Trang chính » Truyện ngắn Email bài này

Đá thủy chung

1-Gió luồn qua rừng thông, uốn lượn những chùm tiếng rì rào qua lớp lớp đỉnh xanh, vi vút loang tỏa trên những con đường vắng vòng quanh các vùng đồi, rồi thong thả phả nhẹ lời thở than sau cùng xuống ngôi nhà nhỏ. Đêm đêm nằm nghe gió than van chút niềm đau ngọt ngào…
Tuy vẫn mở bừng mắt khá lâu trước giờ chuông báo thức, nhưng hôm nay tôi nghe như những đợt gió bình minh qua sớm hơn mọi khi. Và như mọi sáng, tôi không thấy tia nắng nào đến từ khung cửa sổ khép hờ. Gió vẫn thổi bay mặt trời, mang theo cả chim chóc trong vườn. Trong nhà cũng không còn ai, những đứa con bắt đầu vào đời, Kiên làm lại cuộc đời mình, một chỗ khác.
Tôi chán nản khi nghe tôi bắt đầu ngày bằng một tổng kết. Tại sao ? Nơi này đã như thế từ lâu. Trước cả lúc Kiên và tôi chẳng còn gì để nói với nhau một cách bình thường. Và càng thinh không hơn nữa từ khi đôi bên buộc lòng hình thức hoá chuyện xa nhau. Luật sư và điện thư luân phiên phát biểu qua giấy tờ và quang mạch. Mọi vấn đề được tuần tự giải quyết êm thắm. Như chưa hề có một nếp gấp, như chưa bao giờ gặp một nẻo đường khúc mắc trong suốt hai mươi lăm năm đời chung. Như nơi chốn này.
Nơi bốn mùa lặng lẽ âm u, xa biển nhưng lắm đụn cát trắng với nhiều ốc sò hóa thạch, xa núi nhưng lởm chởm gò đống đá vôi, gần phố thị ồn ào mà đồi thông đôi ba chục mộ. Điểm sống nhỏ thoi thóp trong đám quạ đen nín lặng lượn quanh vài nóc chuông nhà thờ. Ngày đêm gió đại dương xoay tròn hơi nước mặn, xô đẩy những mảng mây mọng nước đong đưa trên những mái nhà cũ kĩ, đem về luân phiên mưa giông, mưa bụi và mãi mãi mưa phùn. Suốt năm mưa phùn. Thứ mưa phùn hoài cổ… Một cổ tích từ nguyên thủy đến tận bây giờ. Một vùng thời tiết quá bé nhỏ để được vệ tinh có thể nhìn thấy, đã chập chồng bao tầng địa chất vẫn chưa thấy mặt trời thương hại quét cho một nhánh sáng tàn mùa, cuối thiên kỉ. Một thung lũng của lãng quên và lãnh đạm, cho mưa gió và thời gian tràn về lắng đọng. Thì phiền muộn làm chi ?
Mấy hôm trước, chị Thương nhắn trong điện thoại, giọng nhung mềm : Về đây cúng giao thừa với má và chị. Đời hãy còn vui vẻ lắm.
Tôi viết vào máy điện toán : Chỗ này cũng dư  sức vui như Tết, dù từ mươi năm nay, hơn một nửa dân làng lần lượt bỏ đi. Người đi phụ bạc ư ? Chỉ nên biết rằng kẻ ở, làm lính gác đền, là tình nhân đời đời thủy chung, trước sau như một. Chỉ nên trước sau như một với tình.
Máy thì thào kiên quyết : Má nói em cứ suy tưởng lung tung, hết thời kì không tưởng lại đến thời kì lí tưởng, hãy về với trần gian thực tại. Má dọn bàn thờ, sửa soạn nhang đèn, mâm quả. Chị đã cắt lá, ngâm nếp vân vân và vân vân. Có em má sẽ khuây khỏa, quên buồn…vân vân và vân vân.
Trời đất hỡi, tưởng như má nói chứ không phải chị nói. 
Mỗi năm vào mùa hoa tuyết về bên này Đại Tây dương là bên kia biển Thái Bình, má tôi bỗng ngọ nguậy sống dậy, đôi ba ngày bà đưa hồn về thăm chốn cũ. Không gian nhỏ chị Thương và màn ảnh tôi tràn ngập những chuyến đi về hớn hở, vui vẻ, buồn rầu. Bà say sưa nhắc nhở, kể lể miên man. Những bóng hình tuổi xanh, càng lúc càng xanh…Những truyện kể đường thiên lí, càng lúc càng thiên lí. Những chú A, bác B, những cô C, chịø D…cho đến ông X, bà Y…những năm Thìn, năm Thân, năm Dậu, những trận Đức Hoà, Đức Huệ…Những bóng hình thiên cổ. Những đời người quá sức đẹp đẽ, cực kì ngây ngô, tuyệt đỉnh trái oan hay tức tưởi tầm thường, nhưng tất cả vô cùng xa xôi, đến nỗi như chưa hề có thật.
Từ mười năm nay chị Thương về sống với má. Tôi được hai bông hồng cài áo vào dịp lễ Vu lan. Và vô số những điệp khúc, những nhịp đời phải nhớ, những hoang đường, truyền thuyết không được quên.
Ôi những điệp khúc, những nhịp đời…tới một lúc nào đó chợt mang mặt nạ dữ đằn, lãnh đạm, vô tình. Tôi thuận tay ngắt một chút xa lạ và vô tình, gửi đi.

Bên này mời mọc tổ tiên, bên kia cũng cúng thỉnh ông bà. Cách một vài đại dương, thân nhân thế nào cũng ít nhiều bối rối…Tội chưa ? Phải phân thân, phải đáp phi thuyền voyager, ariane, mir, đi máy bay concorde, hay cỡi cá kình cá voi cá nược? Và hội ngộ trong im lặng.
Những kẻ đang khai quật hầm mộ, tìm xác người ở Srebrenieca, ở Rwanda, tìm bắt kẻ thù nhân loại cho tòa án La Haye, người xuống đường đòi nhân quyền giùm người khác v..v..mới đích thị người không tưởng. Những kẻ biểu tình đòi lên lương, đòi nạo thai trễ hơn luật định, đòi cưới người cùng giống, đòi về hưu vào tuổi 55, 60 v..v.. mới quả thật người vô lượng vật chất và thực tế.
Hoan hô những đám đông âm thầm, những anh hùng im tiếng miệt mài lao động, đả đảo Táo quân và Tiên Tổ (dù) mỗi năm được nhắc nhở (chỉ) một lần.

Hồi quang là quả báo nhãn tiền ? 
Chị Thương gọi điện lúc hai giờ đêm, giọng khô buồn một nỗi ultimatum : Má nói tục lệ giao thừa, Tết nhất nhắc nhớ những người chết, nhưng đúng hơn nhằm nhắn nhủ những người sống. Thật ra, mày biết thừa : chẳng còn biên giới, khoảng cách. Ở ngay bên trong, tại chỗ. Nhưng cần nhớ thật đầy và cảm nghĩ sâu lắng, tận cùng. Về không thì nói !
Chị là má tôi rồi đó. Cộng thêm một chút xao xuyến và bí ẩn, triết lí tất niên. Nhớ thật đầy, cảm thật sâu ?. Tôi ậm ừ, gác máy.
Nhắn qua và viết lại, dần dà mây mù cumulus cũng đọng lại trong những khối vuông tròn cuối cùng nối liền nơi này và thế giới. Court circuit. Cháy dây /mát điện là kết quả tức thì : tối hôm qua, vừa gửi đi những lời chúc Tết muộn, màn ảnh chiếc máy điện toán trong phòng làm việc bỗng tắt ngấm. Sáng nay tôi không còn nghe vọng lên từ nhà dưới những âm ba u u đều đặn thoáng gợn bỗng trầm của máy. Chỉ còn tiếng gió ảm đạm, trung thành.
Khuây khoả ? Chị Thương nói như Kiên đã viết trong tấm thiệp Tết. Chị muốn kiêm thêm một vai nữa. Kiêm nhiệm đủ thứ chức, tưởng rằng nhiều mời gọi quyến rủ, lắm hứa hẹn uy quyền, nhưng chị có biết đấy cũng là một kiểu trốn chạy về phía trước ?.
A, chị em nhà này quả đúng là chị em ruột hoặc triết lí cuối mùa là bệnh hay lây ? Tôi nhớ đến tấm thiệp còn tươi nét mực trong gói quà nhỏ đặt trên chiếc thùng Kiên lôi xuống từ cái kho chứa đồ cũ dưới mái nhà. Có lẽ Kiên về hôm qua lúc tôi đi vắng, có lẽ Kiên chia soạn, nhằm thủ tiêu nốt cho tôi những kỉ vật sống sót, xóa đi những thương hận sau cùng ? Hay Kiên muốn tôi lựa chọn, giữ lại những vui buồn êm đẹp nào đó ?. Người tưởng chừng như đã quên mà người cứ muốn tôi nhớ ? Có lẽ chút lòng từ bi nhóm lên trong Kiên, vào/vì ngày cuối năm?
Còn tôi ? Nhớ nhung, thất vọng nghe như sờ chạm được, mà ở đó cứ tưởng chừng  với có lẽ !
Tôi bực bội dựng cổ mình ngồi dậy.
Tắm xong, trang điểm thật kĩ lưỡng, mặc vào chiếc áo dài nhung xanh thẩm màu đại dương, tôi ngắm mình trong gương và hỏi bóng : khuây khỏa chưa hả mày ?
Chắc là chưa nên tôi thấy tôi đóng sầm cửa phòng, mò mẫm xuống cầu thang. Điện vẫn chưa trở lại, nếu có Kiên ở nhà, chắc ánh sáng đã tái lập. Nhưng tôi biết tôi giận tôi vì những phút giây « trau tria mảnh má hồng », vừa mất lòng tôi mà sẽ chẳng đặng bụng chồng. Cái bụng đã hai lòng. Không, hai tim. Không, đã thay tim.
Tôi trước sau như một ?. Thật ra lúc đầu tưởng rằng mình trước sau như một, dần dà thấm thía, sáng nay tôi thấm thía suy ra rằng hai mươi năm sau tôi không còn là tôi. Kiên đã nhìn ra điều đó. Chỉ Kiên mới đích thị thuỷ chung, Kiên đã đi tìm và tìm lại được (ai như là) tôi xưa. Sống lại thuở xuân thì. Các báo tiếng Việt ở Paris đăng đầy những lời chúc mừng đám cưới Trung Kiên, nam đại thi sĩ Paris xưa và nữ họa sĩ trẻ số một Sài Gòn nay. Cưới xong thế nào cũng được RFI với BBC xin một bài thơ tình. Nếu ở Û Sydney hay phố Bolsa thì hẳn sẽ lên đài truyền hình Việt Nam khoe vợ mới !
Vậy thì lớp phấn son kia làm gì hở mi ? Dở quá. Kiên trước sau chỉ có một trái tim. Một trái tim lúc nào cũng nồng nàn sôi nổi, yêu cuộc sống, yêu cái đẹp, và không bao giờ để nắng mưa vớ vẩn hay thứ thời gian vô hình, vô tích sự đến lấn chiếm, quấy nhiễu, làm nhăn da, trắng tóc.

Hồn hề hồn hề hồ bất quy
Đông tây nam bắc vô sở y
Thượng thiên hạ địa giai bất khả
Bolsa lộ  trung lai hà vi ?

A, qua khỏi mùa xuân, phải nhớ chép mấy câu thơ Tố Như  gửi tặng chị Thương.  Cam đoan hạ về mới lại phải nghe tiếng chị.
Thắp những cây nhang trên tủ thờ, tôi khấn vái máy móc, đầu óc hỗn mang những ý nghĩ náo loạn và đành đoạn. Cho tôi. Dở òm. Lại ghen tương vớ vẩn. Nhưng thôi, xong bổn phận ! 

Trên bàn phòng khách, từ bao giờ chiếc thùng đã tự mở bung nắp hất tờ giấy xuân xuống đất. Tôi chẳng đặng đừng đọc lần nữa dòng chữ cuối trong tấm thiệp in lại bức tranh hoa cúc của Monet, thoáng cảm động vì Kiên đã chọn một họa sĩ phe ấn tượng :
…đi du lịch cho khuây khoả. Chúc em nhiều may mắn và hạnh phúc. K.
Xì ! Đôi lúc Kiên cũng absurde như K. thứ thiệt. Mà tôi, khi thức dậy thấy mình hoá thân thành non K. Không K. Thiếu K. Như bắt đầu một căn bệnh trầm kha, mạn tính.
Tôi mở cửa sổ, phóng tấm thiệp ra vườn, ném lần lượt những thứ vô tội vạ nhưng lỡ nằm trong tầm tay giận dữõ ; cả gói quà cũng lăn đến tận gốc táo gần cửa cổng. Gió lạnh ào vào. Mặc kệ, tôi phóng hết ra ngoài : bay đi cho khuất mắt !. Con mắt ướt đầm. Mà tại sao con mắt ướt đầm ? Chi vậy ?
Búp bê, lính gác,  bộ sưu tập các quả cầu pha lê chứa những thủ đô thế giới trong mùa tuyết, những chai nước hoa… Những thứ lặt vặt lũ trẻ đã mua trong những chuyến đi chơi xa. Quà Kiên vào những lần sinh nhật tôi, tôi của ngày xưa.
Chạm đến đáy thùng, bàn tay lạnh cóng bỗng hóa mềm, trái tim dịu lại, ấm áp, vỗ về. Cớ sao buồn bã vì thiếu người nối mạch điện ? Thật vô lí, vô duyên. Khi cơn đau chưa dài, thì tình như chút nắng…
Đó là bức tranh màu nước, Nga vẽ mùa đông đang qua sau lưng nhà trọ sinh viên thuở ấy. Tháng giêng năm 1972. Chữ của Nga vẫn rõ nét.

2- Đầu tháng giêng mùa đông năm ấy, tuyết rơi nhiều, lớp lớp liên tục suốt ngày thứ sáu, phủ dầy bãi cỏ hoang bên hông cư xá sinh viên. Thứ bảy chở nắng sáng trong suốt màu vàng champagne đến từ sau lưng hàng cây bạch dương trơ cành, hắt những gợn sóng xanh lắt lay xuống thảm tuyết. Nga trỏ những lõm tròn đều đặn, dấu chân song song của hai đứa hôm qua :
– Như những dòng nhạc. Khúc mùa đông…
Dạo đó chúng tôi bỏ làm thơ, viết báo, nhảy qua học đàn, tây ban cầm và mandoline. Đứt bao nhiêu dây đồng và làm điếc vô số bạn đồng trọ mà mèo (quào) vẫn hoàn miu (gào). Nga chán nản, rủ tôi dán giấy ở trường và quán ăn, tuyên bố bán rẻ hai cây đàn. Chỉ hai hôm, giấy được bóc đi. Nga xoa tay hỏi tôi và Bạch :
–    Sửa soạn bụng đi, mấy em ! Tụi mày muốn ăn gì ?
Bạch nhõng nhẽo :
-Tết đến tao thèm ăn thịt gà nấu kiểu Việt Nam. Kiểu gì cũng đặng.
Chiều hôm đó Nga và tôi nai nịt mũ mãng giày ống băng tuyết đồng hoang bò ra cái siêu thị Prisunic cách cư  xá vài dãy nhà. Vác về một con gà với mớ hành tỏi rau cải.
Sáng thứ bảy, Bạch đem xuống chai Chanel số 5 hiệu Chip Long, thứ nước mắm duy nhất của thời ấy, nhỏ choắt và đắt bằng một tuần lễ ăn quán ăn sinh viên, chỉ được bày bán trong cửa hàng Printemps. Nó trốn mất sau khi nói tao không giỏi làm bếp. Làm như Nga và tôi đã tốt nghiệp trường đại học nữ công gia chánh tại Sài Gòn trước khi sang Pháp.
Con gà đã trụi lông, mập mạp, da nổi gai, trần trục một màu vàng bắp, bụng trống rỗng, không đầu, không móng, nằm ỳ trên dĩa, ưỡn ngực phơi phao câu chờ đợi. Con gà đầu tiên và cuối cùng trong cuộc đời du học.
Nga nói : dễ ợt, mày bỏ gà một lượt với rau cải mắm muối hành tỏi, nấu nửa giờ mình ăn được.
Một lát, tôi kêu cứu :” tao mới cho mắm muối rau cải vào, nồi đã đầy nhóc rồi mày !”
Nga tặc lưỡi: “débrouille-toiù  – mày liệu lấy –  ê nhỏ !, Cứ  lần lượt mà cho vào nồi. Ngốc ơi ! nồi đầy nhưng nấu một chốc  sẽ bay bớt chất lỏng, thức nào cũng chứa hơn năm chục phần trăm nước, bài học tuần qua, đã quên rồi sao ?. Thiệt tinh, không có tao tụi mày sẽ chết đói !”
Nói xong, nó cười hi hi đến ngồi bên cửa sổ hí hoáy : ” Tao vẽ mùa đông, coi bộ có lí hơn”.
Nga có tài vẽ, nó vẽ tuyệt đẹp. Ngay đến giờ thực tập trong trường, các hình vẽ rận rệp, bò chét, muổi, mòng, chí mén, chí đực hay tế bào thực vật, thạch chỉ địa chất của nó được cao điểm nhất đám kể luôn tây đầm.
Trên đời người trổ nhánh hoang vu…
Giọng Nga trong nhẹ, mềm. Nó hát cũng hay thần sầu. Ai lỡ nghe, tự động cỡi bỏ áo giáp. Ráng chịu.
Một lát, ngoảnh lại thấy tôi đầy vẻ tủi thân, tay dao tay nĩa đứng tần ngần trước con gà, Nga ngưng hát, ra vẻ ngây thơ :
–    Chưa nấu chưa chín, mà mày đã sửa soạn ăn hả nhỏ kia ?
–    Ừ, đang bắt chước đồng bào thiểu số, nói với vong linh con gà, cám ơn mày  giúp bọn tao sống sót hôm nay.
Rồi cũng đành, tôi hì hục với bộ đồ nghề « mượn tạm » của quán ăn sinh viên. Con dao dở không thể tưởng tượng được, chắc cả đời nó chỉ biết xắn vào thịt chín. Tùng xẻo gà được vài phút, tôi thở dài thống thiết. Phải chi lúc còn bé, chịu khó nghe lời mẹ dạy. Phải chi đừng chạy biến đi khi nghe gà, cá, tôm cua la hét, dãy dụa trong bàn tay má, trong tiếng dao xoèn xoẹt trên đá mài. Phải chi, chịu khó siêng năng đứng lại nhìn dì, nhìn má thoăn thoắt nhổ lông vịt, lột vỏ tép, lão luyện xắt thịt bò ngược sớ, hớt bọt, nêm ướp thức ăn. Phải chi mình đừng …bị đi du học.
Nga buông viết chì, bỏ cọ đến dí mũi vào con gà rồi chợt thảng thốt lùi một bước, tờ giấy che một bên mắt, kêu lên :
–    Ghê quá mày. Giống như xác người ta ! !
Nó lại cất giọng khánh ly : Chiều đi lên đồi hoang, hát bên những xác người
Tôi đã thấy…tôi đã thấy…
Tôi nhìn kĩ. Con gà như tội nhân đang nằm sóng soài, cổ ngoẻo, gối co, hai cánh (tay) dăng ngang van nài xin tha mạng. Bộ ngực nở nang bị  khuyết nham nhở hai mảng thịt ức. Một bên đùi co quắp, chỉ còn dính vào thân bằng sợi dây gân màu bạc lòng thòng cứa mãi không đứt, chợt duỗi thẳng như muốn bước ra khỏi dĩa. Hai đứa tôi nhìn nhau kinh hoàng, cùng hét lên, tông cửa nhà bếp chạy ra hành lang.
Và xông thẳng vào một người con trai đang đi trờ tới.
Nga chạm vai người ta, chỉ phải buông rơi tờ giấy vẽ. Tôi đâm sầm cả người vào anh ta, và lăn quay ra sàn nhà. Một người quen. Đó là Noul Huonmarit.
Bảo quen thì không đúng. Noul và bạn bè thỉnh thoảng chạm mặt bọn tôi tại club ciné, thư viện, hồ bơi… chỉ từ xa nhìn nhau cười cười gật gật, khá ơ hờ nhạt nhẽo. Noul học kinh tế, tụi tôi khoa học nên không lui tới hàng ngày cùng một trường ốc, quán ăn.
Vào hè hoặc lễ nghỉ, chỉ một quán ăn sinh viên duy nhất mở cửa, rủ nhau đi ăn chung, chúng tôi chiếm hai ba bàn, ồn ào như chợ cá Đa Kao. Trong khi đám Noul hai ba mống, kín đáo, nghiêm trang, (…vì làm chẳng nên non ?).  Đầu năm học này, Khim Claire, người nữ duy nhất trong đám Noul, bỏ về miền Paris – Claire được bọn con trai Việt Nam bầu làm Thái Kim Hương Cao Miên. Vì nàng cao ráo, sang đẹp, lại học giỏi. Đinh ninh rằng nàng vốn là công chúa, nếu không con cháu vua Sihanouk thì cũng dòng dõi Nặc Nguyên, Nặc Nhuận, tôi nghĩ tìm đâu ra phò mã xứng đáng ở cái tỉnh nhỏ này mà chẳng về Paris ? Và chắc chắn nàng để lại vài con tim đau khổ !
Thế là tự nhiên mà thành ra bọn tôi để ý đến người ta.
Noul ít nói cười, thoạt nhìn anh có vẻ lầm lì như le bon django Clint Eastwood (trong đám brute với truand thuở ấy) nhưng khi anh cười, gương mặt sáng đẹp ra, bây giờ nhớ lại, tôi thấy phảng phất nét Keanu Reeves. A, Noul dư sức làm phò mã. Và tôi tự nhủ : ê nhỏ kia, cứ đinh ninh nhiều chuyện chắc đời mày sẽ khó khá.
Tôi với Nga hoang mang nghi ngờ, hay là Noul thất tình kẻ khác ?. Ừ, hèn chi tao thấy chàng buồn hiu. Ừ, thảo nào chúa nhật rồi không thấy chàng đi ăn.

Noul đỡ tôi đứng dậy rồi tay này ôm tay kia, nhìn tôi vừa cười vừa xin lỗi. Hàm răng trắng bóng, đôi mắt đen, mái tóc đen dày và quăn dài chấm gáy. Da đen dòn. Aùo len bó eo màu sẫõm, quần ống voi. Rất âm u nhưng dáng dấp thanh niên đúng điệu những năm 70. 
Nga quay trở lại, rối rít chào hỏi vừa nói lỗi tụi tôi chứ…nó chợt kêu lên một tiếng thất thanh. Máu len theo kẻ ngón tay Noul, nhỏ đôi giọt lên bức tranh dang dở nằm dưới chân Noul. Noul lại xin lỗi và cúi xuống nhặt tờ giấy canson, còn Nga chạy vù về phòng lấy bông băng thuốc đỏ.
Chắc chắn Nga và tôi đều bối rối. Từ hai năm nay đã mấy lần bọn tôi xôn xao vì tin người Miên giết người Việt Nam ở Nam Vang. Hàng trăm xác người trôi sông, cụt đầu, bị mổ bụng. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải đem quân vượt biên giới…trả thù và đem tàu bè đưa đồng bào tị nạn về Sài Gòn. Chúng tôi không gây gổ nhau nhưng lạnh nhạt hẳn, đôi lúc chẳng chào khi chạm mặt. Bây giờ thì rõ ràng đụng độ trực diện. Sẵn sàng vũ khí với thịt tươi.

Nga kể chuyện cho Bạch nghe sau đó, kết luận : Ở đây, bộ hạ Lon Nol chưa kịp « cáp duồn » bọn mình, nhỏ Thi sẵn sàng dao nĩa toan « ăn sống » chàng Noul  !
Vô tình đòi được tí huyết, mặt mũi Nga đã cắt không ra hột máu, đầu óc tay chân tôi rũ liệt. Thử tưởng tượng : nếu cái con dao này không phải gốc gác « RU  », và muốn tôi… trả thù dân tộc, đâm trúng ngay vào tim người ta thì …ra sao, cuộc đời này, cuộc đời tôi ? Ôi, ác mộng giữa ban ngày !
Nhưng Noul vẫn tươi cười, tôi lấy lại ba phần hồn vía, mời Noul vào nhà bếp, chỉ vào con gà, cà lăm cà lặp đổ tội cho nó.

Được băng xong vết thương, Noul trổ tài cắt xén, cứa nhỏ con gà, nấu cho chúng tôi món thịt kho và nói rõ mục đích cuộc thăm viếng rất bất ngờ -cho hai đứa tôi- này. Noul đến mua đàn. Và mua cả guitare lẫn mandoline.
Trong khi Noul thử đàn – bài số 14 trong bí kíp Carulli- Nga và tôi nhìn nhau, hất hàm, mắng nhau bằng mắt : xấu hổ chưa, nhỏ kia ?
Bị thương như rứa mà tiếng đàn người ta ríu rít, sầm sập, say mê…Đằng này hai đứa tôi, ban ngày giữa hai giờ cours tuy đọc quyển Guitare /mandoline tự học, và ban đêm ngủ trong tiếng đàn Maritas Platas, Alexandre Lagoya…(Cũng biết  học hàm thụ, tự kỉ ám thị như ai) thế mà chẳng nhập tâm được món nào. Có lẽ vì thiếu thầy, sai phương pháp hay bí kíp thiếu ấn giải mã.
Nga nói lầm bầm khi Noul đã đi về : ” Đàn kêu tích tịch tình tang. Thạch Noul chém gà cứu mạng hai ta.Thằng cha coi vậy mà tài ba và có duyên gớm !”.
Tôi lườm nó :” tại sao coi vậy , hả, con nhỏ kì thị chủng tộc kia ? “

Từ đó Noul có vẻ cởi mở với chúng tôi hơn. Nhưng Bạch không ưa Noul ra mặt, không phải vì anh đã sử dụng toàn bộ chai nước mắm cho hôm ấy. Bạch nghiến răng : Năm trước ở Bến Cầu, Tây Ninh, tụi nó tràn qua biên giới đốt nhà, chặt đầu dượng Tư tao.
Làm như chính Noul đã cầm đầu “tụi nó” vượt biên giới giết người Việt, xong rồi đáp máy bay…đi Pháp du học.
Noul thỉnh thoảng ghé cư xá, nhét vào cửa phòng chúng tôi mấy chữ rủ đi ăn, đi xem xi nê.
Nhưng hễ trong bàn ăn có mặt Kiên thì Noul bưng mâm sang bàn khác. Những người bạn của bọn tôi đôi khi cũng chẳng buồn giữ chân Noul. Tuy rằng thuở đó, có lẽ vì lí do sinh tồn, tất cả chúng tôi đều lẳng lặng đồng ý chỉ sống vì và sống cho hiện tại. Không trực tiếp nhắc nhở đến cuộc chiến, cuộc chiến vừa chính thức tràn qua xứ sở Noul. Thời ấy, những trái tim đôi mươi có tài gói kĩ chuyện vặt cất vào góc lãng quên.
Sau này mới hay rằng chỉ sống cho hiện tại, không phải chuyện dễ dàng. Nhưng dĩ nhiên, đó là chuyện về sau, khi bộ óc đã hư hao vì những hiểu biết và khi những trái tim đã mỏi mệt.
Noul dần dà không hẹn mà có mặt trước quán ăn hoặc cư xá bọn tôi, đón hai đứa tôi bằng nụ cười ngượng ngịu. Chiếc vét pa Noul chạy hàng ba với hai xe mô bi lết của tôi và Nga.
Mùa đông xe Nga hay tuột xích, ngộp xăng, xe tôi đôi khi ho hen, xẹp, xì, bể bánh. Thường thường hai đứa tôi khoá bánh xe bệnh rồi quẳng nó ở góc đường, đèo nhau trên xe lành về cư xá hoặc đến trường, vài hôm sau mới lọ mọ bò ra lôi xác xe về cửa hàng chữa xe gắn máy. Lúc có Noul, anh dựng xe vespa, tháo găng tay, giao khăn mũ cho bọn tôi rồi loay hoay vặn ốc, kéo xích, lau ống dẫn xăng, dán mảnh vá, bơm bánh xe v…v… Xe được phục sinh trong nháy mắt.
Rủ nhau về phòng ăn cơm với mắm thái Châu Đốc, bánh phồng tôm Sa Giang hay mắm bò hóc, khô cá Nam Vang. Thời tuổi nhỏ, ở hai nơi khác nhau mà chung toi đã xem những Lã Sanh Môn, Bạc trắng lửa hồng, Angelique, biết mê Toshiro Mifune, Lâm Đại, Lí Lệ Hoa, ghiền John Lennon. Khoe nhau một bức ảnh quê hương thời thanh bình. Những phố xá, những con đường thuộc địa cây me dài, bóng mát. Đường Duy Tân hay đường Monivong, sông Cửu Long hay hồ Tonlé Sap. Tháp Chàm Mĩõ Sơn, với Đế Thiên, Đế Thích. Hố bom nào cũng như nhau trên các ruộng lúa. Những nỗi sầu chắc cũng giống hệt nhau. Nga ngẩn ngơ : không ngờ bên họ cũng có nhiều thứ như nước mình há mày ? Tôi cũng bàng hoàng : rứa sao họ lại hay giết dân Việt ta ?
Một hôm tôi nói với Nga :” Tao nghi chàng muốn dâng hai châu Ô Lí “. Nga rầu rĩ  : ” Mày làm công chúa đi “. Tôi ngoe nguẩy hứ dài, nó phân vân :” Tao nói đùa ý mà, mày còn lão Kiên nữa, bỏ cho ma …đầm nó lấy à ?. Thôi rút thăm nha. Hay tụi mình đi hỏi ý thày bói ?”.
Tôi nói với Nga : ” Chúa Nguyễn được tặng đất Sài Gòn, Trà Vinh, em đã mãn nguyện lắm rồi, thưa chị ! Bay giơø mày muốn chiếm luôn Nam Vang ? ”
Không hiểu sao Nga cũng như tôi đều có chút bâng khuâng, ngậm ngùi. Tại sao vậy ?

Kiên lãng mạn nhưng không có tâm hồn Trần Khắc Chung. Lỡ bề gì chắc Kiên cho tôi chết luôn trên giàn hỏa. Tuy nhiên Kiên làm thơ tình tuyệt vời. Trái tim thi sĩ trong một bộ óc tuyệt vời. Một bộ óc tuyệt vời trong một dáng dấp chẳng chỗ chê. Thuở đó Kiên xếp hàng đầu trong top ten sinh viên Mít. Vừa ra trường, Kiên có ngay việc làm trong công ty chế tạo máy bay Dassault. Kiên đến cư xá đón tôi đi chơi bằng chiếc volkswagen sáng choang, láng bóng. Kiên cũng rực rỡ. Chủ tớ kiêu hãnh, tự tin như nhau. Tôi nghe sung sướng, dễ chịu. Mùa đông đi chơi không bị gió mưa ăn hiếp, tai mũi không bị đóng băng, cùng trái tim si mê cuộn tròn trong tiếng thơ du dương êm ái, trong ánh mắt đắm say và si mê chẳng kém của thi nhân. Thì có là điên mới mong chi khác nữa ?
Hôm đám cưới Kiên và tôi, Noul không đến. Nhưng Noul ghé từ biệt trước ngày chúng tôi sửa soạn lên đường đi về tuần trăng mật ở Rome.
Kiên  ngồi phòng khách uống cà phê, xem báo. Noul trong bếp, cầm khăn lau dĩa, và nhìn tôi. Con mắt hỏi han.
Tôi cự nự :
– Chỉ hai cái chén quèn ! Moa cho vào máy rửa cũng được. Toa muốn kiếm chuyện hả?
Noul lắc đầu cười cười :
–    Yêu nhau là rửa chén cho nhau. Chính Thi nói dạo nọ.
Dĩ nhiên tôi đã nói thế, nhưng nói với Noul, với những người ngoại cuộc, và tôi còn nói nhiều hơn nữa kìa. Luôn luôn với người ngoại cuộc.
Kiên và tôi vừa dọn về Paris, trong gian nhà mới, bốn bề mây hồng. …Đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh**.
Chuông báo thức đầu tiên do Noul gióng lên mà anh không biết, và tôi cũng chẳâng ngờ. Noul báo thêm tin anh trở về quê hương Kampuchea tiếp tay cách mạng xây dựng đất nước.
Lúc đó cuối mùa xuân 1976. Nga đã thầm thì với riêng tôi : mày hết romantique rồi hả, đi hưởng vacances romaines bằng xe volkswagen, nhà quê ơi là nhà quê ! 
Tôi ngạc nhiên : còn mày hát không cần đàn đệm ? Không chịu làm công chúa ? Vẽ tranh làm gì khi thiếu người thưởng ngoạn, phê bình và đóng khung treo ngay lên vách?

Noul  nói với Kiên :
– Hẹn nhau nhé : năm, mười năm nữa, tại Việt Nam hay Cam Bốt, Pháp.
…Noul trao cho tôi bức tranh Nga tặng Noul ngày trước. Bức tranh với thảm tuyết lấp ló đôi vạt đất vàng kim, một vài thoáng trời nắng nhạt gần xa, với bóng xanh chân trời, hàng bạch dương trơ cành trụi lá, và những hạt máu nâu đen nổi bật như những chấm phá ngộ nghĩnh.Thuở ấy Noul cặm cụi làm khung, chấm thêm hai bóng mờ dưới hàng cây. Tôi nói với Nga : hai đứa mình đi học về. Nga xì dài một tiếng. Noul mỉm cười không giải thích.
Bây giờ Noul đến với quà cưới và bức tranh. Kiên  im lặng ngắm nghía, tôi biết Kiên lúc đó chỉ mê Mark Rothko. Noul nói riêng với tôi :
–    Thi giữ nó cho moa. Thế nào moa cũng trở lại xem mai kia Kiên có còn tốt với toa không ?

Nhưng năm năm rồi mười năm, một thế kỉ trôi qua, chúng tôi, bạn bè cũ không được tin Noul.  Vài năm trước, tình cờ gặp Claire tại một trạm dừng trong chuyến bay  xuyên bắc Mĩ. Claire cho tôi biết rằng trong nhóm đồng bào và bạn bè quy hồi cố hương thuở nọ của nhóm Claire, chỉ duy nhất một người thoát trở lại Pháp. Và người đó không phải là Noul.
Những tin tức báo chí truyền hình từ mười năm nay khiến tôi không cần hỏi thêm. Nhưng vẫn mơ hồ chút hi vọng.
Thỉnh thoảng tôi nằm mơ thấy mình đứng khóc bên chiếc xe mobylette không chịu nổ máy, và Noul nghiêng tay lướt chiếc vespa, đôi mắt đen âm u, chỉ thoáng liếc tôi rồi vượt đi mất hút.
Mỗi lần thức dậy, tôi đều chuẩn bị một bản trần tình cho giấc mơ sau. Một cách vô ích. Lần nào cũng vậy, tiếng kêu chưa thốt ra, bóng người bóng xe đã mịt mờ. Những mưu toan biện bạch vẫn mãi mãi là mưu toan.

3-Tôi treo bức tranh cũ vào một trong những chỗ trống trên bức tường hành lang rộng từ cửa chính đưa vào phòng khách. Dạo trước, tuy thở phào khi Kiên lấy đi đôi tuyệt phẩm siêu thực của nàng họa sĩ trẻ, nhưng mỗi lần ra vào, nhìn lên khoảng tường trắng, tôi vẫn mất vài giây chao đảo. Bây giờ thì yên chí, phải không mày.
Càng ngắm nghía tranh xưa, tôi càng thấy ngờ ngợ. Thì ra Nga đã vẽ như  Renoir và Monet một trăm năm về trước. Một buổi sáng mùa đông của chúng tôi thuở nọ là tổng hợp những con đường (đi tới Louveciennes) dưới tuyết, ánh tà dương  với chim khách –la pie-. Phải chi có Noul ở đây. Tha hồ nói chuyện về trường phái ấn tượng mà không bị xem là quê mùa lạc hậu. Con chim cô độc trên cánh cửa trĩu nặng lớp tuyết dày là…con gà ngày xưa. Bóng đôi kẻ trên đường là …ai tùy người đối diện (tranh). Tha hồ nói về Pol Pot, Lon Nol, Lê Duẩn, Trường Chinh mà không phiền hà hay khiến ai điên tiết. Như các dự định và mưu toan cho những giấc mơ không kết cục. Không bao giờ có kết cục, nói chi đến happy end ?
Tôi mở cửa ra ngoài, thơ thẩn nhặt nhạnh những món đồ vứt tứ tung trong vườn khi nãy. Trời lạnh buốt, mưa phùn nhẹ như bụi, vẫy những hạt nước kim cương li ti trên vạt áo dài. Cỏ ướt mềm dưới chân. Cõi lòng tôi chợt thanh thản bất ngờ. Kiên đi tìm tôi của thời xưa, đúng là Kiên chung thủy. Ai biểu tôi có thêm vài nếp nhăn làm chi. Những nếp nhăn trên da, trong đầu và trong tim. Ráng chịu.
Ngược lại với tôi, chị Thương bỏ về vùng quận Cam, trong khi chờ đợi người yêu chị trở thành kẻ quan phu. Chị không muốn ám sát vợ chàng. Tình đẹp đến rứa thì thôi ! Ráng chờ đợi không có nghĩa là ráng chịu.
Má tôi than chị em bây nhẹ dạ như nhau. Tôi ngẫm nghĩ : như má, phải không ? Ai kêu má cho ba về quê hương tìm đất cất nhà dưỡng già làm chi. Đất nhà chưa thấy, ông già đã biệt tăm trong vòng tay bản xứ mơn mởn nào đó.

Có tiếng gọi rất nhẹ từ phía cổng. Tôi quay lại. Noul đứng bên kia hàng rào cây dẽ cắt thấp. Tôi chợt lạnh buốt thân, ngỡ mình hoa mắt. Thật không, Noul ? Noul đó ư ?
Noul đội mũ len trùm kín chỉ hở đôi mắt, cổ quấn khăn trắng kẻ ô đen. Tôi nhìn ra Noul ngay, ở nụ cười sau chiếc mũ len passe-montagne, ở dáng người nghiêng nghiêng bên chiếc xe vespa cũ. Chung thủy đến thế thì thôi…
Tôi cuống quít chạy ra mở cổng :
–    Cứ tưởng ông sous-commandant Marcos ghé thăm nhân chuyến đi bộ từ La Realidad về thủ phủ Mexico. Noul tìm ra nhà mình dễ không ?
Noul lẳng lặng dựng xe, rồi tháo khăn, lột mũ, tươi cười đi vào nhà. Tôi tự mắng mình vô duyên. Ngày trước, mỗi lần tôi kêu Noul giống hệt Yasser Arafat, mỗi lần  anh đều ngượng ngập tháo bỏ chiếc khăn rằn mẹ gửi, và chỉ một lần anh lắc đầu đính chính : moa vô chính phủ nhưng không ưa bạo động và tẩy chay chiến tranh. Je suis un anarchiste pacifiste.
Tôi luống cuống xin lỗi :
–    Noul biết Marcos chứ ? Không phải ông Marcos xưa của bà Imelda đâu. Chàng (Rafael Sebastian ?) Marcos, người hùng thời đại mới, vừa tuyên bố xếp vũ khí, tiến hành thương thuyết hòa bình.  
Thế nào Noul cũng đã thấy trên báo chí, hình ảnh người (cựu) giáo sư dạy triết(?), thủ lĩnh dân thiểu số miền Chiapas nước Mễ Tây Cơ, chiếc mũ trùm kín mặt chỉ hở đôi mắt đen to và một chút nơi miệng cho dọc tẩu ống vố, quần áo xanh chiến binh, súng quàng sau lưng, dao găm giắt túi, nhưng vũ khí trong tầm tay là đèn bấm, cell phone, micro và những bài diễn văn viết lấy một mình. Đừng để chúng tôi trở thành những anh hùng bại trận. Một kiểu Che Guevara thiên niên kỉ mới, lãng mạn nhưng đầy kinh nghiệm và thực tế, trước mặt một thứ khán giả thế giới có vẻ khôn ngoan hơn, không ưa bạo động và nhiều quyền định đoạt.
–    Sẽ có hoà bình cho những người biết yêu hoà bình.
Kết luận xong tôi thấy mình chẳng mấy khôn hơn xưa. Nhắc đến hoà bình nghĩa là nghĩ đến chiến tranh. Ngu thiệt tình.
Noul đứng trước bức tranh cũ, im lặng nghiêng đầu ngắm nghía. Và, những ngón tay khô cằn xương xẩu với lớp da đen cháy nắng sờ soạng trên con đường tuyết như muốn tìm lại hơi lạnh cũ. Không còn là những ngón thon tài hoa thoăn thoắt uốn lượn bấm vuốt phiếm dây đồng. Tự nhiên, những bài bản soạn sẵn bay đi mất, tôi tìm không ra lời nào nữa. Những đoạn phim xưa diễn hành lóe chớp. Nói gì bây giờ.
Noul quay mặt nhìn tôi, gật gù :
–    Hay lắm. Thi sẵn sàng rồi, mình đi. Thi vẫn duyên dáng như ngày xưa.
Tôi không sao nói được, dù chỉ một tiếng than. Như ngày xưa ? Lần đó, Tết tây năm 1973 của sinh viên liên trường, Nga lôi tôi lên sân khấu, hát bè Nối vòng tay lớn với đám con trai. Vài hôm sau, Noul đưa mấy bức ảnh anh chụp hai đứa tôi, lí nhí trong miệng : «… toa charmante(s) lắm ! ». Hai đứa tôi nhìn nhau, nhưng ngượng chẳng dám hỏi toa nào. Toa tôi hay toa nó ? Đứa nào duyên dáng lắm ?
Hôm sau Nga lại lôi ảnh ra ngắm nghía, ngẫm nghĩ. Một lát, nó reo lên, hai con mắt sáng rỡ : Noul nói hai toa, mấy toa.
Rồi sao nữa ?
Lỡ một cơ hội ? Vì Noul nhút nhát, vì bọn tôi quá điếc lác ?
                                                          *
Chính Noul không thay đổi, trừ đôi tay và ánh mắt đã mất lửa đam mê và nhiệt tình. Anh vẫn là chàng sinh viên âm u, nhiều im lặng thuở nọ. Tôi thở dài bất lực, lẳng lặng soi mình trong chiếc gương dài trên tường hành lang. Cố tìm một chứng cớ. Thật ra, chỉ có áo dài là đẹp thôi Noul ơi. Chưa nói rằng, để may áo dài mới, phải cần tám thước nhung thay vì ba như hai mươi năm về trước. Không, bốn mét khổ lớn. Vừa vừa thôi mày.
Tôi quay lại bồi hồi ngắm Noul. Vẫn sơ mi thiên thanh, tay áo len màu xanh đêm cột vòng cổ, quần jean xưa góc cạnh đã dãi dầu. Đúng rồi, vẫn là người của ngày xưa, tuy thêm nét gầy gò, mong manh như thoáng gió ngoài kia.
Thì ra anh đã thoát được vùng địa ngục. Ước vọng khát khao tôi xưa kia giờ đây thành sự thật. Tạ ơn trời.
Thì nói gì giờ đây ? Hiện tại này cũng mơ hồ, mong manh. Tôi rùng mình. Noul choàng chiếc khăn trắng ca rô xanh vào cổ tôi, sửa nếp len vắt qua một bên vai, cử chỉ âu yếm. Tiếng sợi cong mềm ngoan ngoãn xếp. Gió nhẹ như màu áo màu khăn. Màu mây nước. Như anh sắp đặt trước mọi sự cho lần tái ngộ bất ngờ này.
Đã lâu lắm tôi mới nghe thấy lại cảm tưởng được che chở, yêu thương.

Gió vụt thổi ào ào. Lau sậy lao xao nghiêng ngả. Noul cúi xuống nhặt một mẩu ốc hóa thạch, đưa tôi… Từ bao giờ, chúng tôi đã thơ thẩn nơi này ?
Tôi ngậm ngùi, giọng Rimbaud lùng bùng trong cổ họng :
–    Elle est retrouvée !                            Tìm thấy lại rồi !
    Quoi ? Eternité !                                 Gì ? Ôi, tuyệt đỉnh thiên thu !.
Noul thầm thì, tiếng nói dịu dàng : nhưng không phải chỉ con ốc này mới đủ thẩm quyền nói đến thiên thu. Thôi, mình lại đi chứ, trễ rồi.
Chúng tôi rời đụn cát, bãi lau.
Chiếc vespa chạy thật êm trên những con đường vòng lên xuống các ngọn đồi, và bay lướt trên thung lũng. Qua vai anh, tôi chỉ trỏ cho Noul nhìn xuống thế giới của tôi từ mười năm nay, kể từ ngày Kiên gặp tình yêu mới. Con sông nhỏ, những ngôi nhà tí hon lẩn khuất trong những hàng cây, nóc chuông nhà thờ. Đám quạ vờn quanh chúng tôi.
– Noul coi đó, chúng nó cũng không buồn kêu.
Noul khẽ cười :Thi muốn chúng nó kêu điều gì ?
Tôi không thể trả lời nên ngoảnh mặt vốc tay khuấy đùa từng mảng mây trắng mát.
Thất vọng vì Noul không chịu hỏi gì về Kiên, tôi chợt nghĩ đến Nga. Đến đời sống sung mãn yên lành từ khi Nga gặp lại người yêu cũ thời trung học và dọn về ngoại ô Montréal mở phòng tranh. Tôi sẽ đưa cho Noul quà bạn cũ, những CD tiếng hát Thiên Nga của kinh đô ánh sáng, nhưng khi nào cả hai trở về nhà đã.
– Nhớ gì không Thi ?
Noul hỏi khi chúng tôi chìm giữa đại dương người quay cuồng, ngập ngụa tiếng kèn xe, tiếng nhạc, mùi nắng, mùi xăng khói. Là Sài Gòn, Phnom Pênh, là Hà Nội. Là ngã tư Bình Hòa, ngã năm Chợ Lớn, là khu Nguyễn Huệ, Hai bà Trưng, là khu «  Hai Hình », chốn « Thành Vua ». Chen chúc những xe hơi kính đen đặc ngăn che bí mật, những thân người bám ôm phủ kín xe gắn máy. Những cánh tay tròn mềm, những bộ đùi, ngực eo thon lẳn thân tuổi trẻ. T shirt, costards hugo boss, mini jupes cK, maxi robes Dior. Như không hề mang một bản sắc, một lịch sử riêng tư. Những cửa hàng bất tận, những thùng giấy, những kiện hàng tủ lạnh, máy giặt, máy tính, máy hát, máy ảnh…choán hết lề đường, nghễu nghện vững tin tiện nghi đời sống, như chưa bao giờ bị khinh khi, chối bỏ. Những cuộc đời đang sống tưng bừng, huyên náo, liên tục như chưa bao giờ bị gián đoạn.
Noul cười :
–    Lầm rồi toa !
Anh dừng xe, quay lại :
–  Thi muốn thấy các gián đoạn đó không ?
Lập tức, những lớp sóng, những dòng xe, người bỗng cuống cuồng tán loạn vỡ ra. Tiếng kêu gọi, gào khóc, tiếng la hét chìm lẫn trong tiếng còi báo động, còi tập hợp, trong tiếng máy nổ động cơ xe tăng, cánh quạt trực thăng.
Tôi kinh khủng, ngơ ngác. Anh xoay bờ vai tôi, vuốt nhẹ chiếc khăn ca rô xanh. Hóa thành chiếc khăn rằn đỏ trên cổ Noul. Anh nói nhỏ qua hàm răng nghiến chặt : bây giờ bọn mình là dân mớiõ, hoàn toàn cách mạng ! Thi đừng sợ.
Những tiếng ồn ào chợt ngưng. Không còn một âm thanh nhỏ.
Anh kéo tay tôi đi theo đám người phút chốc trở nên ngoan ngoãn, gục đầu, tay không, tay xuôi, chậm rãi, im tiếng đi về một hướng, dưới bầu trời nắng lửa. Những người đàn ông, đàn bà, già cả, trẻ thơ, bé lớn, người khoẻ như người bệnh, người lành lặn, người tàn tật, người mang bụng bầu, kẻ ôm trẻ sơ sinh lần lượt đi ra từ những  chung cư, biệt thự, chùa chiền, bệnh viện, giáo đường, trường học… Những vệ binh đỏ trong bộ quần áo đen, mũ vải mềm, cổ quấn khăn rằn đen đỏ cũng im lìm, họ chỉa súng chờ đợi những kẻ trễ nãi cuối cùng rời khỏi nhà, rồi gia nhập vào đám đông. Đám đông là một chuyến tàu khổng lồ dắt díu nhau đi chân trần, và một nhóm quấn khăn rằn, mang nhãn M(a)o-is(t)e vác bia trời, giơ kinh (đỏ), gườm súng (AK, garant) đi trước.
Tôi biết rồi Noul ơi. Ngày 17 tháng tư năm 1975, nhóm người « dân mới » này đã lùa người Nam Vang ra khỏi thành phố, lùa tất cả những « người dân cũ », gồm có dân ngụy, trí thức hay nông dân, là những tên « phản bội » đã theo chân đế quốc, tư bản, phong kiến quân chủ, đã tiếp tay thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giúp sức « tôn giáo » mông muội ngu dân. Trong những ngày sau đó, ở mọi thành phố lớn khác trên đất Khmer cũng đều như thế. Thị dân bị lùa về công trường, đồng ruộng, sông hồ, rừng núi …Những chuyến đi về hướng tương lai, sẽ đem trở lại thứ « con người mới » ước mơ, thứ người tuyệt vời sẽ tạo nên xã hội lí tưởng.
Tôi biết rất muộn màng điều mà một năm sau đó, 1976, Noul cũng như tôi đều mù tịt : Pol Pot, Khieu Samphan… các lãnh tụ sáng giá đã du học tại Sorbonne sáng giá của Paris,  đem về quê hương những món quà sáng giá không kém : đập tan tư sản, xóa bỏ quá khứ…faire table rase du passé…
Lại một chuyến tàu (tất yếu ?) lịch sử. Không, không, Noul ơi, dừng lại đi, tôi đã biết, đã thấy rồi.

Tàu đi như một cơn điên đảo
Sắt thép kinh hoàng va đập nhau.
Ta tưởng chừng nghe thời đại động
Xô đi ầm ỹ một cơn đau
Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
Trong chuyển dời xung xát bạo tàn.
Ta trở thành than, thành súc vật.
Tiếng người nghe e cũng đã quên ngang.

Noul nhìn thẳng vào mắt tôi :
–    Làm sao toa biết được ? Toa đã thấy gì ? Ở đâu ?
–    Thấy …trên tivi ! Trong…sách vở !
–    Sách vở ? Sách vở ư ? Thuốc độc đấy !
Anh bật cười bao dung, chỉ tay về phiá trước :
–    Thi thấy cái này chưa ?
Rừng người lúc nãy bây giờ đang lom khom đen cả cánh đồng nứt nẻ chói chang nắng bụi, những nhát cuốc đều đặn lên xuống nhịp nhàng theo từng hồi tu huýt ngắn. Chỗ này Ăng Ka nghiêm trang giảng đạo, chỗ kia Ăng Ka say mê tổ chức hát ca học tập.
… phong kiến cấu kết với thực dân Pháp, chia cắt đất nước, tàn phá di tích hùng vĩ của cha ông…
… cùng bọn tay sai đế quốc tư bản Âu Mỹ khát máu hung tàn bóc lột và đàn áp…
… giai cấp lao động vô sản phải nắm lấy vận mệnh đất nước…Quê hương ta vốn rừng vàng biển bạc…Lãnh đạo ta cực kì trí tuệ…Tổ quốc ta sẽ rực rỡ trời Đông… Vân vân và vân vân.
Chỗ kia đảng nghiêm trang làm lễ tơ hồng cho những lứa đôi, hãy lột xác để trở nên người mới, hãy sinh đẻ người mới cho quê hương đứng dậy. Vân vân và vân vân.
…Vâng, Noul nói đúng, toàn chuyện lô gích và ước mong tốt đẹp. Toàn là những lí lẽ làm nức lòng tuổi trẻ. Một thời tuổi trẻ. Một thời để đánh mất.
Nhưng là bài bản đột ngột, nên những đệ tử và cô dâu chú rể mặt mày kinh hoàng, thiểu não, cảnh vật xung quanh vàng vọt ủ rũ, lạ lùng, thê lương. Nên tôi phải khẽ lay Noul, rưng rưng ngậm ngùi nhẹ nắm bàn tay Noul khô héo. Trong những ngày tháng đó, có lần nào Noul được phép bỏ cuốc ôm đàn ?. Được tự nhiên mang kính cận, ngả mình dưới bóng cây đọc sách triết ? Được thong thả ngồi bên sông nhớ lại chốn cũ với người xưa ?
Kìa, ngày ấy toa hứa đưa Nga và moa đi xem đền đài Đế Thiên Đế Thích…Hay là chẳng còn vết tích ngàn xưa vì đám người cũ mới, cấu kết với mafia quốc tế đã khuân hết cả sang Thái Lan, Anh, Mỹ rồi ?
Noul lắc đầu mỉm cười hất hàm chỉ về phía trước.
Nơi chân trời, trong ánh hồng của buổi chiều đang xuống trên đồng bằng, lô nhô những đỉnh tháp đen nhiều tầng. Những nhánh tháp cong như những bàn tay móng nhọn uốn ngón chậm chạp xoay tròn theo tiếng nhạc, tiếng gõ. Chỗ này là Phnom Kulen, nơi bắt đầu, toa nhìn thấy tượng voi tạc trong đá chưa, à, đây là Koh Ker, Pnom Bàkheng, Thi ơi, hãy đếm xem có đủ 108 tháp không. 
Những ngọn tháp phụ chầu quanh ngôi tháp chính, những bậc thềm dài, những tượng đài lấm tấm rong rêu, lichen, mousse trắng đen xanh vàng. Chúng tôi lướt qua những mặt đường lót đá, những thần rắn Naga trăm đầu, những nữ thần, thánh, Phật, La Hán. Chúng tôi len lỏi săn đuổi những tượng hình trốn kín giữa cành lá dây leo, chúng tôi lần theo những thân rễ khổng lồ, chúng cũng len lỏi ôm vòng những thân tượng, xô lệch những tảng đá, hoặc chảy mềm qua những bậc thềm tìm về nẻo đất. Rừng cây, cổ đền quấn quyện, theo nhau lớn lên cùng một lúc, thách đố nhau và bảo vệ nhau. Từ một nghìn năm trước. Một cõi thiên thu.
Noul say sưa, tỉ mỉ giải thích sự tích nguồn gốc từng thánh đường, lăng tẩm, từng phố đền, từng vùng thánh địa. Từ những Jayavarman đệ nhị, đệ thất, đến những Ang Chan, Ang Duong…Tháp này để cúng mẫu hậu, đền kia dâng phụ vương. Dâng Phật. Cúng dường chư thánh. Những biến đổi trên đường nét biểu hiện những tượng đài, phong cách các nghệ sĩ, nghệ nhân theo thời gian, theo lịch sử. Một biểu lộ bản sắc cụ thể hình thành dần qua mười mấy thế kỉ.
Nghìn vạn bàn tay, khối óc, trái tim như Noul, đã hình dung, tưởng tượng, đã rung động, đã yêu cảm, đã chạm khắc, đục đẽo, đã vận chuyển hàng triệu khối đá, sa thạch. Để lại dấu vết thiên thu.
Noul vuốt nhẹ từng mặt đá, cẩn thận giở từng chuỗi dây leo, dựng lại những đầu, thân tượng lăn lóc. Anh cười : André Malraux không phải là kẻ cắp đầu tiên. Tôi muốn nói thêm : và những người tham lam đói khát nào đó, « Duồn », Khmer trắng, đỏ, « Lơ », « Hồi », của hai, ba mươi năm trước, của bây giờ cũng không phải người cuối cùng.

Noul ơi !Tài hoa như thế, sức mạnh như thế, sao lại thỉnh thoảng làm « Thổ dậy » hoặc làm người Khmer chính cống vượt biên giới tìm người Việt chém đầu ?.
Noul thở dài : họ không nghĩ mình « vượt biên giới » đâu Thi ạ,  toa không biết thật sao?.
Tôi thở dài lăn lưng ra biệân hộ. Những lời trần tình biện bạch biên soạn đã từ bao năm, sẽ vô cùng anachroniques, lỗi nhịp thời gian, trễ tràng cho mọi vận sự. Mà không nói bây giờ biết còn dịp nào nữa, biết bao giờ gặp lại Noul lần nữa ? Nhưng nói gì hầu giải thích những điều phi lí, những cành nhánh, râu ria nhân quả đã mất hút trong đêm tối quá khứ ? Có dễ dàng trách cứ những bàn tay nghệ sĩ không giỏi nghề gươm đao chém giết ?  Hay thưa rằng đây là quả báo vì tiền nhân Noul đã nuốt Phù Nam, góp phần tiêu diệt Chiêm Thành ? Hờn trách các ông vua Miên yếu lòng, bối rối trước hai kẻ hàng xóm xâm lăng ? Mỗi lần vua  cầu viện người ngoài, đất nước Cao Miên lại mất đi một mảng. Khi phía bắc, lúc phía nam. Noul cũng biết các đền đài Angkor hoang phế vì tổ tiên anh bất lực trước người Thái ?
Hay trí nhớ tập thể quá nhiều cảm tính, dùng trái tim sàng lọc trăm thứ để chỉ giữ lại điều muốn giữ ?  Vì tinh chất Aán quen thuộc, gần gũi hơn ở người hàng xóm Bắc phương ?  Vì dân tôi quá kiêu kì, tham lam ? Tôi bào chữa ra sao khi cả thế giới nhìn thấy một người bộ đội Việt Nam, sau khi đã thi hành “nghĩa vụ quốc tế,” sử dụng những tượng cổ xưa làm bia bắn súng ?
Cuộc sống chung nào cũng có luật chơi, không tôn trọng thì trả giá đắt. Nhưng dễ gì biết rõ và có khả năng tôn trọng luật chơi, thứ luật chơi không do chính đương sự đặt ra ? Dễ gì biết rõ và tôn trọng kẻ khác khi chưa bao giờ chính họ được hiểu rõ và tôn trọng ? Vì tương quan võ lực, văn hóa quá sai biệt ? Ơâi, Noul ơi, chúng mình đi quá xa. Đủ rồi, thôi mình đi về, Thi muốn trở về, Noul ơi !
Nhưng Noul không còn nghe gì nữa. Anh dữ dằn : “Nhìn đi, tìm đi, Thi !. Moa ở trong đó. Hãy nhìn kia”.
Trong những căn nhàø mới cất nhưng đơn sơ không buồng vách hay trong trường học cũ với tường gạch kiên cố, tôi nhìn thấy hàng hàng lớp lớp những sọ người, hàng hàng lớp lớp những lóng, khúc xương tay, xương chân. Những cuộc đời im tiếng, xếp hàng ngoan ngoãn. Ai là ông, ai là bà, là bố mẹ, ai thi sĩ, ai nhạc sĩ, ai đã hẹn hò với cô hàng xóm, ai vừa vào bệnh viện mổ ruột dư, ai đã từng chém đầu một/vài người Việt đánh cá hay một/ vài người Tàu chủ tiệm thuốc bắc ?
Noul cười gằn, dõng dạc lập lại : “Tìm moa trong đó đi Thi !”
Tôi ngẩn ngơ kinh hoảng. Noul nói gì kì quá. Noul đang đứng đây mà. Thôi, về, Noul ơi.
Không muốn nhìn, không muốn nghe, nhưng tôi đã nhìn, đã nghe, đã biết. Noul lôi tôi ra ngoài, chỉ vào từng chiếc hố rộng, đất đào lên nằm vun đầy bên miệng hố. “Phải moa đây không ? Phải moa không ?”
Từng chiếc sọ được dí vào mắt tôi. Những chiếc sọ cái trắng cái ố vàng, cái vỡ mất một mảng xương trán, cái khuyết một mảng đỉnh đầu, cái vỡ mất hàm dưới, cái nhe trọn đôi hàm răng, tất cả hun hút đen tròn đôi hốc mắt, những mảnh xương khô dòn tưởng chừng như sắp gãy vụn, lập rập đồng thanh : phải moa không…phải moa không ? Tiếng phải không phải không …như những đợt sóng gấp rút, dồn dập, liên tục xuyên thủng tai tôi, làm buốt óc, lạnh lưng. Tôi đăm đăm nhìn Noul, tim thình thịch giao động, hoang mang. Không phải Noul của ngày xưa, hiền lành và nhăn nhó than thở : Thi ơi là Thi, moa đã bảo toa bao nhiêu lần : khi xe ngộp xăng đừng cắm đầu cắm cổ đạp máy và bóp ga như thế. Ô kìa Thi, mắm bồ hóc mà toa nấu sôi mãi thế kia thì còn gì là mắm !
Nét mặt Noul chợt dịu lại, anh lắc nhẹ đầu : không phải moa.
Anh kéo tôi đi chỗ khác. Đám đông đen nghịch người hò reo vang dậy quanh những đống lửa khổng lồ.
Những ngọn đuốc quấn bằng lá thốt nốt khô cháy phừng lửa ngọn. Khói nóng thơm tho như khói đuốc lá dừa. Tôi nhớ lời Nga ngày trước. Về những thức giống nhau giữa đôi bên. Về những buổi chuyện trò hào hứng, vui vẻ ngày xưa. Giữa bọn tôi thì đôi khi cãi cọ, trêu chọc nhau, nhiều lắm chỉ đến mức độ đứt tay. 
Cớ sự này chắc thế nào (tôi ?) cũng phải trả nợ truyền kiếp. Dưng không mà nghe lời Noul. Hết chỗ đi chơi rồi sao ? Tôi cũng không nói được bây giờ với Noul điều không muốn nói mấy mươi năm về trước : hãy thông cảm cho những tấm lòng chùa Một cột …chúng tôi không biết múa, chúng tôi không biết vần đá, tạc tượng, dựng xây đền đài dâng tặng tổ tiên thánh thần trời phật, chúng tôi chỉ có…Văn miếu… và lăng vua chúa lãnh tụ. Những kiến trúc giản dị, đơn sơ.
Phải thật kiêu căng, cực kỳ căm thù mới đủ lấp che mặc cảm, ngu dốt và tham lam ?. Và thừa can đảm triệt tiêu quá khứ ?
Nhưng trễ rồi.
Noul buồn rầu : “Làm sao toa tìm được hở Thi, moa không còn gì để lại, Thi ạ ! Không một hình ảnh, không con số, không so não, không một đốt xương tay.”

Mỗi đống lửa nằm trong một vòng tròn kẻ vôi trắng. Những người cầm đuốc đứng san sát nhau. Đám đông ở tận vòng ngoài chìm trong bóng tối. Những bó đuốc giơ lên cao. Tôi cố nhìn những mặt người câm lặng.
Ai là Angca giảng dạy lí thuyết và bí quyết đi đến ngày mai rực rỡ, ai vạch ra cương lĩnh, ai là văn nô sáng tác những bài văn thơ bừng bừng lửa cách mạng để cầm tay đồ tể, ai là đồ tể, ai là người ra án  quyết, ai là người thi hành bản án, ai đã truyền lệnh, đã chôn hàng trăm nghìn trái mìn đủ kiểu vuông tròn gọn nhỏ hay kềnh càng made in China, made in USA, URSS ?
Noul cười gằn :
– Biết rồi thì sao ?
Anh buông tay tôi, bước lại gần vòng người, họ mở ra một lối đi, một khung cửa lửa. Từng người trong đám đông tiến tới, lần lượt bỏ vào giữa vòng lửa một quyển sách. Kẻ này lui ra, người sau lấn tới. Những cây đuốc, những trang giấy. Liên tục. Chỉ trong chớp mắt, núi sách và núi lửa cao nghệu. Giàn hỏa bừng bừng tòa án giáo đình Inquisition.
Tất cả xảy ra nhanh đến nỗi tôi không kịp có phản ứng, Noul và nhiều người khác bị ném vào giữa những khối sách cùng lúc với các bó đuốc.
Những khối lửa cháy bừng bừng nóng hực, kẻ vạch những đường vòng phân chia bóng đêm ngu muội và ánh sáng chân lí hỏa thiêu tội lỗi.
Tiếng Noul thì thầm bên tai tôi : chết trong tay đồng bào mình hoặc trở thành phò mã …ngụy ? Chọn chết cách nào đây ? Dân tôi có tài hoa nghệ sĩ hiền hòa như Thi nghĩ ? Nhưng hiền hoà và thi sĩ đến mức nào thì ngừng ? Tàn bạo đến mức nào cho đủ đối đầu kẻ lạ đến chiếm đóng đất nước tôi, cho đủ trừng phạt làm gương những tên phản bội?
Tôi không muốn Noul nói nữa. Sao anh không đặt anh, tôi, Nga, đặt chúng ta ở ngoài vòng hệ lụy rất lẩn quẩn này ?
Tôi nghe mình vật vả van nài : không, không. Noul ơi, tại sao anh trở về quê hương làm chi ? Có ai cần đến anh đâu ? Anh, một bộ óc và đôi tay nghệ sĩ, sẵn sàng đặt những câu hỏi lẩm cẩm trong khi ruộng cằn chỉ cần những nhát cuốc mạnh khoẻ, nghiêm nhặt và tuyệt đối tuân tòng lệnh trên. 
Cùng một lúc tôi thấy hình ảnh một Pol Pot, nhiều năm sau cuộc cách mạng, nằm dài trên chiếc giường tre liệm, mắt nhắm, tay xuôi, xác xơ, thê thảm, bộ quần áo đen tả tơi, hai cuộn vải đút mũi. Ông ta sẽ tự biện hộ thế nào đây ? Bộ hạ ngu dốt đã hiểu lầm tiêu diệt chính trị  là thủ tiêu thân xác địch thủ, xoá bỏ quá khứ là đốt tiệt sách xưa, tạo nên con người mới có nghĩa là giết sạch người cũ ? dựng xây xã hội mới là xổ toẹt vào quá khứ hôm qua ? Bây giờ, trên con đường dài đưa đến biên giới Thái Lan, Miến Điện, để thực hiện công trình chôn dây cáp quang truyền thông cho thế giới được hiểu biết, được văn minh, được gặp nhau vân vân…hai mươi năm sau, hàng ngàn người khmer công nhân tạm bợ đã mang theo cả bầu đoàn thê tử tả tơi lếch thếch, thúng mủng, gióng gánh xác xơ. Cha đào đất, con đập đá, mẹ với con mọn trên lưng, bì bõm lội bùn ven sông, mò vớt tôm tép, vơ vét củi khô, nhóm lửa cho bữa cơm quá thô gọn. Hình phạt hay đền bồi nào cho người đã mất mẹ, mất cha, mất tình nhân, cho người đã biên số, đề tên, chụp ảnh từng tử tội vân vân ? Bây giờ, ác mộng có trở lại hằng đêm trong giấc ngủ giữa cánh đồng hoang đất khô lộng gió một khi đống lửa đã tắt lịm, câu chuyện rời rạc đã cạn đề tài nhường chỗ cho giấc ngủ lấy sức hôm sau lại đào, đập, lại tìm kiếm một phương cách duy trì cuộc sống. Giấc ngủ say vì kiệt lực hay là trong bóng đêm đen đặc ấy, chỉ là những cặp mắt thao láo lo lắng nghĩ đến ngày mai kia, ở tận cùng biên giới, khi chẳng còn đất đá để đào, đập, chẳng còn một đốc công nào chìa ra những đồng bạc rách nát. Một công việc khác ? Một tương lai nào ? Nói chi đến lễ vật đêm giao thừa hay ngày cúng giỗ. Nói chi đến một lời kinh cầu siêu, một nhắc nhở, một bài vị, một di ảnh ;  như một thứ xa xí phẩm.  Và có ai nhớ đến Noul không ? 
Từng loạt tiếng hô vang dậy, từng nhịp ngắn và đều, rập khuôn theo một tiếng mẫu dõng dạc. Hoan hô. Hoan hô ! Đả đảo. Đả đảo !. Tiêu diệt. Tiêu diệt !. Giữa hai loạt sấm sét gào thét đồng tình là lời hùng hồn kết tội. Một bản án hùng hồn, đanh thép. Những bàn tay tiếp tục ném những quyển sách, những tập nhạc, những bộ kinh cận viễn, cả những cây đàn, dương cầm, guitare, mandoline, vĩ cầm, những ống sáo…Ừ, chẳng ích lợi gì, phải thiêu huỷ hết. Cho triều đình được thiên thu vạn tuế. 
Nhưng chưa đủ, nên « cách mạng » phải tiêu diệt kẻ ngoại đạo, tiêu diệt những bộ óc, những bàn tay không ngoan ngoãn, vì trong tương lai, biết đâu chúng có thể viết những quyển sách khác hẳn với kinh của lãnh tụ, chúng có thể sáng tạo những biểu tượng, vẽ ra những con đường, viết nên bài nhạc lạ, bức hoạ mới, đem đến những cái đẹp hoàn toàn khác với đường đi, sở thích và bộ mặt lãnh tụ. Phải ngăn chận các đầu mối đưa đến hiểm nguy, mất mát.
Đám cháy lan rộng, cao lên mãi. Tiếng lửa nghiến rần rật. Những lưỡi lửa nhảy nhót reo hò phụ họa cho những tiếng kêu gào. Phải đi đến tận cùng tin tưởng. Không một giây ngưng trệ, không một tích tắc cho suy nghĩ hoặc nhìn lại, biện luận.  Không thể trốn chạy hoặc xét lại, vì tim óc đã từ lâu chỉ một mực tuân thủ, tay chân không thể phản kháng vì quá lâu chỉ cử động theo nhịp sai khiến.
Tiếng Noul vẫn đều đặn bên tai tôi nhưng tôi nhìn không ra anh trong đám người đang hò hét bên ngoài hay đang quằn quại kêu rên trong đống lửa. Tôi kinh hoàng tìm kiếm. Noul ơi hãy tiếp tục nói đi. Anh hãy tiếp tục nói. Không, anh bất công lắm Noul ơi, tôi nghĩ khác. Bạo lực là cơn bão bất ngờ…Hãy cãi lại tôi đi, Noul…Và bão tố nào cũng đến hồi tan biến.
Tất cả bỗng im lặng chỉ còn tiếng lửa, hàng trăm ngàn điểm hào quang li ti vỡ bùng tiếng răng rắc lạ lùng, cho đến lượt tôi bị nâng lên cao và bị ném vào giữa vòng lửa. Những ngọn lửa nghiến ngấu hừng hực, bao trùm nóng rát.
                                              *                     
Tôi mở mắt giữa những dây nhợ, bình thuốc, ống nước biển, máy đo nhịp sống chết. Mùi cồn, mùi thuốc xông vào mũi, gọi dậy. Thì ra chỉ là giấc mơ. Miệng chát đắng, cả thân mình nặng chì, khô ran, tay chân gãy vụn, đầu óc đặc cứng. Chị Thương khóc cười tíu tít, tiếng chị như chim trong vườn chào mừng nắng hừng đông. Thi ơi, Thi ơi. Em tôi sống lại rồi. Má đang chờ ở nhà. Ba sẽ tạm rời cô vợ trẻ, bay từ Sài Gòn qua với em, với chúng ta.
Tôi dần dần định thần, nhớ lại. Và chợt nghe toàn thân mềm ngập nỗi vui mừng. Vậy là Noul sẽ còn sống vì tôi trở về cõi sống. Như một cơn mơ kì lạ. Tất cả chỉ là một cơn mơ dữ dằn vô căn cứ. Tôi đã chẳng thấy đường hầm hào quang nào. Rất thật nhưng cũng rất mơ. Giấc ngủ tiếp nối êm đềm, không mộng mị. Êâm đềm.
Ngày tôi rời bệnh viện, trên đường về nhà, chị tôi huyên thuyên kể chuyện, nước mắt nước mũi như mưa lũ. Cuốn đi mọi giận hờn khác biệt. Tôi mấp máy lời xin lỗi. Mỗi năm một lần Tết, một dịp một cớ để tự do yêu mẹ và yêu chị. Mày ngu đến thế thì thôi !
Tôi muốn mãi mãi được cài hoa hồng mùa Vu Lan. Tôi muốn nghe hoài những huyền thoại xa xôi, những nhắc nhở không ngừng. Và đôi lúc, sẵn sàng và sung sướng chấp nhận tối hậu thư. Tốt nhất là làm thế nào để không có tối hậu thư !
Em nhớ gì không, hả Thi. Sao nằm bệnh mấy tuần trong nhà mà không báo cho ai. Khi xe cấp cứu đến, người ta thấy em nằm bất tỉnh trước cổng nhà. Hôn mê hơn mười ngày, chưa bao giờ chị sợ đến như vậy. Chị chỉ dám báo tin cho các cháu hôm qua, cuối tuần chúng sẽ về đây. Chỉ lạ một điều : Kiên bảo chị rằng không phải Kiên là người đàn ông nói tiếng Pháp có giọng Á châu gọi điện xin cấp cứu.

Khi đẩy xe lăn qua hành lang vào phòng khách, người y công chợt dừng chân vì tay áo blouse trắng của ông ta bị nắm cửa giữ lại. Chị Thương chạy vội đến. Tôi quay mặt nhìn lên tường tìm kiếm bức tranh. Rõ ràng tôi đã treo nó lên chỗ này. Và nó vẫn ở đúng y chỗ ấy. Vẫn bức tranh xưa, vẫn hàng chữ mềm mại của Nga. Vẫn đường tuyết quạnh hiu, hàng cây trơ cành, con chim đen nhỏ trên chiếc cửa phủ tuyết, hai bóng người vẽ thêm của Noul. Chỉ thiếu những giọt máu nâu đen.

                              4/2001
Tặng anh Ngô Thế Vinh, để nhớ Vòng đai xanh và Cửu Long cạn dòng, biển đông dậy sóng.

bài đã đăng của Phan Thị Trọng Tuyến


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)