Trang chính » Biên giới trong Văn Chương, Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Chuyên Đề, Da Màu số 02, Phỏng vấn Email bài này

Trịnh Cung: về Ngôn ngữ và Thơ

0 bình luận ♦ 19.08.2006

 

 

Ngôn ngữ

1. Theo tôi, hai nhận định của hai nhân vật, một nhà văn Cuba và một nhà thơ cộng sản Việt Nam (trong nước hiện có 2 loại nhà thơ: cộng sản và không cộng sản) như trong câu hỏi đã nêu đều không thực sự đại diện cho số đông những người cầm bút của hai dân tộc Cuba và Việt Nam.

Tuy nhiên, cách nhìn nhận vấn đề của nhà văn Cuba, Mirta Yanez, giáo sư văn chương thuộc đại học Havana, là khôn ngoan và có tính chính trị cao hơn nhà thơ Nguyễn Duy. Sự khôn ngoan của Mirta là nhìn nhận giá trị của dòng văn chương Cuba di dân như một phần đã và tiếp tục làm cho nền văn chương Cuba phong phú hơn, mạnh mẽ hơn. Về mặt chính trị, việc nhìn nhận như thế sẽ có hy vọng xoá đi sự ngăn cách, sự loại trừ, giữa nhà văn trong và ngoài đất nước Cuba vì sự khác nhau về ý thức hệ. Đây là chiếc chìa khoá cho sự hoà giải nếu thực sự tất cả những nhà văn trong nước Cuba đều có chung một quan điểm như Mirta Yanez (điều này khó có thể xảy ra trong một nước Cuba cộng sản), và đây cũng chính là chỗ rất khác với cách nhìn vấn đề của nhà thơ Nguyễn Duy.

Mặt khác, có thể Mirta muốn qui về một mối cho nền văn học Cuba khi công nhận vai trò quan trọng và sự đóng góp tích cực của dòng văn chương Cuba lưu vong vào nền văn học nội địa Cuba là vì những nhà văn di dân này đã có những thành tựu mang đẳng cấp quốc tế nên mới “thấy sang bắt quàng làm họ”. Đây chỉ là giả thiết, nhưng với ngôn ngữ Mỹ La Tinh, người Cuba có lợi thế nhận được lượng độc giả rất lớn trên toàn thế giới, nhờ đấy, họ dễ có được sự chú ý của giới phê bình văn học. Và với chúng ta, tiếng Việt đang gặp phải điều ngược lại.

Trong phát biểu mang đậm tính loại trừ dòng văn chương di dân của người Việt hải ngoại của mình như câu hỏi đã trích dẫn, nhà thơ Nguyễn Duy đã cho thấy rõ ông đứng về hàng ngũ những người cộng sản Việt Nam bảo thủ chủ trương thuần chất của ngôn ngữ, không chấp nhận bất kỳ một sự pha trộn nào dù sự pha trộn ấy có nhằm nâng cao chất lượng sáng tạo cho văn chương Việt Nam đương đại đi nữa. Thực ra, đây là cái lý do của những người trong nước đang thừa hưởng vinh quang từ cuộc chiến thắng 1975, không muốn nhìn nhận một thành tựu văn chương khác của những nhà văn đồng bào di tản. Họ là những nhà văn chiến thắng, không có chuyện cùng ngồi chung một chiếu cỗ với những người cầm bút thua cuộc hoặc đã bỏ chạy khỏi đất nước. Chỉ có họ mới là đại diện đích thực của nền văn chương Việt Nam và cũng chỉ có họ mới là người chọn lựa con đường ngày mai của văn chương Việt. Nếu những nhà văn hải ngoại chấp nhận làm vai diễn phụ thì còn có thể được họ nâng đỡ cho cơ hội hội nhập và được coi là chiếc cầu nối văn chương trong nước với thế giới.

Mặt khác có tính bản chất hơn, dòng văn chương Việt hải ngoại chắc chắn là trẻ hơn, mới hơn và nhất là cái chất tự do của nó sẽ là một thế lực cực kỳ hấp dẫn mà dòng văn chương chính lưu trong nước không có được, đây mới là phần chìm của vấn đề giải thích tại sao tác phẩm văn học nghệ thuật của các bạn ở hải ngoại được nhìn như một bộ phận bị tách rời khỏi lịch sử văn chương Việt Nam.

2. Trước hết, tôi không đồng ý với cách hiểu của nhóm thực hiện khi cho rằng nhà thơ Nguyễn Duy đặt ra vấn đề thuần chất ở đây là ông có ý ám chỉ sự thay đổi không ngừng của ngôn ngữ do ảnh hưởng và nhu cầu đời sống. Đơn giản và rõ ràng, thuần chất ngôn ngữ theo Nguyễn Duy là tiếng Việt không lai căng, không pha trộn với một ngôn ngữ khác. Tóm lại, nhà thơ này không chấp nhận mọi sự làm khác đi thứ tiếng Việt đang được phổ biến trong nước.

Hiện nay ở trong nước, không chỉ riêng Nguyễn Duy, thuần chất là một khái niệm thời thượng đang được một vài tổ chức văn hoá ra sức vận động trong những năm gần đây nhằm “bảo tồn bản sắc văn hoá Việt”, như cuộc thi ca nhạc “bài hát (thuần) Việt”, hoặc hội hoạ thuần Việt, điện ảnh Việt,… Thực ra, đây cũng chỉ là một chiêu bài dân tộc chủ nghĩa. Nếu cho rằng những nhà văn hải ngoại đã viết nên một thứ văn chương Việt không còn thuần chất thì những nhà thơ trẻ trong nước đang theo các trào lưu thơ hậu hiện đại với nhiều cách biểu đạt thi tứ rất mới, có khi không dùng đến cả con chữ hoặc trộn lẫn con chữ với các ký hiệu, hình ảnh và tiếng nước ngoài, thì đâu chỉ có người Việt hải ngoại mới làm mất đi cái gọi là thuần chất Việt ngữ, mà suy cho cùng, Việt ngữ từ đâu ra, có từ bao giờ và nó đã tồn tại đến hôm nay như thế nào? Chết và sống của một ngôn ngữ là một quá trình tiến hoá của ngôn ngữ đó. Chết là một tất yếu không cưỡng lại được của mọi điều khi nó không còn đủ sức sống, cách tốt nhất để ngăn ngừa sự suy thoái của ngôn ngữ bản địa hoặc khi nó đã trở nên quá chật hẹp cho nhu cầu sáng tạo. Người Mỹ chẳng hạn, họ có một chủ trương bổ sung những từ mới vào hệ thống ngôn ngữ của họ vài năm một lần tuỳ theo sự xuất hiện những từ mới, mặc dù nguồn gốc của những từ ấy thuộc các ngôn ngữ ngoài lãnh thổ của họ. Là nhà văn, không ai buộc được họ phải sống ở đâu mới viết được, họ viết như thế nào mới là điều quan trọng. Hãy quên nhanh chóng cách đặt vấn đề thiếu chiều rộng nêu trên của nhà thơ họ Nguyễn. Và rất có thể bây giờ, anh bạn của chúng ta, nhà thơ Nguyễn Duy cũng đã thấy nhận định này của mình là lỗi thời.

 

Thơ

1. Theo tôi, thơ Việt hải ngoại cũng chỉ là thơ Việt mà thôi cho dù nó không gặp phải một giới hạn nào như thơ trong nước, chỉ có cái giới hạn do họ tự đặt ra cho chính họ. Thật ra, gọi thơ Việt hải ngoại là cầu nối cho thơ Việt trong nước là cách nhìn hoặc đầy mặc cảm hoặc là một kiểu nói xã giao cho xong việc. Riêng tôi, làm thơ là làm thơ, tôi không đặt mình vào dòng văn chương Việt nào, chỉ theo cách của tôi, nếu thấy vừa ý thì giữ, không thì sẵn sàng sổ toẹt. Đặc biệt, tôi yêu sự lai tạo văn hoá, vì đây là cách chống lại tốt nhất sự cằn cỗi và trong thực tế của Việt Nam, lịch sử văn hoá của chúng ta là một lịch sử của sự lai tạo (lai căng) nhưng điều này đã không được công khai thừa nhận và mỗi khi có ai đó đưa ra tác phẩm mang dấu ấn của sự lai tạo đều bị những nhà bảo thủ lên án là văn hoá lai căng. Chúng ta, ai cũng biết rằng ngôn ngữ Việt đã có một lịch sử bắt nguồn từ chữ Hán, rồi phát triển thành Hán nôm cho đến khi nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes dựa trên mẫu tự La tinh “sáng chế” ra chữ Quốc ngữ mà người Việt Nam coi là ngôn ngữ chính từ đó đến ngày nay. Và cũng theo dòng chảy này, người Việt có thơ Đường, rồi Thơ Mới, thơ tự do, thơ đương đại,… Tuy nhiên, trong chúng ta vẫn còn một hiện tượng rất nghịch lý, đó là người theo xu hướng cải cách thời trước lại trở thành kẻ bảo thủ đối với thế hệ sau mình. Những người làm thơ thời Thơ Mới chê thơ tự do là tối nghĩa, là phi thi ca; những người làm thơ tự do khi về già lại chê thơ đương đại là thơ tào lao, thô tục, … Những gì của thời trước bị cho là lai căng thì đời sau ca tụng đó là di sản của dân tộc và cứ như thế thì chúng ta cần phải trả lại danh giá cho hai chữ lai căng mà sự ích kỷ cùng sự thiển cận của chúng ta đã dùng để bôi bác những sáng tạo đi trước thời đại của những nhà thơ tiền phong. Tôi nghĩ, văn nghệ sĩ làm công việc sáng tạo cũng khá gần gũi với những nhà sinh học với phòng thí nghiệm, luôn tìm cách lai tạo giống để tạo ra những chủng giống mới lạ hơn, nhằm làm phong phú hơn. Các nhà thơ hải ngoại với lợi thế của một môi trường văn hoá mở đã và đang đóng góp những cái mới cho ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại. Chính thơ đương đại của các nhà thơ Mỹ gốc Việt đã mang lại nguồn thông tin hữu ích và nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều nhà thơ trẻ đương đại trong nước, vậy thì tại sao ngôn ngữ thơ đương đại của các bạn sao phải bị cho là đang chết đi mỗi ngày và phải cần đến sự xếp loại hoặc sự thừa nhận từ trong nước? Các bạn không cần phải đặt vấn đề có nên tự viết lịch sử riêng cho thơ Việt hải ngoại, bởi tự nó đã là lịch sử rồi.

2. Tất nhiên là có nhiều điểm khác nhau giữa thơ đương đại trong nước và hải ngoại. Những nhà thơ trong nước thuộc dòng trong luồng không có khả năng tự đổi mới thơ của họ, trừ một số rất ít, số này phần lớn là thuộc về những nhà thơ sinh vào những năm 80 của thế kỷ trước. Họ chỉ đang đứng một chân ở cuối con đường thơ hiện đại và chân kia mới chạm vào ngưỡng cửa thơ đương đại. Chỉ có dòng thơ vỉa hè (ngoài luồng) mới thật sự là thơ đương đại. Tuy nhiên, do phải đối diện với nhiều vấn đề bất cập về tự do, dân chủ,… còn kéo dài trong môi trường xã hội trong nước, các nhà thơ đương đại này chưa thoát ra khỏi những hệ lụy bắt buộc, trong khi đó các nhà thơ đương đại hải ngoại đã rảnh tay từ lâu để tiến vào những không gian sáng tạo thời multi-media.

3. Thơ pha trộn hai thứ tiếng, một cách làm mới thơ của những nhà thơ Việt đương đại hay là một thứ tân cổ giao duyên? Trong trường hợp này cần phải xem lại về hàm lượng phẩm chất văn chương đương đại trong các tác phẩm ấy như thế nào, nếu không, đây chỉ là một thực tế đương nhiên của những di dân Việt làm thơ từ thế hệ 1.5 trở đi, một ngẫu nhiên của sự kết hợp giữa ngôn ngữ cội rễ và “ngôn ngữ lưu đầy” (theo nghĩa bóng).

SG 7/8/2006
TRỊNH CUNG

bài đã đăng của Trịnh Cung


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)