Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 22, Nhận Định, Song ngữ Email bài này

Những mảnh vỡ của bài trường ca

 

Tổng kết của Đinh Từ Bích Thúy
chủ đề văn chưong nữ quyền damau.org 20,21,22

Những Mảnh Vỡ của Bài Trường Ca Fragments of an Endless Song
Da Màu số 22 là số thứ ba về chủ đề nữ quyền. Đây không phải là số kết thúc, khép cửa lại không gian của chủ đề, mà chỉ là trạm dừng nhìn lại—một khoảnh khắc lắng đọng để tự xét mình, cùng lúc chuyển bước đến những địa hạt liên hệ khác. Qua những sáng tác, tiểu luận, tác phẩm dịch thuật, truyện chớp, thơ, đã xuất hiện trong tháng Ba này, cũng là tháng ghi nhớ Lịch Sử Phụ Nữ (Women’s History Month), chúng ta đã thấy rằng ý niệm nữ quyền thật sự là một giang sơn bao quát—là Mạch Phôi Sinh, là mother lode cho nhiều đề tài khác trong văn chương. Như vậy, từ feminism, thay vì “nữ quyền” có lẽ nên được gọi là “chủ thuyết phụ nữ” thì chính xác hơn. Nhà văn Vũ Hạnh, trong truyện dã sử Cổ Tích Ngày Xuân cách đây 40 năm qua, đã cho diễn ra cảnh đối đáp giữa ca nữ Chung Từ Ly và tên tiểu nhân Mai Trầm. Chung Từ Ly từ tốn dùng tam đoạn luận với Mai Trầm, “Những kẻ khinh mạn đàn bà không phải con của giống người …Vì chúng đâu biết có mẹ… Mẹ chúng chẳng phải là đàn bà hay sao?”[1] Một cách suy luận chắc nịch, không thể phủ nhận.
Vũ Hạnh không phải là nhà văn có lối nhìn tích cực từ quan điểm phụ nữ duy nhất trong thập niên 1960-1970. Ngoài ông còn có những nhà văn như Nguyễn thị Hoàng, Nhã Ca, Nguyễn thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trùng Dương, Trần thị Ngh. Vào thời đại tiền chiến chúng ta có những tờ báo phụ nữ ở hai miền Bắc, Nam với số tổng phát hành trên dưới nghìn số; các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn tranh đấu cho quyền tự do căn bản của phụ nữ như Nhất Linh, Khái Hưng, và Hoàng Đạo. Trong những thập niên 1930-1950, chúng ta đã có những nhà văn phụ nữ như Tương Phố, Anh Thơ, Mộng Sơn, Thụy An, Nguyễn thị Vinh, và Linh Bảo. Và từ đầu thế kỷ thứ 20 cho đến giai đoạn Nhân Văn Giai Phẩm, chúng ta đã có Phan Khôi, một nhà phê bình bất khuất với lối nhìn vượt thời gian về vai trò phụ nữ. Ngay từ thập niên 1920, Phan Khôi đã thấy ý niệm trinh tiết dành cho người đàn bà trong đạo Khổng có nhiều điều phi lý phát xuất từ sự bất an và ích kỷ của đàn ông. Phan Khôi cũng đã phân biệt chữ “trinh” như sự đàn áp bên ngoài của đàn ông theo Khổng Học, với chữ “nết” là lòng thành của người phụ nữ đối với bản thân và tâm hồn mình.
Bao nhiêu năm trôi qua, qua những tang thương, ly tán, ở ngoài biên cương nước Việt Nam, trong những xứ sở tự do, những nhà văn phụ nữ hiện nay đã thẳng thừng hơn trong cách phát biểu những tư tưởng, ước vọng và thèm muốn của họ. Hiện nay, ở ngoài nước, chúng ta có Mai Ninh, Trần Mộng Tú, Vũ Quỳnh Hương, Trịnh Thanh Thủy, Lê thị Huệ, Phan thị Trọng Tuyến, Trần thị Kim Lan, Đặng Mai Lan, Trần Diệu Hằng, Lê thị Thấm Vân, Lê Quỳnh Mai, Đặng Thơ Thơ, Lưu Diệu Vân, Đỗ Lê Anh Đào, v.v. Nhưng sau những “chấn động” phần nhiều từ phía những nhà văn phái nam về ý niệm tình dục trong văn chương “của các nhà văn nữ,” chúng ta vẫn chưa thấy chủ thuyết phụ nữ được thông hiểu tận tường, trong văn chương Việt ở ngoài nước cũng như trong đời sống hằng ngày. Nó vẫn có một khuôn mặt trừu tượng, xa lạ, với nhiều mảnh vỡ vụn như một bức chân dung đàn bà của Picasso (cũng là một thiên tài nghệ thuật không có lòng nhân với đàn bà). Trong văn chương vẫn chỉ là những giai thoại bạo dâm, hỗn loạn, đã diễn đi diễn lại trong bài thơ Đất Hoang của T.S. Eliot, hoặc những khua động gay cấn về thể xác nhưng vẫn chưa giải tỏa được sự câm nín, đàn áp cho phụ nữ nói chung. Nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc, luôn luôn ôn hòa, tế nhị, và kiên nhẫn, đã nhận định về vấn đề này như sau:
“Chủ thuyết phụ nữ là một vấn đề không đơn giản. Chúng ta biết là chủ thuyết này đã được phát triển qua nhiều giai đoạn. Chủ thuyết ấy đã được phát biểu và làm cho biết đến từ những giọng nói và những mắt nhìn khác nhau. Nó bao gồm hầu như mọi mặt của đời sống con người hiện đại… Để hiểu nó, nếu được giáo dục một cách chính quy, thì có lẽ là điều tốt và rất cần thiết.”
Có lẽ vì vấn đề quá bao quát, quá phức tạp, quá đa dạng, cho nên trong quá trình học hỏi về chủ thuyết phụ nữ chúng ta hiện nay vẫn chỉ là những người đuổi bóng, thu nhặt âm hưởng, mà chưa có một quan niệm rõ ràng về ước vọng và quyền lợi của người phụ nữ. Ngay ở một xã hội tự do, Cindy Sherman, họa sĩ trình diễn (performance artist), cũng chỉ có thể định nghĩa vai trò phụ nữ qua những cách người đàn bà “hóa trang”—giả dạng làm người khác: Henry VIII, một ông vua cổ xưa, độc đoán (biểu hiệu cho truyền thống văn hóa hà khắc); một thằng hề hời hợt (biểu hiệu cho sự đàn áp của những mối giao tế trong xã hội); một bà nội trợ tháo vát (biểu hiệu cho khuôn khổ hạn hẹp của đời sống gia đình). Chàng sinh viên của Đặng Thơ Thơ không tìm được khuôn mặt của người vợ Khổng Tử trong Kinh Lễ, cũng vì Khổng Tử đã “cố chắt thân xác… Như người ta ép tinh dầu. Bông hoa và mùi hương không thuộc về nhau.” Hoàng Chính qua bao nhiêu những quán bia ôm, những chốn ăn chơi hào nhoáng, vẫn không kiếm thấy hình bóng nàng công chúa… lưu lạc nhưng có lẽ vẫn còn đang thấp thỏm đợi chờ người hùng Việt Kiều đến cứu nàng ra khỏi thân phận Thúy Kiều. Người họa sĩ trung niên của Nguyễn Viện vẫn theo đuổi cho đến đường cùng một hình ảnh hoang dã lý tưởng của cô bé Tiểu Phụng—hoặc một nước Việt Nam trong thời mẫu hệ chưa bị ô nhiễm. Và những nhân vật trong truyện “Cua” của Phùng Nguyễn trong Da Màu số 21 là những nhân vật dối trá. Cảnh đời di dân đi chéo ngang qua dòng chính của “Cua,” như một tấm gương hư ảo, đã làm cho những liên hệ giới tính và gia đình—giữa vợ chồng, con gái và người bố, trở nên tức nghẹn, nhưng cũng nhẹ hẫng, khôn kham.

Những rạn vỡ và chi phối đã có lúc làm nhà thơ Lâm thị Mỹ Dạ, ở cách xa một đại dương, trong lãnh thổ Việt Nam, cũng phải kêu lên:

Trời ơi,

Làm sao có một cuộc đời

Để cho tôi ném đời mình vào đó

Mà không hề cân nhắc, đắn đo

Rằng cuộc đời ấy còn chưa đủ[2]…..

Thân phận đàn bà, bất kể không gian và thời gian, đeo đẳng mãi những ưu tư. Nhưng có lẽ những xung đột, rạn vỡ về hình ảnh phụ nữ không hẳn biểu tượng cho sự tuyệt vọng, mà cũng biểu hiện ý niệm phong phú về hình ảnh phụ nữ. Trong bài nhận định về truyền thống Hồ Xuân Hương, Đinh Linh nhìn thấy những nét mơ hồ, úp mở về con người thật và về thơ của nữ sĩ là một bằng chứng hiển nhiên cho sức mạnh sáng tạo bất diệt của cá nhân Hồ Xuân Hương và cũng là của truyền thống ca dao truyền miệng. Hoàng Ngọc Thư, trong bài tiểu luận, “Quyền Tối Thượng,” đã có một cái nhìn quân bình giữa truyền thống và hiện đại về sứ mệnh làm mẹ. Thật cảm động khi đọc về những cảm nghĩ của chị, đề cao trách nhiệm cao cả của người mẹ trong một thế giới mà đàn bà Tây Phương đang xem chuyện có con như một vấn đề khoa học hóa, hoặc chỉ là cách nới rộng khả năng tự quyết có phần duy ngã của họ.
Trong cái nhìn hướng về tương lai trước mặt, người phụ nữ Việt, như Orpheus, ở trong một tình trạng bấp bênh vì cũng bị lôi kéo bởi quá khứ. Chúng ta vẫn còn tiếc nuối những truyện cổ tích đẹp của thời xa xưa, như Andrew Lâm đã tóm tắt rất thơ mộng và sâu sắc trong bài tiểu luận Đứa Trẻ Giữa Hai Thế Giới (Child of Two Worlds),[3] “Khi sống trong một không gian chưa tiến bộ hoàn toàn, nơi đất đai ruộng vườn còn ngự trị trong tâm khảm chúng ta, nơi những ràng buộc tình cảm có giá trị vĩnh viễn, và nơi truyền thống còn ở trong thể dạng cụ thể, là được sống trong một thế giới thần tiên.” Làm sao để có thể gìn giữ giấc mơ đẹp của thế giới này, mà vẫn không bị ru ngủ, hay bị dụ dỗ để rồi vẫn chịu đựng những bất công chưa được san bằng? Có phải là qua ảo thuật, hay qua lòng tự tin trong sự biền vững của tình yêu và truyền thống văn hóa, mà “Bà Nội” của Vi Lãng đã đạt được hạnh phúc, “Nội hát… lời đoạn này qua câu khúc khác, hát có vần có điệu, mỗi bài hai hay bốn câu. Hát cứ tuôn ra không ngừng nghỉ…”
Sau nhiều năm bị đè nén giọng nói, chúng ta, những người đàn bà cầm bút, những người vợ, người mẹ, người con, những người trong vai trò lãnh đạo, vẫn đang tập hát. Những bài sáng tác, những đoạn văn trên ba số chủ đề phụ nữ, số 20, 21, và 22, là những bài hát đang được chắp nối. Đây là điểm khởi đầu, không phải là đoạn kết. Những ngọn đèn dầu của chúng ta không bị màn đêm cướp mất ánh sáng như chị Trần Mộng Tú đã lo ngại, mà sẽ giúp chúng ta ra khỏi hang tối, ánh đèn cũng như cuộn chỉ hồng của Ariadne, sẽ dẫn đường ra khỏi mê lộ của con bò thần chưa được hoàn toàn văn minh hóa.

Da Mau 22 is the third issue on feminism. This does not represent our last issue on the subject matter, but instead serving as a marker, a time to take inventory—to further question and explore, and to transition ourselves into other related areas of concern. The stories, essays, translations, and poetry that have appeared on Da Mau during the month of March–also known as Women’s History Month—reflect the consensus that feminism represents a lush, fertile realm—it is indeed the mother lode giving birth to several other disciplines in contemporary literature. Feminism—from its more limited, legal framework, has evolved over the years to cover all aspects related to women’s lives. The writer Vũ Hạnh, in his modern fable, Spring Fairytale, nearly 40 years ago had depicted the following exchange—when the feminist singer Chung Từ Ly argued before the malevolent Mai Trầm, “Those who despise women are not children of men…. For it means that they deny the existence of their mothers…. Aren’t their mothers women too? A rock-solid assertion.Vũ Hạnh was not the only writer in the 1960s-1970s period who supported a feminist view in literature. Among his contemporaries were the women writers Nguyễn thị Hoàng, Nhã Ca, Nguyễn thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trùng Dương, Trần thị Ngh. During the period before the Vietnam conflict, in the early part of the 20th century through the 1940s, we had many women’s journals and newspapers in both the North and South, with circulation reaching at least a thousand readers. We also had the Tự Lực Văn Đoàn Group, with Nhất Linh, Khái Hưng and Hoàng Đạo advocating for basic women’s rights. During the 1930s-1950s period there were women writers writing about women’s issues such as Tương Phố, Anh Thơ, Mộng Sơn, Thụy An, Nguyễn thị Vinh, and Linh Bảo. Also, from the beginning of the 20th century until the period of Nhân Văn Giai Phẩm, we had Phan Khôi, brave, independent, and unyielding, who made an important distinction between the notion of trinh tiết or chastity as imposed by men of inflexible Confucian leanings, and nết or loyalty to one’s body and spirit.

Years later, after a protracted war, through many painful changes and separations, in many liberated environments, we have seen more and more Vietnamese women writers speaking honestly about their thoughts, hopes and desires. Outside of Vietnam at this point there are Mai Ninh, Trần Mộng Tú, Vũ Quỳnh Hương, Trịnh Thanh Thủy, Lê thị Huệ, Phan thị Trọng Tuyến, Trần thị Kim Lan, Đặng Mai Lan, Trần Diệu Hằng, Lê thị Thấm Vân, Lê Quỳnh Mai, Đặng Thơ Thơ, Lưu Diệu Vân, Đỗ Lê Anh Đào, and many more. Yet, after all the fuss–mostly from the Viet male writers’ camp–about “sex in literature by Viet women writers,” we still have to concede that feminism has not been fully understood or appreciated, in literature or in our daily lives. Feminism still reigns as an abstract portrait of “the Other,” with many angles and fragments, like a painting by Picasso (a genius who was not kind to women); anecdotes of oppression and rape, reenacted through bits and pieces in T.S. Eliot’s The Wasteland; or evoked as the sounds and fury of sexually driven females that still do not quite break the collective silence. The critic Bùi Vĩnh Phúc, ever patient and optimistic, has commented thus,

“Feminism is not a simple issue. We know that feminism has gone through several stages. Feminism has spoken and made itself known through various voices, various points of view…. To understand feminism, if one could construct a proper inquiry, that would be an ideal and necessary situation.”

Perhaps because the subject matter is so broad, so complex, so multifaceted, that in our exploration we have become chasers of shadows and collectors of broken sounds. We are still at a loss when it comes to women’s desires and their scope of power. Even in a supposedly free society, the performance artist Cindy Sherman can only define woman through her roles and disguises: as Henry VIII (representation of the ancien regime, arbitrary and capricious); as a shallow clown (representation of social pressures); and as a 1950s-era housewife (representation of conformity and the strictures of family life). Similarly, in this issue, the male feminist scholar in Đặng Thơ Thơ’s elegiac story, “The Wife of Confucius,” could not find the face of Confucius’s wife anywhere in the faintly scented, fragile ancient text that her great husband had penned. Confucius had “squeezed and confined the female flesh, to extract the spirit…the way a perfumer extracts an essence from a flower. Flower and essence do not belong together.” Perhaps consistent with this urgent need for pure essence, in “Lost,” Hoàng Chính creates a modern fractured fairytale, about a Viet-Kieu “prince” forever in search of his elusive princess—a virgin whore, a woman without a name or a face, as his hope for redemption. The middle-age artist in Nguyen Vien’s novella will pursue until the end of his road the wild, ideal image of Tieu Phung—a baby phoenix of some far-off, pre-Confucian era where matriarchy was still the norm. While “cultural chastity” still seems to be the age-old quest for many male Viet writers (and non-writers), Phung Nguyen on the other hand seeks to understand deception and loss of innocence. In the deeply moving story Crabs, we see that his characters, in various degrees, are liars, yet their lies reflect the truth about their genders and familial relationships—husband and wife, daughter and father. Their lies both distort and ennoble them.

These fragments—shards of truth about women’s condition, or simmering contentions, has prompted the poet Lâm thị Mỹ Dạ, from half a world away, to lament:

Oh God, if there were a life

Where I could throw my own life—

Life I would not weigh and measure

And say: That’s not enough

Women’s fate, regardless of space and time, is burdened with conflicts. Perhaps, from another perspective, these conflicts do not presage despair, but speak of the richness, the infinite ambiguity of being female and resistant to clear narratives. In his essay on Hồ Xuân Hương, Linh Đinh affirms the elusiveness in the person and poetry of Hồ Xuân Hương. This elusiveness, this “scent,” is in fact a testament to her immortal creative spirit and the vitality of the ca-dao tradition. Hoàng Ngọc Thư, in her essay, “The Highest Responsibility,” maintains a balance between tradition and modernity. It’s deeply inspiring to witness her affirmation of motherhood in today’s society where the majority of Western women regards the right to bear children as a scientific quest tinged with solipsism and an individual sense of manifest destiny.

In looking ahead, the modern Vietnamese woman, like Orpheus, is nevertheless vulnerable to the pulls of the past. We are still nostalgic for fairytales. Andrew Lam has summed it up quite romantically in Child of Two Worlds: “To live in a less than modern society where land still holds your imagination, where ties are permanent, and where tradition is concrete, is, in a way, to live in an enchanted world.” How do we lead a charmed existence without being lulled by false pride, indifference or inequality? Do we make it happen through magical realism, through love, or through faith in a deeply ingrained cultural tradition? It appears that the “Magical Grandmother” in Vi Lãng’s flash story has achieved deep fulfillment, “[My] grandmother sings… the words of one part of a song merging into another song, [she] sings with rhythm and rhyme, each song has two or four refrains. She sings, words pouring out of her, unceasing….”

After many years of being silenced, we, women, thinkers, writers, wives, mothers, daughters, activists, leaders, have begun to sing. The stories, the words, the poems that appear in Da Mau’s three issues on feminism, issues 20, 21, and 22, are songs in the process of being merged into one unceasing Song. This is. Now. The beginning. Our lamps will not be engulfed by the dark, as Trần Mộng Tú has feared, but will show us the way out of the cave, like Ariadne’s red thread uncoiling its heart from the Minotaur’s labyrinth.

Đinh Từ Bích Thúy


[1] Từ Những Truyện Ngắn Hay Nhất của Quê Hương Chúng Ta (Sóng: 1973), tr. 723, 737.

[2] Trích từ bài thơ Không Đề của Lâm thị Mỹ Dạ. Bản dịch tiếng Anh của Martha Collins và Nguyễn Bá Chung, trong tập thơ Cốm Non (Green Rice) (Curbstone Press: 2005), tr. 68-69.

[3] Andrew Lâm, từ Những Giấc Mơ Hương (Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora) (Heyday Books: 2005), tr .14.

 

 

 

 

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)