản ứng đối với chính quyền ngoại trị được gọi chung là Duy Tân có căn bản quần chúng như thế tất nhiên phải gặp sự đàn áp không phân biệt. Lính khố xanh khố đỏ được phái đi dẹp biểu tình. Đông Kinh nghĩa thục, “cái lò phiến loạn ở Bắc Kì”, bị giải tán (12-1907) cùng với các thương hội… Những người dính líu bị lên án, lưu đày, sự may rủi đến từng người một theo một chừng mực tình cờ không tránh khỏi như trường hợp Trần Quý Cáp. Và làm nổi bật một nhân vật, lạ lùng thay, lách được trong thời thế biến chuyển để có ảnh hưởng lớn đến cả thế hệ sau: Phan Châu Trinh. (Theo yêu cầu khẩn thiết của gia đình, xin chớ gọi ông cha họ là Phan Chu Trinh!)

Đây là con người chống đối quyền bính mà được mọi người đều thấy có một phần mình có thể dung thứ, che chở, cả hợp ý nữa. Không ai bị mắng chửi nặng nề bằng các quan của triều đình, thế mà trong bản định tội ông, Phủ Phụ chính còn vướng chút tình văn thân khoa bảng, đã có dáng can đảm bài bác ý định xử tử hình của Khâm sứ Lévêque để quyết định cho ông Phó bảng ngỗ ngược chỉ bị lưu đày Côn Lôn. Người dân thấy trong lời đối đáp với quan Pháp một hình ảnh Chí Phèo không phải chỉ dành cho tầng lớp cùng đinh như phát hiện gần nửa thế kỉ sau mà chính là phản ảnh truyền thống đối phó với quyền lực của dân tộc: “Thằng Phan Châu Trinh thà chết thì nó xách cái đầu của nó, nó quăng xuống đất như chơi, nó chẳng sợ giam đâu, nó chẳng chịu làm thân trâu ngựa cho người ta cưỡi lên đầu lên cổ nó đâu… Tôi thề chết giữa buồng giấy quan lớn, tôi thề lấy máu tôi mà bôi đầu đầu đầy cổ, đầy mặt đầy mình quan lớn, tôi chẳng chịu chết mòn chất rục, chết vắng chết thầm ở buồng giam 6-21 nhà giam Xăng tê này đâu... (Thư Phan Châu Trinh gởi quan Ba Caron, 2-5-1915). Từ sự đồng dạng đó mà người dân không thấy sốc về những câu nói, lời thơ tán tụng người Pháp có thể bị coi là nịnh bợ, không thắc mắc về tình hình tù nhân Phan Châu Trinh thong dong ở “địa ngục trần gian” Côn Lôn, không thắc mắc về việc ông đi Pháp bằng tiền nhà nước… Cảm tình đó sẽ được tích trữ để có dịp bùng phát về sau.

Quan chức Pháp chắc có kẻ cũng mỉm cười với con người chịu đi theo trào lưu mới, chịu thưa gửi Quan lớn để trị bọn quan lại dưới tay vốn cũng không được họ ưa chuộng lắm… Chút ngang tàng của người trí thức đó như một biểu hiện giá trị xứ sở bị trị, ít nhiều gì cũng được quan chức Pháp nhìn với vẻ nể trọng, do một thái độ ứng xử văn minh họ thụ nhận ở đất nước họ. Cho nên cũng với cách nhìn đó mà những người Pháp khác, không bị vướng bởi vị trí người cai trị, đã vận động Hội Nhân Quyền để can thiệp cho tội nhân Phan Châu Trinh. Có điều, sức trì níu của quá khứ, của bản thân vốn đã tạo nên dạng hình ứng xử ngang tàng kia đã khiến cho ông, trong bao nhiêu năm ở Pháp, không hấp thụ bao nhiêu nền văn minh mà ông muốn đưa dân tộc đi tới. Chỉ có trở về nước ông mới tìm lại được vị trí của mình. Vị trí đó lại có phần là ảo giác của tầng lớp dân chúng bình thường hồi tưởng về một ông quan khảng khái từ nhiệm, chống bất công, và của lớp thanh niên ít nhiều gì cũng nằm trong đường hướng ông cổ động, từ tiếp thu học vấn mới của ngay chế độ thuộc địa, đã mang thêm ảo giác khác, vọng tưởng thêm về một chân trời tốt đẹp đầy khích động của đất nước, nhân loại.

Chính đám văn thân còn lại cũng phải ngầm nhận ra con đường thuộc địa là hợp thời, tiến bộ để phải đi – dù là muốn đi theo bước riêng của mình, thì chính quyền thuộc địa cũng thấy ra chỉ cần điều chỉnh một ít lề lối cai trị của mình là có thể giữ vững quyền hành với một lượng người ít oi so với đám đông dưới tay. P. Beau mở rộng sự hợp tác của quan viên bản xứ bằng cách thành lập Hội đồng tư vấn Bắc Kì (1907) rồi cho lập tiếp Hội đồng hàng tỉnh. Đại học Đông Dương được khánh thành năm 1906, chận đón ước vọng mở mang kiến thức mà cũng để thu hút người muốn phục vụ mơ “làm thông phán”, không để họ bị đẩy về phía đối lập. Các tổ chức giáo dục mới tiếp tục trên đà lấn lướt. Năm 1908 có Hội đồng Cải cách giáo dục với hai hệ thống: trường Pháp Việt cho người dứt khoát theo mới và các trường Hán quốc ngữ cho lối thi cử cũ có pha trộn. Đó là giai đoạn dẫn đến việc bãi bỏ thi Hương ở Bắc Kì (1916), Trung Kì (1918) rồi đến lượt thi Hội ở Huế (1919). Thực ra thì chính sách của các toàn quyền đưa ra cũng thường bị các giới chức khác phản đối nên mang tính chất co giật như việc Đại học Đông Dương bị đóng cửa năm 1908, đến 1917 mới mở lại, do toàn quyền A. Sarraut, người cho lập Hội đồng tư vấn hàng tỉnh ở Trung Kì.

Thế chiến thứ Nhất nổ bùng, người Pháp rút quân về cứu nước, và cũng phải chịu những chống đối được dịp bùng dậy. Ở Trung Kì là cuộc khởi nghĩa của Thái Phiên, Trần Cao Vân ủng hộ vua Duy Tân (1916), ở Bắc Kì là cuộc khởi nghĩa binh lính ở Thái Nguyên (1917) và những chuyến xâm nhập của Phục Quốc Quân từ biên giới. Các cuộc rối loạn động đến binh lính thật ra cũng vì chủ trương của người Pháp muốn sử dụng người Việt trong chiến tranh ở trời Âu. Điều đó rõ rệt nhất là ở thuộc địa Nam Kì, nơi người Pháp đã có một tổ chức trưng binh chặt chẽ được quen gọi là “điền lính”. Thực ra thì nhìn lại một tài liệu trưng binh của tỉnh Tân An từ 1919 đến 1927, ta thấy số đi lính rất thấp (khoảng 10 người các năm 1919-23) so với số đinh tịch cùng thời gian: 30 000 người. Thế mà sự hoảng loạn thật là dữ dội: Người ta trốn nấp ở bìa rừng, bìa bưng có thể đâm chết người lạ nào lãng vãng gần đó. Có cả những cuộc nổi dậy đánh phá các nơi tuyển mộ. Tình hình đó thuận tiện cho các cuộc nổi dậy của những chi phái Thiên Địa Hội (các “kèo”) vốn thật phồn tạp ở Nam Kì đi theo với khối lượng lớn Minh Hương cũ, nhất là Thanh mới, được phép xuất hiện hợp pháp trong tổ chức Ngũ Bang có nhà cầm quyền thừa nhận sự tự quản của Hoa kiều. Thế là có chuyện Hoàng đế Phan Xích Long “dòng dõi Hàm Nghi” xuất thế, ngự trên ngai ở đường Thuận Kiều cho quần chúng đến van vái, nghênh ngang áo quần trắng toát giữa thành phố Phan Thiết, bị bắt giam trong ngục mà có cả 300 người từ Tân An kéo lên định phá Khám lớn Sài Gòn để cứu vua (15-2-1915).

Tình trạng hội kín Nam Kì đã làm nổi bật một “hội kín” khác, lúc này đã ra công khai – và được nâng đỡ: Thiên Chúa Giáo. Chính quyền thuộc địa mang bản thân văn hoá riêng, đã coi các tập đoàn tôn giáo phương Đông là những Hội, khác với Thiên Chúa Giáo là một Tôn giáo với một kiêng nể về một giá trị vượt trên trần thế dù rằng một vài viên chức mang tinh thần 1789 vẫn lên tiếng chống đối. “Các xứ đạo được tự trị một phần nào trong thực tế, những vấn đề đất đai, về tổ chức vệ sinh hay giáo dục, cũng như những vấn đề thuế má hay công sưu thường được giải quyết qua trung gian các vị cha sở. Trong hai vùng ở Bắc Kì là hai địa phận Bùi Chu và Phát Diệm, đạo Thiên Chúa được tổ chức vững chắc, các vị giám mục thực sự điều khiển công việc hành chánh và thế tục.” (Nguyễn Thế Anh 1970, 2008). Với cách nhìn nhận như thế, “dân đạo” bỗng trở nên một tầng lớp có ưu thế, các người lãnh đạo tinh thần có tác động mạnh trên quyền thế tục, ảnh hưởng đến cả những chuyện lặt vặt tranh chấp trong xóm làng như ông Cử Hà Ngại đã có kinh nghiệm trong cuộc đời quan chức Nam triều đang hồi tàn tạ. Tuy nhiên tình trạng thuộc địa Nam Kì với các sinh hoạt hướng tới công khai, có phân biệt tương đối rành rẽ về tôn giáo / thế tục, khiến cho Thiên Chúa Giáo nơi đây xuất hiện bình thường trước mắt dân chúng, không gây nên vấn đề nổi cộm nào. Trong khi đó, các xứ đạo Bắc Kì vẫn mang vết thương những ngày tháng bức đạo, nhiệt tình mê muội theo một dạng hội kín phương Đông riêng biệt, với mối tin tưởng thần bí từ trong văn vẻ của những bản kinh bổn thô sơ đặt ra hồi mới xâm nhập. Sự sống khép kín với sự ưu ái của chính quyền, càng làm tăng tính chất cô lâp mà họ cảm thấy rất rõ, dù lần này là từ sự kênh kiệu, kiêu kì của “dân Chúa”.

Tuy nhiên tình hình chung lúc bấy giờ thực ra không đến nỗi là quá bi đát cho chính quyền thuộc địa như các sử gia về sau tán rộng. Kéo quân đi, có lúc họ chỉ còn 2 550 lính với vài ngàn công chức Pháp (năm 1937: 5464 người) mà vẫn không mất thuộc địa, còn kêu gọi “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”, thu đến 367 triệu francs, cùng lúc kéo 100 000 người “tùng chinh” làm lính chiến, lính thợ. Và sự thụ động của thuộc địa không phải không có lí do. Người dân bị lôi cuốn theo thời cơ, được hưởng những cải thiện để có thể quay lưng với những hoạt động chống đối nguy hiểm. Thời đại cũng chứa đựng những hấp dẫn mới đối với những người sẵn sàng chịu thay đổi cuộc sống. Như, trong khi việc “tùng chinh” được coi là kinh khiếp với một số người thì một người lính Nam Kì lại khoe rằng “lúc bắt thăm (đã) đại ngôn xin anh em nhường số Một lại cho tôi đến đỗi xã trưởng phải la rầy…”

Chiến tranh làm ngăn trở giao tiếp với chính quốc khiến cho thuộc địa lâm vào tình trạng phải tự phát triển, và lại phát triển theo nhu cầu phục vụ chiến tranh của chính quốc. Một số nhà máy được xây dựng để sản xuất thuốc nổ, sửa chữa vũ khí, đóng tàu, đúc gang… Nhu cầu lớn, nhân lực thiếu khiến cho các nhà tư sản Việt Nam có cơ hội thành lập công ti vận tải đường sông, đường bộ, xay xát lúa gạo (ở Nam Kì), chen vào đóng góp cổ phần trong các công ti của chính người Pháp (mỏ than, chế biến cao su…) Và từ đó nội thương phát triển, thủ công nghệ có cơ hội nảy nở đến tận các làng xã, thành thị nhỏ. Lại cũng vì chủ nhân bận rộn với chiến tranh nên các nhân viên Việt được dịp thay thế nơi các chỗ trống vì người Pháp phải nhập ngũ, hay không qua Đông Dương được. Các công chức này được đào tạo từ các trường mới, thay thế cho nền giáo dục cũ bị bãi bỏ. Không những họ được vào “ngạch quan cai trị” như những người xuất thân từ hệ thống Đại học phổ thông do A. Sarraut mở lại và khuếch trương rộng hơn, mà còn có những người được đào tạo từ các trường dạy nghề kĩ thuật và mĩ thuật, bắt đầu cũng được lập ra trước ở Nam Kì.

Tất nhiên phải thấy rằng sự yên ổn tương đối đã xảy ra vì chính quyền thuộc địa đã gắng công rất nhiều trong việc điều hoà nhu cầu của người cai trị và dân bị trị. Các cải cách mở rộng Đại học, đưa người Việt vào các ngạch cai trị cũng bị rất nhiều phản đối từ các nhà tư bản, các quan chức, tuy nhiên các quyết định đó là tiếp tay cụ thể cho một chủ thuyết “Pháp Việt đề huề” được quảng bá rộng rãi đến mức sẽ làm dao động đến cả Phan Bội Châu. Tuy cuộc cải cách hành chính buộc tách rời Bắc Kì khỏi Nam triều nhưng người ta lại tổ chức cuộc “Ngự giá Bắc tuần” cho Khải Định, trùng tu đền Hùng, cho Khải Định ban Dụ tổ chức ngày Giỗ Tổ 10-3 âm lịch làm căn cứ cho những lễ hội hàng năm rình rang, đầy tổn phí ngày nay. Nhân vật phục vụ cho người Pháp như Đỗ Hữu Vị, chết trên mặt đất nhưng với chút quá khứ làm “quan Ba (?) tàu bay” từng biểu diễn tàu lượn (hydro-glisseur) trên sông Hồng, Cửu Long, được ca tụng như một hoà hợp của quá khứ Việt và hiện tại Pháp: “Nếu có vị sĩ phu An Nam nào thấy người đồng bào Đỗ Hữu Vị leo lên chiếc tàu bay… ném những trái bom cháy trên các toán quân địch… người ấy sẽ nghĩ rằng:.. con rồng An Nam đang phun lửa và chống đánh bọn mọi rợ…” Nhưng những người cai trị vì tình thế phải có những nhượng bộ cho dân chúng bản xứ hẳn không biết được rằng chính những chính sách được thực hiện cũng sẽ lại là mầm mống đưa đến những rối loạn về sau.

Chiến tranh chấm dứt, tư bản Pháp đổ vào Đông Dương tạo đà phát triển to rộng. Tổ chức quảng cáo cho thuộc địa thành lập cơ quan có tên Kinh tế cục Đông Dương. “Có thể nói rằng thời kì từ 1924 đến 1930 là kì thạnh nhất của công cuộc đầu tư Pháp tại Đông Dương (Nguyễn Thế Anh 1970, 2008)”. Các đồn điền to lớn được thành lập: đồn điền cao su vùng đông bắc Sài Gòn, đồn điền cà phê ở Bắc và Trung Kì, đồn điền trà trên Tây Nguyên… Theo đà đó các “điền Tây” ở Nam Kì cũng lên đến 100 000 ha, gây nên những cuộc tranh chiếm ruộng đất đối với nông dân, địa chủ Việt có khi dẫn đến đổ máu.

Các vùng đất được nối kết bằng một hệ thống giao thông tốn kém. Từ 1918 có nghị định thành lập hai hệ thống đường bộ; loại đường thuộc địa lệ thuộc vào Ngân sách Đông Dương và loại đường địa phương thuộc các Kì quản lí. Đường xe lửa được tiếp tục xây dựng từ ngân sách 1921, đến 1939 có tổng cộng 2997 km chiều dài. Điều đáng chú ý là số công chức Việt điều hành đường xe lửa rất lớn (20 119) so với người Pháp (281), lương bổng cao, quy chế lao động được áp dụng khá sớm để ta không ngạc nhiên lắm khi có viên kí ga, dù là ga nhỏ, sẽ được trở thành Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Các thành tích được công bố về sau thường nhắc đến các nhân viên đường sắt, nhất là tuyến đường Hải Phòng – Vân Nam, như một cơ sở cách mạng đáng tin cậy – mối tin tưởng vốn cũng có phần từ hình ảnh ông tổ Lenin trên tuyến đường từ Phần Lan về cướp chính quyền ở xứ Liên Xô xa xôi.

Để củng cố việc cai trị theo tình hình mới, luật pháp được ban hành với các bọ luật hình (Bắc Kì 1921, Trung Kì 1933), dân luật (Bắc Kì 1931, Trung Kì 1936, 1939) cùng sự thành lập các cấp toà án có cái khung của tổ chức luật pháp tân tiến. Trong thể chế này có một cơ quan làm nhiệm vụ hỗ trợ cho các toà án, Sở Mật thám Đông Dương, nổi danh về công tác theo dò những người chống đối, tuy bị thù ghét nhưng lại là nòng cốt hướng dẫn cho hoạt động của cơ quan Công an về sau, hiệu quả hơn rất nhiều so với nguyên mẫu của nó, nhờ tính chất đồng chủng khiến sự xâm nhập dễ dàng hơn mà không phải bị ràng buộc vì những tiêu chuẩn luật pháp phức tạp, xa lạ.

Tất nhiên về sau người ta hay nhấn mạnh đến các tập họp nông dân, công nhân mang tính hiện đại bằng các từ “giai cấp” nhưng truyền thống cũ vẫn còn lấp ló sau các thay đổi, cho nên chính các cải cách giáo dục của người Pháp đã đem lại cho thuộc địa một tầng lớp có thể gọi là Văn thân mới. Tháng 5-1918, chính quyền ban hành bản Học chính tổng quy làm cơ sở cho nền giáo dục toàn Liên bang. Một hệ thống giáo dục Pháp Việt phức tạp thành hình có dụng ý nhường bước thu nạp dân bản xứ lại mở đường cho một lề lối suy tưởng bằng tiếng Việt ngay cho trẻ vào đời. Các loại sách “… giáo khoa thư” được soạn ra, trong đó bản sách “Quốc văn…” có ảnh hưởng rất lớn đối với các thế hệ về sau khiến cho qua thế kỉ XXI người ta còn nhắc nhở và còn cố tâm tái bản, như một chứng tỏ phản đối nhẹ nhàng về tình hình giáo dục sa sút ngày nay. Và không nên quên quyển An Nam sử lược (1920) của ông giáo Trần Trọng Kim, đi theo với thời độc lập được đổi làm Việt Nam sử lược (1953) chứng tỏ giá trị dài lâu của nó. Tầm mức kiến thức được nâng cao vì không những giáo dục đã được mở ra đến cấp bậc Đại học mà còn phát tán ra những ngành chuyên môn, có hướng dẫn vào con đường nghiên cứu, thay đổi lối suy nghĩ trì trậm xưa cũ.

Đối với những người vượt thoát được ra ngoài thì tha hồ xoay chuyển tư tưởng, hành động đi theo các thế lực nổi trội mà họ có hi vọng nhờ cậy hay thấy lấp được khoảng trống kiến thức tranh đấu của mình. Hết vọng tưởng Nhật với Đông Du, lại trở về truyền thống như sự nổi dậy của tiềm thức đi theo thực tế trước sự thành công của cách mạng Trung Hoa 1912. Và có thất vọng với thế giới Tây phương để đẩy mơ mộng xa hơn thì tư tưởng “thế giới đại đồng” trong kinh sách cũ lại lôi cuốn họ hướng về Cách mạng Nga 1918. Từ Phan Bội Châu với mong muốn làm một phong trào Nga Du đến Phan Châu Trinh già cỗi chuyển mong muốn cho người khác, Nguyễn Ái Quốc đã đi xa hơn trên “con đường dẫn đến chủ nghĩa Lênin” dài dằng dặc trong mê sảng. Những người trong nước khó có dịp bày tỏ thái độ công khai theo những trào lưu tư tưởng mới nhưng chữ quốc ngữ giúp họ đọc được những truyền đơn, báo chí, chữ Pháp giúp họ gặp trực tiếp Voltaire, Montesquieu và rồi Marx, Engels (ngay trên báo chí thuộc địa tả phái)… để tận tình bênh vực “cái nền văn minh nhân đạo của loài người” (Hải Triều Nguyễn Khoa Văn 1935) đang diễn ra trên đất nước Xô viết xa xôi.

Báo chí là chốn nương thân, là nồi cơm hũ gạo của những người cố vươn kịp thời thế như Phụ nữ tân văn (1929) cho ông tú Phan Khôi, là nơi chốn hoạt động trong thế kềm thúc chật hẹp của xứ Trung Kì của những người vì lẽ này hay lẽ khác đã thoát nạn tai hồi đầu thế kỉ như Huỳnh Thúc Kháng với tờ Tiếng dân (1927). Ông nghè này mở đường cho thế hệ sau, của những người có chút học vấn từ các trường mới rẽ ngang bình thường tìm đường sinh sống, hay bị đẩy ra cuộc đời vì tai nạn qua những cuộc tranh đấu chung. Không nên lấy làm lạ khi sau này (1971) ông Nguyễn Vỹ lêu bêu ở Miền Nam viết hồi kí về các đồng nghiệp làm báo ở Hà Nội, nhắc chuyện thời đói khát ăn nhờ ông Võ Nguyên Giáp “có ước vọng làm commis”, nhắc đến ông Đăng Xuân Khu (“chưa đỗ bằng Thành chung”, chưa có bí danh Trường Chinh), xưng hô toa/moi đòi giải trình giùm cho ông Trần Huy Liệu đang bị “các anh” trong Đảng truy bức chuyện gia đình. Một số người này không phải nghèo đói như người ta tưởng. Họ lúng túng trong sinh hoạt thời mới như bất cứ ai của mọi thời, nhưng họ có thể khôn khéo vươn lên thành một tầng lớp trung lưu trong xã hội, được sự kính nể của danh vị “ông nhà báo” / “ông nhà văn” xưa kia chưa từng có.

Tính chất vọng tưởng phương xa không được người ta nhắc tới nhưng nổi rõ trong sự xôn xao sôi động khi Phan Bội Châu bị bắt rồi bị xử tử (1925), đã gây nên phong trào đòi ân xá ông. Cũng thấy rõ tinh thần đó trong sự ngưỡng mộ Phan Châu Trinh từ Pháp về rồi mất (1926) dẫn đến các cuộc biểu tình, bãi khoá để tang ông. Sự đàn áp những học sinh biểu tình dẫn đến tuyệt lộ sinh kế của những người này sẽ cung cấp những chiến sĩ tranh đấu cương cường khi họ lớn lên vài năm sau.

Hết thời thịnh vượng thì đến thời khủng hoảng. Đến lúc này thì Đông Dương không còn ở thế riêng biệt trong tay người Pháp nữa nên cuộc khủng hoảng thuộc địa lần này đánh động đến dư luận quốc tế vì những phản kháng có tầm mức to rộng, dữ đội bên trong được dấy động bởi những con người Việt lớp mới, với kiến thức cũng có tầm mức quốc tế như đã nói.

Tiếng vọng từ bên ngoài có tác động mạnh vẫn là từ nước Trung Hoa lớn rộng, kề cận, bắt nguồn từ lối mòn suy nghĩ cảm tính thân cận mà nền giáo dục mới của người Pháp đã không tước bỏ lại còn gợi lại, làm cho nó trở nên hấp dẫn, thu hút hơn. Phan Bội Châu chưa chuyển được tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội của mình theo với sự thành công của Cách mạng Tân Hợi thì người trong nước đã thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng (đêm Noel 1927) theo hướng dẫn chủ thuyết của Tôn Văn, Quốc phụ của Trung Hoa mới. Lần này thì không phải chỉ là những rối loạn lẻ tẻ, rời rạc nữa mà đảng của Nguyễn Thái Học, sinh viên trường Sư Phạm Đông Dương, đã là một tổ chức bạo động có tôn chỉ lí thuyết, có đường lối hành động rành rẽ. Tuy nhiên tính chất hội kín một phần của nơi xuất phát và nơi ngưỡng vọng cũng là một nguyên nhân làm phong trào thất bại. Các tổ chức ám sát, như vụ giết Bazin, chống đối tuyển mộ nhân công đồn điền cao su, tạo dư luận quần chúng đã gây sự chú ý của người cầm quyền, dẫn đến những cuộc bắt bớ và quyết định khởi nghĩa hấp tấp. Dù sao thì sự đàn áp chưa từng có của Pháp và các bản án cùng tính cách hiên ngang bất khuất của những người lãnh đạo đã khiến cho cuộc Khởi nghĩa Yên Báy (tháng 2-1930) trở thành biểu tượng lớn lao cho tinh thần chống đối giành độc lập trong tay người Pháp, nay mang những dạng hình tân tiến hơn xưa.

Sự chống đối bó gọn trong tính chất Khu vực, dù là lớn rộng của Quốc Dân Đảng, dẫn đến thất bại không thấy khả năng gượng dậy, cho thấy ưu thế khác của phong trào Cộng sản quốc tế ở Việt Nam, tuy cũng trải qua những chìm nổi nhưng bền vững, dai dẳng tạo cơ hội chực chờ thành công. Trong trường hợp này, mối liên hệ quốc tế và trong nước của đảng Cộng Sản chi phái Stalin là ưu thế mà các đảng khác không có – nghĩa là tính cả nhóm Đệ Tứ theo Trotsky. Lí thuyết cộng sản vẫn được tuyên dương là một lí thuyết khoa học nhưng người theo, phần lớn cũng là thấm đượm một tinh thần tiên tri toát ra từ ông Do Thái K. Marx, qua sự thành công ở nước Nga năm 1918, trở thành một hoang tưởng lớn nhất của nhân loại ở thế kỉ XX. Sự hoang tưởng này gặp vọng tưởng Thiên hạ Đại đồng của Á Đông thu hẹp trong ước mơ lạc quan về một đấng chân chúa, minh vương xuất thế ở Việt Nam. Lễ kết nạp hội viên cho Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ái Quốc / “Ông Vương” chứng giám, có nghi thức cắt cổ gà ăn thề tương tự như các lễ gia nhập Thiên Địa Hội quanh các năm 1910, 1920 ở Nam Kì. Cho nên viên Chủ quận Chợ Mới đã khen “Họ (cán bộ CS) thích ứng thật lạ lùng với phong tục làng xóm”. Còn ông Bộ trưởng Ngoại giao tương lai của VN DCCH thì tự phụ: “Thằng Cọng Sản Nam Kì nào cũng có máu du côn”. Chính nhóm đánh xe thổ mộ làm-reo (grève) ngày 4-11-1935 là để hưởng ứng lời kêu gọi của nhóm La Lutte kỉ niệm Cách mạng tháng Mười, mà nhóm anh chị kia thì không xa gốc gác Hội (kín) Vạn Xe từng quấy đảo vùng Chợ Lớn hồi 1888. Vụ án mạng đường Barbier (Lí Trần Quán) 8-12-1928 là một vụ giành gái kèm với sự chống đối của tổ Đảng địa phương với phái viên trung ương / quốc tế, để từ đó có án tù của Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng. Phía Bắc, có thể lấy trường hợp ông Trường Chinh, lúc còn là Đặng Xuân Khu, đã giả làm lí hương thành công đến mức qua mặt được mật thám, nghĩa là người mật thám đã Âu hoá hơn cháu ông tiến sĩ Tổng đốc triều Nguyễn.

Bên ngoài, người Cộng Sản (Đệ Tam) có được một đường dây quốc tế trợ giúp tiền bạc và uy danh để điều hành cán bộ, xây dựng tổ chức ngoại vi lồng vào trong những hoạt động khu vực không phải Việt Nam, như khi lợi dụng chủ trương Quốc Cộng hợp tác ở Trung Hoa Dân quốc. Và tuy ở thế gây rối nhưng họ cũng lợi dụng được thể chế dân chủ Tây Phương để tổ chức biểu tình ủng hộ các phong trào hoặc chính danh là Cộng Sản hoặc núp dưới danh nghĩa tả phái. Nguyễn Ái Quốc thoát nạn ở Hongkong (1931) là nhờ hệ thống luật pháp của Anh ở đấy. Sự yểm trợ lớn rộng bên ngoài đã khiến cho những thất bại giai đoạn của người cộng sản không làm họ nhụt chí. Bên trong, sự kiên cường theo đuổi một lí tưởng chưa thấy là hoang tưởng, giúp họ chịu đựng được sự ràng buộc của một tổ chức khắt khe đượm thêm màu thần bí vừa đe doạ vừa hấp dẫn của hội kín, để họ cứ liên tục nhắm vào cái đích chính quyền và rốt lại, đi đến thành công. Với tư thế đó, danh hiệu “cộng sản” là chỉ vào họ, làm khuất lấp hẳn nhóm Đệ Tứ.

Nhân vật kiệt xuất của phong trào Cộng sản được vọng tưởng từ rất sớm là Nguyễn Tất Thành, đi Tây có phần bởi lời mắng mỏ của một bậc trưởng thượng đồng hương (Nguyễn Hữu Hoàn), đã lập sự nghiệp tiến xa hơn những người khác từng thoát ra khỏi nước. Tuy nhiên cũng không nên vì địa vị Hồ Chí Minh về sau mà gán ghép cho chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc những thành quả và công tích quá sự thật của chúng. Dưới tên kí Nguyễn Ái Quốc hẳn có văn từ của nhiều người thông thạo chữ Pháp hơn “anh Ba” bồi tàu. Đó là chàng thanh niên Mười tám thôn Vườn trầu Nguyễn An Ninh, muốn làm Cộng sản mà không chịu vào khuôn khổ. Đó là ông luật sư Phan Văn Trường thông thái nhưng phải làm quan Trạng nên “tây” quá, không có bao nhiêu uy tín với quần chúng. Ông kĩ sư Nguyễn Thế Truyền, chủ bút tờ Việt Nam hồn được cất giấu trong các nhà “làm việc quốc sự”, thì khi về nước trở lại nguyên hình một ông quan đi Tây, tranh đấu với Tây chỉ như làm một hành động “văn minh” để rốt lại bị thời cuộc bỏ xa, về sau có gượng gạo ứng cử Tổng thống VNCH cũng không gợi được chút tăm tiếng nào. Còn ở trong tổ chức Đệ Tam Quốc Tế thì Nguyễn Ái Quốc không được coi “chính thống” hơn Trần Phú, Hà Huy Tập, địa vị thấp hơn Lê Hồng Phong nằm trên bực cấp toàn cầu: Uỷ viên ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

Tổ chức Cộng sản do các yếu tố khác nhau tạo thành như thế nên vừa có khuynh hướng tự phát vừa mang tính tổ chức từ đầu não Liên Xô. Đảng Phục Việt (1925) do Tôn Quang Phiệt, cựu sinh viên Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, cùng một người của phong trào Duy Tân (Lê Văn Huân) thành lập, đổi tên Tân Việt Cách Mạng Đảng tổ chức biểu tình đòi ân xá Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh… bị đàn áp dữ dội, rồi sẽ là một hệ phái của đảng Cộng Sản Đông Dương. Nguyễn An Ninh mang tư tưởng tự do từ Pháp về (1923), sử dụng quyền tự do báo chí áp dụng cho báo tiếng Pháp ở Nam Kì, hô hào thanh niên thay đổi, dùng tờ La cloche fêlée đăng (1926) cả Tuyên ngôn Cộng sản, đòi cải cách ruộng đất rồi vào tù, ra khám, bị đày Côn Lôn, tiến dần đến một dạng tập họp quần chúng có khuynh hướng cộng sản và hội kín, được đương thời gọi là Hội kín Nguyễn An Ninh. Bên ngoài, Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội được Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Châu (1925), tổ chức Đại hội ở Hongkong (1929) không thành công trong việc hợp nhất khiến các đại biểu về nước thành lập đảng riêng cho Bắc, Trung, Nam có tên là Đông Dương Cộng Sản Đảng, Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn và An Nam Cộng Sản Đảng, tha hồ công kích nhau để tranh giành ảnh hưởng. Nguyễn Ái Quốc được lệnh thống nhất đảng (1930), lấy tên đảng Cộng Sản Việt Nam để có ngày kỉ niệm về sau là 3-2. Thế nhưng việc đổi tên lần nữa, là đảng Cộng Sản Đông Dương với Trần Phú làm Tổng bí thư, đưa ra một bản Luận cương Chính trị theo sát đề cương cách mạng của Đệ Tam Quốc Tế, chứng tỏ quyền lực quốc tế lần đầu tiên có quyết định trực tiếp đến hoạt động giải phóng quốc gia của Việt Nam. Tên gọi “Đông Dương” nhắm chung vào các nhóm dân tộc Việt, Miên, Lào khác nhau của tập họp thuộc địa Pháp, mang tính cách chiến lược mở rộng dẫn đến hậu quả lâu dài, để chiến thắng có hướng vững chắc mà hệ luỵ ẩn khuất cũng không phải là nhẹ nhàng.

Tình hình phát triển ở Đông Dương sau Thế chiến I đã khiến cho giới công nhân tăng số lượng, thêm phức tạp, đòi hỏi phải có những quy chế thích ứng của hình thức tư bản cho nên Toàn quyền Varenne (1825-28) ban hành các thể thức bảo hộ lao động (giờ, tuổi lao động, giao kèo, bảo hiểm y tế…) Công việc này bị giới thuộc địa phản đối nên Toàn quyền Pasquier (1928-34) cho giải tán Sở Thanh tra Lao động cùng thêm những biện pháp siết chặt giới công nhân. Sự thay đổi nhập nhằng như vậy tạo ra những cuộc đình công đòi quyền lợi lúc đầu, biến thành những biểu hiện mang tính yêu sách chính trị (treo cờ đỏ, kỉ niệm 1-5, ủng hộ Liên Xô) do các nhóm Cộng sản khác nhau khích động khiến lần đầu tiên Đông Dương tiếp nhận một nhân viên của tổ chức quốc tế đến quan sát tình hình (7-1929): Đó là ông “Albert Thomas, Đổng lí Sở Quốc tế Lao động của Vạn Quốc Hội [hội Quốc Liên]”.

Rồi cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới cũng lan đến Đông Dương. Giới nông dân cùng khổ không được hưởng gì nhiều trong sự phát triển lại càng phải chịu khốn đốn hơn. Tình hình chung đã khiến cho những lời hô hào tranh đấu giai cấp mang dạng cùng khổ chống áp bức của người cộng sản được quần chúng tiếp nhận mạnh mẽ. Chủ trương “vô sản hoá” (1928) đưa các cán bộ con cháu tư sản, quan lại, địa chủ về bến tàu (Ngô Gia Tự), hầm mỏ (Nguyễn Văn Cừ), đi kéo xe (Nguyễn Lương Bằng) giúp họ vận động quần chúng dễ dàng hơn. Công nhân đồn điền treo cờ đỏ, công nhân xưởng máy thành phố đình công, lôi kéo cả cu li xe kéo ở Huế, Sài Gòn. Nông dân biểu tình, đặc biệt là cuộc nổi dậy của nông dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi từ tháng 5-1930 đến tháng 9-1931. Uỷ ban Xô viết Nghệ An được thành lập ra lệnh chia đều ruộng đất, hành động mang tính cách cách mạng xã hội đầu tiên khiến lịch sử đảng Cọng Sản sau này ghi nhận là một cao trào của công cuộc cách mạng vô sản.

Sự sôi động xã hội như thế đã không chừa chỗ cho những hoạt động chính trị của giới trung lưu thành thị. Tuy thành thị theo kiểu mới là một dạng hình tập họp dân cư, sinh hoạt văn hoá tân tiến vì đây là sản phẩm của chế độ thuộc địa, chưa từng xuất hiện trong sinh hoạt truyền thống nhưng nó chưa có trọng lượng là bao giữa khối thôn làng, buôn rẫy nghèo đói, lạc hậu. Cho nên những nhà chính trị của tầng lớp trung lưu không có quần chúng đã đành mà sự kết nối sinh hoạt của họ với tầng lớp cai trị, tư sản Pháp đã khiến cho uy thế họ càng mỏng manh thêm. Ở Nam Kì đảng Lập Hiến của các ông Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long cũng đòi chính phủ thuộc địa thực hiện tự do dân chủ, cổ võ dân chúng giành các mối lợi kinh tế khỏi tay người ngoại quốc. Họ có chân trong Hội đồng Thuộc địa Nam Kì nhưng không đủ áp lực để người Pháp thay đổi, nên mất dần ảnh hưởng trong dân chúng. Ở Bắc Kì, trên tờ Nam Phong, học giả Phạm Quỳnh cũng lên tiếng đòi trả lại thực quyền cho triều đình Huế, biện minh cho một tinh thần Việt Nam đủ xứng đáng là một nước văn minh nhưng rồi cũng không thực hiện được gì với vai trò Thượng thư được giao. Tất nhiên sự yếu thế của các nhân vật này sẽ dẫn đến tai hoạ cho thân xác họ, với những lời dè bỉu, chê bai, mạt sát dai dẳng nhưng trên bức tranh chính trị tổng thể của đất nước, sự vắng mặt của tầng lớp họ đã khiến cho tình hình quá khích cứ lướt tới không có gì cản trở nổi. Sự bất lợi vì kết hợp với chế độ thuộc địa của những nhà chính trị văn hoá cũng như những nhà kinh doanh, không phải là điều tốt đẹp nếu ta bình tĩnh nhìn nhận khi có đủ độ lùi của thời gian để thấy ra.

Tất nhiên cuộc đàn áp của người Pháp rốt lại không nhẹ đối với mọi cuộc chống đối. Hàng ngàn người bị bắt, bị giết, bị tù đọng đến chính quốc, tiếng xấu lan ra ngoài quốc tế. Các bài phóng sự của L. Roubaud (Vietnam, La tragédie indochinoise 1931), của Andrée Viollis (Indochine SOS 1935), mang thứ văn chương báo chí lãng mạn bi thảm, đã khơi dậy sự thương cảm đối với dân bản xứ, gây bất bình đối với người cầm quyền thuộc địa. Do có đà hiện diện sẵn, từ nay với tăm tiếng lan xa nên dù gặp chống đối, các tổ chức giải phóng dân tộc – hay các tập họp người mang tinh thần đó, đã có dáng không thể nào bị tiêu diệt được. Trong “Hành trình kí” của A. Thomas, “ổng nói rằng: Cõi Đông Dương khi đã sửa sang lại rồi thì tiền sẽ sa vào tay người Tàu. Người Pháp sẽ bị quét sạch và ném xuống biển mà không có thể kháng cự lại. Còn An Nam thì bất tài không tự chủ được, phải hàng phục Trung Huê…Vì người bổn xứ rồi đây sẽ theo cọng sản hết và người Tây sẽ bị đuổi ra khỏi Á châu… (Thần Chung, Sài Gòn số 144, 11-7-1929)”. Một tiên đoán tinh tế lấy từ quan sát thực tế tại chỗ, không thể coi là của thực dân đế quốc!

Khủng hoảng kinh tế kéo dài lâu hơn ở Đông Dương thì nước Pháp lại lâm vào khủng hoảng chính trị trước sự lớn mạnh của Đức Quốc Xã, phải lo chuẩn bị chiến tranh, nghĩa là phải luỵ vào thuộc địa lần nữa. Với khuynh hướng tả phái dâng cao, các hệ phái Cộng sản mang từ chính kinh đô Paris về hoạt động mạnh mẽ ở Nam Kì nhờ thể chế thuộc địa của nơi này. Các đảng viên cộng sản Pháp (Đệ Tam) như Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo là dạng người L. Roubaud gặp: quần áo tussor lịch sự đúng mốt, tay đeo lắc vàng, bút máy mạ vàng, đậu xe du lịch nhỏ, để máy nổ lớn trên đường Catinat… Tạ Thu Thâu, xuất thân trong gia đình thấp kém hơn nên quá khích hơn, lánh cái học ở Hà Nội “chỉ cốt làm quan hành chánh cho Tây” nên qua Paris, trở về Sài Gòn, cùng Trần Văn Thạch thành lập nhóm Đệ Tứ Quốc Tế (1932). Họ hoạt động công khai trên tờ La Lutte, dựa vào quy chế báo chí tự do viết bằng tiếng Pháp. Phái Đệ Tam nương vào đó, kết hợp với Đệ Tứ để tránh đàn áp.

Sự háo hức “tả” của dân chúng, lần đầu tiên xuất hiện theo với các hoạt động tân tiến (báo chí kết hợp với cổ động diễn thuyết) giúp cho liên minh Đệ Tam Đệ Tứ trúng cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn năm 1933. Đúng ra thì sự tập họp phe phái mang tính quen biết, thân thuộc hơn là từ khả năng xác định chủ nghĩa. Người dân cũng chẳng phân biệt Đệ Tam Đê Tứ khác nhau ra làm sao, cả người trong cuộc cũng hợp tác và chống đối nhau thật là dữ theo kiểu hát tuồng, như trường hợp hai ông bà Phan Văn Hùm đệ tam (vợ), đệ tứ (chồng) giành micro trên sân khấu diễn thuyết. Cho đến khi mức thù hận khẩu chiến, bút chiến ngày thường dẫn đến cảnh tàn sát sau 1945, khi một phe nắm được chính quyền, có súng.

Phong trào Bình Dân Pháp lên cầm quyền (1936), phái Đệ Tam thấy có cơ hội riêng biệt hơn nên tách ra, hoạt động quấy đảo mạnh hơn nhờ chủ trương cách mạng tư sản giải phóng thuộc địa, trong lúc Đệ Tứ loay hoay ở thành phố với loại lí thuyết quốc tế xa vời Cách mạng thường trực của Trotsky, để rốt cục khi bị đàn áp thì hầu như tan rã hẳn. Tất nhiên là những biến động không dừng lại riêng ở xứ Nam Kì hay ở các đảng Cộng Sản. Năm 1937, Nguyễn Văn Thinh, con người rồi cũng sẽ gánh lấy rủi ro của tình thế về sau, ông bác sĩ đó cũng xướng lên phong trào đòi hỏi tự trị cho Đông Dương, đòi tổ chức bầu cử, cải cách kinh tế, xã hội… Phía Bắc ngoài phái Bảo hoàng của Phạm Quỳnh còn có ý tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, đòi “trực trị” như Nam Kì để được hưởng những điều khoản tương đối tiến bộ, không phải ngập chìm trong tình trạng lạc hậu, thối nát của chế độ bán phong kiến, bán thuộc địa hiện hành.

Trong thế bảo vệ cho thuộc địa, Trung tướng Buhrer đã hô hào thành lập một Quân đội Đông Dương có thực lực để chống cự, trước mắt là chống nước Nhật hùng mạnh đang xâm chiếm Trung Hoa, tiến dần xuống phía nam. Với chủ trương thuyết Liên Á đe doạ sự cai trị của người da trắng, Nhật đem ảnh hưởng đến phần đất Đông Dương, lần này không phải chỉ là cái đích ngưỡng vọng mà là sự hiện diện của binh lực. Họ phải chận con đường tiếp tế cho vùng tây nam Trung Quốc qua ngả đường sắt Hải Phòng Vân Nam. Khi Paris thất thủ trước quân Đức (10-6-1940), Toàn quyền Catroux rồi Decoux chịu nhường bước trước yêu sách của Nhật, kí thoả ước 22-9-1940 thừa nhận sự hiện diện quân Nhật ở Đông Dương khi họ tràn qua biên giới (22-9-1940), buộc Lạng Sơn đầu hàng (22-9).

Sự lấn lướt của quân Nhật khuyến khích các hành động chống Pháp của các tổ chức quân sự, đảng phái Việt Nam. Các cánh quân Việt Nam Phục Quốc chực chờ ở biên giới Trung Việt tấn công vào Lạng Sơn và vùng phụ cận. Các đảng phái chống Pháp bên trong cũng nhân dịp này kết tập với cái tên hồi cố vinh quang xưa: Đại Việt Dân Chính của Nguyễn Tường Tam, chủ nhóm Tự Lực Văn Đàn, Đại Việt Quốc Dân của Trương Tử Anh, Đại Việt Duy Dân của Lí Đông A (Nguyễn Ngọc/Hữu Thanh), Đại Việt Quốc Xã… Đảng Cộng Sản lúc này đã tổ chức lại sau những cuộc đàn áp. Bên ngoài là hệ thống Ban Lãnh đạo Hải ngoại (1934) dưới quyền của Lê Hồng Phong, Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Bên trong, nhân Pháp khuất phục trước Nhật, Xứ uỷ Nam Kì tổ chức cuộc nổi dậy 23-11-1940, bị đàn áp dữ dội, thành quả còn lại là cây cờ sẽ thành quốc kì Việt Nam sau 1945. Tình hình chiến tranh cũng ảnh hưởng đến thành phần binh lính bản xứ (khố xanh, khố đỏ) để phát sinh các chống đối hoặc có dạng như những cuộc phản chiến đời sau, hoặc chuyển sang màu sắc dân tộc cứu nước (vụ Đô Lương của Đội Cung 19-1-1941).

Khi có thoả thuận được vào Đông Dương, quân Nhật bỏ rơi những thành phần đồng minh yếu ớt như các nhóm Phục Quốc Quân hay các đảng Đại Việt nhưng lại che chở, bám giữ củng cố các nhóm tôn giáo nội địa mới xuất hiện như Cao Đài (1926), Hoà Hảo (1939). Quần chúng của các tôn giáo này xuất phát từ các phe nhóm Thiên Địa Hội cũ được Việt hoá, địa phương hoá nên bám chặt vào địa phương, có sức mạnh từ truyền thống Bửu Sơn Kì Hương tiền thuộc địa, hay do đã được vươn lên một chừng mực tổ chức tương đối chặt chẽ học hỏi từ người Pháp. Người Nhật đã không lầm khi lựa chọn đồng minh vì người Pháp đã không thể bỏ qua những người này khi muốn trở lại, và người Cộng Sản dù đầy quyền uy, nhiều mưu mô, từng thẳng tay diệt trừ đối nghịch mà cũng phải chật vật với họ.

Nhưng sự thành công giải phóng thuộc địa lại phải đến từ phía Bắc, nơi có một quyền lực khu vực Đông Á bị Việt Nam bỏ quên cả thế kỉ khi nằm trong vòng tay người Pháp. Và như thế là các hình bóng cũ loáng thoáng trở về với tính chất đồng văn, duy văn hoá chưa được nhận rõ dù một nhân vật quan trọng, Hồ Chí Minh, đã thể hiện sự nối kết qua tạp thơ Ngục trung nhật kí viết bằng chữ Hán, cái thứ chữ tưởng đã quên từ lâu!

Từ lâu với biên giới liền lạc, giao tiếp thuận tiện nhờ bút đàm, những người chống Pháp thường chạy qua các tỉnh Nam Trung Quốc chực chờ cơ hội trở về hoạt động lại. Cho nên vùng Hoa Nam tụ tập các thành phần Quang Phục Hội, Phục Quốc, Việt Nam Quốc Dân Đảng còn sót của những biến động trước, các nhóm Duy Dân, Quốc Dân Đảng, Dân Chính vừa mới thất thế, mang chung tên Đại Việt. Cùng hiện diện nhưng không có phương tiện hoạt động tiếp nối, là các lãnh tụ Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần, cha con Trương Bội Công Trương Tử Anh, Lí Đông A, Nguyễn Tường Tam… Cái thế quốc tế của người Cọng Sản Việt tăng lên lại còn nhờ vị trí thuộc địa Hương Cảng / Hongkong của Anh, như nhóm Đông Du cũng từng lợi dụng được nhượng địa này. Chính quyền Quốc Dân Đảng Trung Quốc vẫn thường dung chứa các nhà cách mạng Việt Nam theo một tinh thần đồng văn ẩn khuất, rồi trước sự đe doạ của người Nhật hiện diện ở Đông Dương – cắt đứt đường tiếp tế của Đồng Minh, tấn công sâu bên trong từ phía Vân Nam, họ thấy những người bạn thất thế kia như một con bài chống đỡ cấp thời, và trông xa hơn, là một lực lượng thân thiện khi cần đối phó với người Pháp.

Các lãnh tụ Cộng Sản cũng nhân đó giấu tung tích, hô hào đúng như chiến thuật đương thời của Đẹ Tam Quốc Tế là đoàn kết các tầng lớp nhân dân chống Pháp đuổi Nhật dưới danh hiệu một mặt trận: Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, sẽ gọi tắt là Việt Minh. Khi biết Nguyễn Ái Quốc là cộng sản, chức quyền Trung Hoa ra lệnh bắt giam ông nhưng lại phải thả ra vì sự can thiệp của các nhân vật Việt Nam khác, những người này với tầm mắt hạn hẹp đã không vượt qua được tình cảm về địa phương, dòng giống cùng với ý thức mơ hồ về lí tưởng chống ngoại bang. Năm 1942, tướng Trương Phát Khuê và bộ tướng Tiêu Văn đỡ đầu cho các nhà cách mạng Việt Nam họp đại hội ở Liễu Châu, thành lập Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (10-1942) nhưng không có hành động thiết thực vì nội bộ lủng củng. Tướng Tiêu Văn lại giúp tổ chức đại hội lần thứ hai (3-1944) thành lập chính phủ lưu vong. Nguyễn Ái Quốc lúc này đã đổi tên là Hồ Chí Minh, với ý lẩn tránh dấu hiệu cộng sản trong tình thế mới. Ông có tham dự đại hội nhưng không nằm chực chờ bên ngoài mà lẻn về bên trong biên giới, sử dụng phương tiện ngoại viện tăng tiềm lực cho thành phần tổ chức bên trong, mở rộng tuyên truyền cho mặt trận Việt Minh, tổ chức chiến khu, thành một lực lượng mang tính toàn quốc chỉ chờ cơ hội là chiếm lĩnh chính quyền. Cơ hội đó đến với ngày 9-3-1945.

 

Hành trình thuộc địa, sự khuất nhục nhìn lại

Không phải bỗng nhiên mà một chiến dịch đốt sách kiểu Tần Thuỷ Hoàng đã xảy ra ở Miền Nam Việt Nam vào phần tư cuối thế kỉ XX. Tận cùng trong sâu kín là ý thức bộ lạc của con người đi xâm chiếm, là phá sạch giết sạch, là ý thức độc tôn văn hoá của thời kì phân biệt Di/Man còn đọng lại, và được “làm mới chính danh” lên đến tột đỉnh theo cơn hoang tưởng cộng sản của thế kỉ XX: “Chỉ của Ta mới có giá trị” – cái Ta đó là gì thì tuỳ con người cụ thể đang nắm quyền định nghĩa ra. Vì thế cho nên sách vở viết về thời thuộc trị gần trăm năm qua chỉ có một màu đen tối, làm nổi bật phong cách hào hùng của những con người cứu nước được sự cổ võ của những người đứng bên ngoài tán thưởng theo ảo vọng của mình.. Tuy nhiên nếu nghĩ rằng chế độ tư bản là một giai đoạn tiến bộ của nhân loại – cả chủ nghĩa mácxít cũng không gạt bỏ điều đó, thì sự kiện Việt Nam từ thế kỉ XIX được lôi vào trong vòng xoáy sinh hoạt chung, cũng không phải chỉ thu được những kết quả tiêu cực. Không phải chỉ có sự đau thương mất nước, không phải chỉ có nỗi đọa đày của dân tộc. Mà còn có cái gì khác khiến cho các sử gia dân tộc chủ nghĩa ngày nay không thể bỏ qua dù là đã phải trình bày dưới dạng hình phụ thuộc, bất đắc dĩ.

Hãy nhìn vào một ít cơ sở vật chất. Con đường thiên lí của thời Đàng Cựu tuy có được tạo thành, chăm chút cho thuận tiện truyền báo thông tin của một nước thống nhất nhưng vẫn chỉ là những lối mòn. Điều đó thật khác xa với các quốc lộ, đường địa phương ngang dọc về sau, chưa kể hệ thống hoả xa mà đến thế kỉ XXI này vẫn chưa có cách thay thế dù là được sử dụng dồn dập. Khuôn mặt đất nước rành rẽ hơn với các bản đồ được đo đạc, phân biệt với lân bang bằng những cột mốc đánh dấu, không phải chỉ bằng loại xác nhận mơ hồ “vùng nhà sàn và vùng nhà trệt” của Trịnh Lê với Lào, hay phụ thuộc vào sự ngẫu hứng, xoay chiều thủ lợi của các thổ ti biên giới như với Trung Quốc. Chưa kể đất nước rộng lớn hơn mà không phải mang tiếng đi xâm lấn vì đã có thực dân, đế quốc làm thay. Vùng Tây Nguyên được hiểu rõ về địa thế, con người chỉ vì có các giáo sĩ mang tín đồ lánh nạn, có bác sĩ Yersin may mắn, các viên chức Le Maitre, Odend’hal rủi ro, lặn lội trên những vùng xa lạ, đầy hiểm nguy chực chờ. Từ đó mới có Kontum để Bình Định đi sâu vào phía tây, có thành phố hoa Đà Lạt để nghỉ mát, có Ban Mê Thuộc / Buôn Ma Thuột rừng cà phê… Đúng là các chủ làng Stieng, Mnong, Bana… từng mang tin tưởng “nước thiêng”, cung nỏ chống giữ cho chủ quyền của họ, để về sau có tên trên đường phố Việt ngày nay như Nơ Trang Long… nhưng rốt lại sự lấn lướt của các quản binh lính tập đã loại trừ ảnh hưởng quyền lực Miên, Lào để gom đất về cho xứ Trung Kì, Việt Nam. Phía đông, biên giới lan thật xa ngoài đại dương, hơn cả thời vua chúa Nguyễn, ở đó người lính khố xanh của Trung Kì, lính thủ hộ của Nam Kì (Garde civile locale) tranh giành đảo biển với Nhật, Trung Hoa, những điều mà ông bí thư Xứ uỷ Nam Kì (1928) Phạm Văn Đồng hẳn không biết vì đang nằm trong ngục. Đằng khác, sự lắp ghép với Miên, Lào để thành thực thể chính trị Đông Pháp gợi ý cho Quốc tế Cộng sản buộc thành lập đảng cộng sản có tên Đông Dương trong viễn vọng cách mạng toàn cầu, ít ra thì cũng đã giúp cho những người chiến thắng vừa qua sử dụng một chiến trường rộng lớn hơn phần của người Việt, bởi vì ngay chính ở thời thuộc trị, vị trí của người Việt vẫn nổi trội hơn hẳn các tập đoàn Khmer, Lào. Lấy ví dụ rõ rệt là đạo Cao Đài đã truyền sang xứ Chùa Tháp mà Hoàng gia Cao Miên không có cách gì ngăn chặn được. Còn nói gì đến chuyện ông Nguyễn Văn Vĩnh đi đào vàng ở xứ Lào, và ngược lại, Hoàng thân Souphanouvong lặn lội học kĩ sư trên thủ phủ Hà Nội, lấy vợ trên thành phố biển Nha Trang!

Một tổ chức quản lí đất nước tuy còn có phân biệt từng vùng/“kì” nhưng trên căn bản rõ ràng đã là nền tảng cho những người cầm quyền dân tộc không phải thay thế gì nhiều và có đà để sửa đổi, ít ra là không phải quay trở về quá khứ nữa. Làng xã không còn như cũ vì đã trải qua các lần “cải lương hương chính”. Khối thôn làng, buôn plei tuy còn rộng lớn để thành sức nặng trì níu các biến cải thời thuộc địa và ảnh hưởng những chuyển động về sau nhưng rõ ràng đã có những khu vực dân cư làm cơ sở quần chúng thu nhân những biến đổi văn minh. Đó là các nơi có tên mang dáng dấp cũ là “thành phố” / “thành thị” nhưng nội dung sinh hoạt của những người sinh sống nơi ấy không phải chỉ gói trọn trong một thành đất/gạch vây quanh, với nhà tranh vách đất dọc theo những đường đất lầy lội thỉnh thoảng đón cờ lọng quan đi hay ngựa trạm dong ruổi. Chưa kể có nơi vốn chỉ là xóm đồn-biển “hải phòng”, trước khi người Pháp tới mở mang thành thương cảng đệ nhất xứ Bắc. Không còn thấy “thành” ở Sài Gòn, Hà Nội tuy Huế còn đó vì ngôi vị chủ nhân cũ xưa thể xoá được. Dấu vết xưa cũ chưa mất: Cochinchine, Annam, Tonkin là tiếng Pháp nhưng Ba Kì ở trên miệng người Việt vẫn như là bằng chứng riêng biệt. Sài Gòn như một thành trì của phương Tây, Huế như một hồi cố nuối tiếc không phải không chứa mầm mống phản động với đổi thay. Hà Nội giữ địa vị thủ phủ Đông Dương, là vị trí sẵn sàng để thành thủ đô nước độc lập, hãnh diện với quá khứ lịch sử của vùng đất được ghi chép kĩ lưỡng để rồi sẽ lôi đất nước theo hệ luỵ của lịch sử ấy.

Quá khứ cũng không phải là điều để lưu luyến vì chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ Hán, chữ Nôm, sự cắt đứt này có là “âm mưu của thực dân” đi nữa thì nó cũng đã đem tình hình “biết chữ”, phổ thông kiến thức đi vào dân chúng, rộng lớn hơn tình trạng học vấn kéo dài “mười năm” mà chỉ là gói trọn trong “đèn sách” của người xưa. Chữ quốc ngữ không phải chỉ làm đà cho một nền văn học thực sự dân tộc thành hình trên cấp độ quốc gia mà trong ứng dụng “bình dân” hơn, nó đã khiến cho người dân đọc truyền đơn cách mạng, hiểu lời kêu gọi chống đối dễ dàng hơn các bản hịch Cần vương phải có người giảng giải. Một nền văn học chữ quốc ngữ ra đời tuy cũng còn chạy đuổi theo một cách tội nghiệp các biến chuyển văn học ở chính quốc nhưng cũng là có đà khởi sắc, tự tín, không phải nhún nhường xấu hổ “lời quê góp nhặt dông dài” như xưa nữa.

Tất nhiên người Pháp đem lại cho đất nước Việt Nam một khuôn mặt mới không phải là do thiện ý của họ dù là trong các lời kêu gọi, quảng bá chính sách vẫn có nhắc tới, nhấn mạnh đến sự “khai hoá” dân bản xứ. Không có ý nghĩ nào ngờ nghệch hơn. Nhưng quả thực trong khi kiến thiết thuộc địa theo hướng chiếm lĩnh và thu hoạch, họ không thể đem đến một mẫu hình nào khác với nền văn minh của họ, và ở trường hợp này, là nền văn minh chủ thể của nhân loại, ít ra là như ta thấy diễn biến trong vài thế kỉ nay, chưa thấy tàn lụi dù vẫn có khủng hoảng liên tục. Chính từ trong nền văn minh đó mà ta thấy một nền khoa học toàn cầu, nhân bản xuất hiện ở Việt Nam. Chưa có một nền công nghệ để chế tạo súng đạn, lập thuyết khoa học tự nhiên, thực nghiệm nhưng sớm sủa hơn hết, các sĩ quan hải quân quản lí đất Nam Kì đã tò mò, lăn lội tìm hiểu đất nước, người dân bản xứ, công việc không phải đã không ảnh hưởng đến phong cách, ví dụ của Huình Tịnh Của khi thâu thập một cách vô tư các bản văn chống đối người Pháp, kể chuyện đốt phá “dương di đạo đường” – kể chuyện chống chính ông! Tình hình nghiên cứu mở rộng, đẩy lên đến tầm mức tổ chức Hội Nghiên cứu Đông Dương ở Sài Gòn, Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội, Hội Đô Thành Hiếu Cổ ở Huế để từ đó là những cơ quan nghiên cứu phồn tạp thời Dân chủ Cộng hoà… từng góp phần không nhỏ cho chiến thắng và còn củng cố cho chế độ ngày nay. Nói tóm lại, từ trong thuộc địa đã có một lớp người Việt Nam mới ở thế kỉ XX có một chừng mực xâm nhập vào thế giới toàn cầu, cụ thể là có đủ tầm mức để đối phó với người Pháp, không lúng túng như ông bà họ ở thế kỉ trước.

Trong sự giao tiếp, có những phản ứng qua lại không phải chỉ là lỗi của chủ nhân thuộc địa, hay thành phần thủ lợi của chế độ. Học sử Pháp để ngấm dần phong cách Pháp thì phải:”Mes ancêtres sont des Gaulois”. Có bị mắng “sales annamites” mà tức giận thì hãy nhớ lớp người xưa chửi “Dương Di”, “Bạch Quỷ”. Và ngay chính học sinh đương thời cũng gọi các thầy giáo Tây là “thằng” hết! Từ những mâu thuẫn vụn vặt, có tính thời điểm như thế mà cứ ghìm giữ để biện minh cho sự phản kháng quyết liệt, dài lâu thì hẳn sự thiệt thòi đưa đến cho bản thân dân tộc là điều không tránh khỏi tuy là khó thấy ra.

Tuy không thể nói là người dân sống sung sướng dưới thời thuộc Pháp nhưng sự cùng cực của họ có phần là khổ nạn của đời sống nói chung, của đổi thay. Phan Thanh Giản qua Pháp đã ngạc nhiên về việc họ thu nhiều thứ thuế, Minh Mạng cũng chê trách chính quyền ngoại trị Batavia/Jakarta bóc lột dân chúng, và hãnh diện về tính nhân đạo trong cách thức cai trị của mình. Thực tế đã không như ông ta tưởng – và chúng ta bây giờ hiểu. Vua quan ngày xưa vốn bằng lòng sống với sự bẩn chật, cả theo nghĩa cụ thể là quan đầu tỉnh phơi áo bắt rận, quan đại diện vua đi điều đình, gãi luôn tay trước người ngoại quốc vì không hề biết đến hệ thống phòng dịch chữa trị của mấy viện Pasteur về sau. Cho nên vua quan không thấy rằng muốn phát triển phải thu nhiều thuế, phải tận thu thuế. Chỉ có thuế đinh và thuế điền nên triều đình Huế chỉ có thể mua vài chiếc tàu rồi không phương tiện sửa chữa, để hư hỏng… Trong tâm thức đó thì việc Chống thuế của người dân, của phe Đông Kinh Nghĩa Thục chẳng hạn đúng là Lạc hậu, là “phản động”, mà người “cách mạng” lúc có chính quyền rồi mới thấy ra – lại không chịu để ai hô hào phản đối như trước! Vì một phần bị ghìm nhốt trong sự uất ức phản kháng, những người sắp lãnh đạo đất nước do đó đã không đủ tầm nhìn lớn rộng vừa với tình thế phức tạp trong tự chủ, khi thoát khỏi vòng tay bảo trợ của người trước. Ông Nguyễn Vỹ, người của trường phái thơ Bạch Nga hai chữ, làm báo, làm chính trị tài tử, đến năm 1971, sống ở Sài Gòn, viết một loại tiểu thuyết hồi kí, nhắc câu cảnh cáo của Ernest Babut: “Phải coi chừng Tàu, Nhựt thay thế Pháp đè các anh”. Ông ta vẫn cho là con người chống thực dân, tận tình bênh “người An Nam” kia vẫn còn chấp chứa dòng máu thực dân để hù doạ người Việt đang đòi đánh đuổi người Pháp không nương tay. Thế còn nói gì đến những người đang đứng ở tuyến đầu của nhân loại văn minh, say men Đại đồng mới của một phe khác!

 

Phụ lục 1

1.-Văn tế vong hồn mộ nghĩa.

Tự đức thập tứ niên, thập nhứt ngoạt, thập ngũ nhựt chi dạ, thống quán (Bùi-quang-Mỗ) suất tương nghĩa binh tựu Cần-giộc, công phát dương huyện, thiêu đắc dương di đạo đường, đạo quân, thích trúng dương quan tri huyện, tịnh Chà-và Maní đẳng, nghĩa binh trận vong, cai thập ngũ danh, kỳ tú tài Nguyễn-đình-Chiểu, phụ tế văn:

…Nhớ linh xưa!

…Khá thương thay!

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh,

Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

Mười tám ban vỏ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thơ không chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi,

Trong tay cằm một ngọn tầm vong, chi nài sắm dao tu, nón gỏ.

Hoa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ.

Chí nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Ma-tà, Ma-ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

Những lăm lòng nghĩa sau dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ!

Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay yên ngựa chở thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ qui, nào đợi gươm hùm treo mộ.

Đoái sông Cần-giộc, cỏ cây mấy dăm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường-bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

…Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính Ma-tà, chia rượu, găm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

…Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc. linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã đành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ Thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi, có linh xin hưởng!

 

2.-Ca trù

Ông Lưu Bị đồn binh Tiểu bái, thuở còn đương tướng quả binh vi. Ngộ Kỉ-linh thập vạn hùng sư, trì khu chiếm bên thành hạ trại. Lữ-phụng-công dùng mưu hoà giải, phân lưỡng chi xạ-kích viên-môn. Cung khai như du nguyệt hành thiên, tiến phát tợ lưu tinh lạc địa. Tay cầm dắc Kỉ-linh, Lưu-Bị khuyên lưỡng gia tương giải binh nhung. So trong Tam Quốc anh hùng.

Triều-lê-quí có bà liệt tiết, mười chín thu giữ một niềm tây, đam tàn dung mà nương chốn am mây, đạo thần tử tình trong phu phụ. Vạn cổ gi luân chiêu vỏ trụ, nhứt tâm trung nghĩa đối quân vương: lòng khăng khăng trải tấm thiết cang, chén tân khổ ngọt ngon mùi chánh khí: đã nên đứng trung thần bất nhị, lại khác bề liệt nữ bất canh! Vững bền hai chữ trung trinh.

[Rõ ràng có một dạng ca trù “bình dân”, khác với dạng cao cấp được dẫn giải trong sách vở văn học về sau. Và cũng không thấy các nhà viết văn học sử nói về một hình thức sinh hoạt rõ ràng khá bình thường, có vẻ nhộn nhịp ở phần phía Nam đất nước này.]

Trích trong

Quấc âm thi tập

… Paulus Của

(Dòng Việt số 20, USA 2006 in lại nguyên trang đầu của tập

Ca trù thể cách…Quấc âm thi tập… xuất bản năm 1907).

 

Phụ lục 2

Dậy! Dậy!

Bài vè cổ động lưu giữ trong gia đình của một cựu đảng viên cộng sản, nguyên là quản cơ lính khố xanh ở Bình Định, do Ngô Đức Đệ vận động kết nạp (Nguyễn Thanh Mừng – Trần Huyền Trang, Huyền tích kinh xưa, Nxb. Khoa học Xã hội 2005). Có thể đem đối chiếu với ý kiến của những nhân vật cao cấp hơn như Hải Triều Nguyễn Khoa Văn 1933, 1935, hay Nguyễn Ái Quốc trong Đường kách mệnh 1925/1927 hay, ở tầng lớp bình dân hân hoan với triển vọng của cuộc Tổng công kích Mậu Thân (1968), với chiến thắng dứt khoát 1975. Người phu xích lô đã phấn khởi nói với khách đi xe giữa bom đạn: “Rồi đây sẽ không còn ai giàu ai nghèo, không còn người đạp xích lô”(Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt, Nxb. Văn hoá Thông tin 2005), tương tự như đạo diễn Đặng Nhật Minh đã ghi được trong khi theo đoàn quân Nam tiến tháng 3-1975.

Dậy dậy, những người nô lệ!
Dậy dậy, những kẻ bần hàn!
Công lý nay đã rõ ràng
Ta nên đứng dậy một phen tranh hùng
Quyết đánh đổ cái vòng áp bức
Xã hội xưa ra sức phá tan
Lập thành Xô viết liên bang
Loài người thảy được leo thang đại đồng
Không có kẻ chủ ông đầy tớ
Không có người đói khó khóc than
Công nông sung sướng muôn ngàn
Anh em binh lính hoàn toàn tự do
Mau mau đứng dậy mà lo!

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)