Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

mọi thứ tôi có tôi đem theo


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 22.10.2009

 

LTS: Đây là đoạn trích từ Atemschaukel (dịch thẳng từ tiếng Đức là Xích đu hơi thở), quyển tiểu thuyết mới nhất của Herta Müller (HM) được xếp vào danh sách bình chọn cuối cho giải thưởng sách Đức năm 2009.  Đề tài chính trong tác phẩm này, như đề tài đã được khai thác trong những tiểu thuyết và thơ xuất bản trước đây của HM, là sự biệt ly/chia cách giữa cá nhân và gia đình, giữa cá nhân và xã hội, những hành trình tha hương vì hoàn cảnh chính trị, những chuyến đi không bao giờ đến điểm hẹn.

Như Thái Kim Lan đã đề cập trong lời giới thiệu của bản dịch Phỏng vấn Herta Mueller: Qua Ngôn Ngữ Tìm Thấy Chân Lý, đáng lẽ ra quyển tiểu thuyết này có hai tác giả, nhà thơ Lỗ Man-Ni gốc Đức Oskar Pastior và HM.  Vì Pastior qua đời năm 2006, HM đã hoàn thành tác phẩm này một mình bà, dựa Atemschaukel trên kinh nghiệm cá nhân của Oskar Pastior, khi nhà thơ bị quân đội chiếm đóng Nga Xô bắt đi đày sang một gulag (trại lao động) ở lãnh thổ Nga vào đầu năm 1945, lúc ông 17 tuổi. (Oskar Pastior bị đi đày ở trại lao động 4 năm, và trở về Lỗ Man Ni năm 1949.) Ngôn ngữ trong tiểu thuyết HM cũng gợi cho người đọc thi ca của Paul Célan, một nhà thơ Do Thái gốc Lỗ Man-Ni bị chính quyền Lỗ phò Đức Quốc Xã bứt ra khỏi gia đình và đày vào trại lao động trong Đệ Nhị Thế Chiến vào lứa tuổi 18.

atemschaukel-cover-

Tôi đem theo tất cả mọi thứ. Thật ra không phải cái gì cũng là đồ vật của tôi. Hoặc nó được dùng cho mục đích khác hoặc của người nào đó cho tôi. Chiếc rương da heo làm từ hộp máy hát. Áo choàng che bụi là của cha tôi. Áo đi ngoài cổ viền nhung là của ông tôi. Quần đùi là của chú Edwin. Đôi xà cạp da là từ người hàng xóm, ông Carp. Đôi găng tay màu xanh lục là của dì Fini. Hai món vật duy nhất của tôi là chiếc khăn quàng cổ bằng lụa màu boọc-đô và túi đồ dùng trong phòng tắm, quà tặng trong những dịp lễ Giáng Sinh gần đây.

Tháng Giêng năm 1945 chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn. Bị sốc, ngay buổi trọng đông ấy, khi thấy tôi bị người Nga đến bắt đi, nào ai biết đi về đâu, mọi người ai nấy đều muốn biếu tôi một món đồ hữu dụng gì đấy, có thể là thế, ngay cả nếu nó chẳng giúp ích gì cho tôi. Bởi chẳng còn gì trên thế gian có thể giúp tôi. Không thể thay đổi được nữa: Tên tôi nằm trong sổ đen của người Nga, thế là mọi người xúm vào cho tôi đồ—và đồng thời người nào cũng đi đến một kết luận riêng. Tôi chìa tay nhận đồ và, ở tuổi mười bảy, tôi cũng đi đến một kết luận của riêng tôi: ra đi bây giờ là đúng lúc. Nếu cuốn sổ đen không phải là lí do thì tôi cũng bỏ đi thôi, và nếu sự việc không đến nỗi quá tệ, biết đâu đây lại là điều tốt lành cho tôi. Tôi muốn bỏ đi lắm, bỏ quách cái tỉnh lẻ bé bằng móng tay này, nơi tất cả những hòn đá đều có mắt nhìn. Trong thâm tâm tôi nóng lòng nhiều hơn là sợ hãi. Và tôi cảm thấy lương tâm mình không ổn bởi đối với tôi, cuốn sổ đen chẳng có gì đáng lo ngại trong khi những người thân của tôi thì vô cùng sợ sệt, lo âu. Họ sợ tại một quốc gia khác có thể có những điều mệnh hệ không may xảy đến cho tôi. Còn tôi thì chỉ muốn đi đến miền đất nào đó không ai biết tôi là ai.

Đã có chuyện xảy đến cho tôi rồi. Một chuyện cấm. Nó vừa lạ lùng, vừa bẩn thỉu, vừa ô nhục, vừa đẹp đẽ. Nó xảy ra nơi công viên thị xã giữa những cây trăn, tận phía sau, khuất sau những ngọn đồi cỏ. Trên đường về nhà, tôi vào tận trung tâm công viên, đặt chân lên ngôi đình tạ, nơi ban nhạc trình diễn cho công chúng nghe vào những dịp lễ. Tôi ngồi xuống nghỉ chân trong chốc lát. Ánh sáng xuyên qua lớp gỗ chạm trổ tinh vi. Tôi có thể nhìn thấy nỗi sợ hãi của những hình tròn, hình vuông, hình tứ giác trống rỗng—nối liền nhau bởi những sợi tu đầy móng vuốt của loài dây leo màu trắng. Đấy chính là biểu tượng cho sự lầm lỡ của tôi, cũng là biểu tượng cho nỗi kinh hoàng trên mặt mẹ tôi. Tại ngôi đình tạ này tôi thề với chính tôi: Tôi sẽ không bao giờ trở lại cái công viên này nữa.

Càng cố tự cấm mình tôi càng nhanh chóng trở lại—sau hai ngày. Tôi lại ra chỗ hẹn, nó được gọi như thế trong công viên. Trong lần hẹn thứ hai tôi gặp lại gã đàn ông tôi gặp lần đầu. Gã có biệt danh là THIÊN NGA. Gã đàn ông thứ hai là người mới, tên CÂY TÙNG. Gã thứ ba CÁI TAI. Rồi gã CHIM OANH và gã MŨ KÉT. Sau đấy, CON THỎ, CON MÈO, HẢI ÂU. Rồi NGỌC TRAI. Chỉ chúng tôi mới biết tên nào là của người nào. Chúng tôi chơi trò thú hoang, tôi thả mình từ người này sang người kia. Lúc đó đang là mùa hè nơi công viên, vỏ những cây thông ngả sang màu trắng, bức tường màu xanh lục của bụi cây lá rậm rạp cao lớn dần giữa những bụi hoa nhài và hương mộc.

Tình yêu có mùa của nó. Mùa thu đến, các cuộc hẹn hò trong công viên cũng chấm dứt theo. Cây cối trở nên trơ trụi. Các buổi hẹn theo chân chúng tôi vào khu bể bơi Neptune. Bên cạnh cái cổng sắt là bảng hiệu hình bầu dục với con thiên nga. Mỗi tuần, tôi đến gặp người đàn ông gấp đôi tuổi tôi. Ông ta là người Rômani. Đã có vợ. Tôi sẽ không tiết lộ danh tính ông ta, và cả tên tôi nữa. Chúng tôi không đến cùng lúc: người đàn bà ngồi ở quầy thu ngân, đằng sau ô cửa sổ bọc chì của phòng bán vé, sàn đá bóng lộn, cột tròn trung tâm toà nhà, gạch lát tường vẽ hình hoa huệ nước, cầu thang gỗ chạm trổ—tất cả những thứ ấy, không thứ nào được phép nhận ra chúng tôi đang sắp đặt cho những cuộc hẹn hò. Chúng tôi xuống bể bơi cùng những người khác. Chỉ khi nào vào phòng tắm hơi chúng tôi mới gặp nhau.

Vào thuở ấy, một thời gian ngắn trước khi bị bắt vào trại—và cũng là trường hợp từ lúc tôi trở về cho đến năm 1968, lúc tôi bỏ xứ ra đi—bất cứ cuộc hẹn hò nào cũng có nghĩa là án tù. Chí ít là năm năm, nếu tôi bị bắt. Nhiều người bị bắt lắm. Sau một cuộc hỏi cung tàn bạo, từ công viên hoặc bể bơi công cộng của thị xã họ bị tống thẳng vào lao xá. Từ đấy ra thẳng trại tù, trại nằm cạnh con kênh đào. Bây giờ thì tôi biết: không một ai từ con kênh trở về. Người trở về, nếu có, là cái thây ma biết đi. Già nua, tàn tạ, chẳng còn hơi sức đâu cho bất kì loại tình yêu nào.

Còn như ở trong trại—tôi sẽ chết ngay nếu bị bắt gặp.

Sau năm năm trong trại, mỗi ngày tôi tản bộ xuyên qua những xao động huyên náo của phố sá, trong đầu nhẩm lại những câu trả lời hay nhất nếu bị bắt. BỊ BẮT GẶP QUẢ TANG: để chống lại bản án tội hình này tôi đã chuẩn bị sẵn cả ngàn lời biện hộ và trường hợp cách diện ngoại trường. Tôi đem theo người hành trang im lặng. Tôi tự đóng mình bên trong sự lặng im thật sâu, thật lâu đến nỗi tôi sẽ chẳng bao giờ tự mở mình ra bằng lời nói nữa. Mỗi lần mở miệng nói điều gì, tôi lại phải tìm ra một cách khác để tự đóng mình.

Mùa hè cuối cùng của những cuộc hẹn hò, đi xa hơn cái công viên nơi có những cây trăn, tình cờ tôi đặt chân vào ngôi nhà thờ Chúa Ba Ngôi toạ lạc trên đoạn đường cái đánh thành vòng tròn. Sự tình cờ này là định mệnh. Tôi trông thấy thời gian sắp đến. Đứng trên cái cột cạnh bàn thờ bên hông nhà thờ là một ông thánh khoác áo choàng màu xám, cổ áo ngài là một con chiên, ngài quấn nó chung quanh cổ. Con chiên nằm quanh cổ ngài, tự nó là sự lặng im. Có những điều bạn chẳng nói ra bao giờ. Nhưng tôi biết tôi đang nói điều gì khi tôi bảo sự lặng im chung quanh cổ bạn không giống sự lặng im trong miệng bạn. Trước khi, trong khi, và sau khi tôi bị giam trong trại—hai mươi lăm năm tôi sống trong sợ hãi, sợ cả nhà nước lẫn gia đình. Sợ một cú ngã hai lần, nhà nước có thể bắt giam tôi như một kẻ tội đồ, và gia đình có thể từ bỏ tôi trong ô nhục. Ngoài đường phố đông đúc, những quầy hàng trưng bày, cửa sổ nhà hay xe điện, bồn phun nước, vũng nước nhỏ, với tôi, đều biến thành gương soi. Tôi nhìn vào chính tôi, không tin nổi, tôi sợ tôi sẽ tan biến mất thôi.

Cha tôi là một giáo viên dạy hội họa. Và tôi, với hình ảnh bể bơi Neptune trong đầu, nhăn mặt đau đớn như thể tôi bị ai đá nếu ông thốt ra từ ngữ MÀU NƯỚC. Từ ngữ đó biết tôi đi xa đến đâu. Tại bàn ăn, mẹ tôi bảo: Con đừng dùng nĩa đâm củ khoai, nó sẽ vỡ nát ra, dùng thìa mà xắn, dùng nĩa chỉ để lấy thịt khoai ra ăn. Hai thái dương tôi giật bưng bưng. Tại sao bà lại dùng chữ thịt ở đây trong khi đang nói đến khoai và nĩa? Bà muốn ám chỉ loại thịt gì? Những cuộc hẹn hò làm đảo lộn ý nghĩa chữ thịt trong đầu tôi. Tôi là kẻ cắp của chính tôi, những từ ngữ bất ngờ đập vào tai tôi khiến tôi như tê dại.

Mẹ tôi và nhất là cha tôi, như tất cả những người Đức sống trong thị xã, đều tin tưởng vào cái đẹp của những lọn tóc vàng thắt bím và vớ trắng cao tận đầu gối. Họ cũng tin vào hình chữ nhật đen, râu mép của Hitler, và vào chúng tôi, những người Saxon Transylvania thuộc một phần của chủng tộc Aryan. Bí mật của tôi, nhìn từ góc độ vật thể thuần tuý, là cái gì ghê tởm nhất. Dính líu với người đàn ông Rômani có nghĩa là tôi có quan hệ với một người không thuộc giống Aryan.

Tôi muốn đi ra khỏi cái gia đình này, ngay cả điều đó có nghĩa là tôi phải vào trại. Tôi chỉ thấy chua xót cho mẹ tôi, bà chẳng thể nào nhìn ra điều bà biết quá ít về tôi. Sau khi tôi đi rồi, bà sẽ là người nghĩ đến tôi nhiều, nhiều hơn tôi nghĩ đến bà.

Tại ngôi giáo đường, bên cạnh ông thánh với con chiên của sự lặng im quấn chung quanh cổ, tôi cũng nhìn thấy hốc tường sơn trắng trên cẩn hàng chữ: THIÊN ĐÀNG TÁC ĐỘNG CHO THỜI GIAN CHUYỂN VẦN. Trong lúc xếp đồ dùng vào rương, tôi biết: cái hốc tường sơn trắng đã bắt đầu làm việc. Đây là lúc thời gian chuyển vần. Tôi cũng sung sướng vì không phải ra chiến trường, không phải lao đầu vào miền băng giá nơi tuyến đầu. Với lòng can đảm xuẩn động, tôi ngoan ngoãn đóng rương đồ. Tôi chẳng từ chối món nào. Xà cạp da có dây, quần đùi, áo khoác cổ viền nhung—chẳng món nào thích hợp với tôi. Thời gian chuyển vần mới là cái gì trọng đại, không phải áo quần. Với những bộ cánh này hoặc bất kì thứ áo quần nào khác, bạn đã trở thành người lớn. Thế giới không phải là buổi dạ tiệc khiêu vũ áo quần lộng lẫy, lịch sự, đúng vậy, tôi nghĩ, nhưng không kẻ nào, giữa lúc trọng đông, lại có thể ăn mặc lôi thôi lếch thếch chường mặt ra trình diện bọn Nga.

Hai tên công an—một tên người Rômani, tên kia Nga—cầm tờ danh sách đi xét từng nhà một. Đấy là bọn tuần cảnh. Tôi không rõ bọn chúng, tại nhà tôi, có tên nào thốt ra khỏi miệng chữ TRẠI hay không. Và nếu không thì ngoài chữ NƯỚC NGA, họ nói chữ nào khác. Nhưng dù họ có nói thì chữ TRẠI cũng chẳng hề làm tôi hãi sợ. Bất chấp chiến tranh và sự lặng im của cuộc hẹn hò chung quanh cổ tôi, ở tuổi mười bảy, tôi vẫn vui sướng với tuổi thơ khạo khờ tươi sáng. Những chữ như màu nước, thịt, đi vào đầu tôi. Trí não tôi chết khô với chữ TRẠI.

Lúc ngồi ở bàn ăn với những củ khoai và cái nĩa, lúc mẹ tôi làm tôi chết điếng với chữ thịt, tôi nhớ lại thời trẻ con, tôi chơi đùa dưới sân, mẹ tôi từ cửa sổ lầu trên gọi xuống: mày có lên ngay đây ăn cơm không thì bảo, nếu mày còn để tao gọi mày lần nữa thì cứ ở dưới đấy luôn đi. Tôi cứ nấn ná chơi dưới sân, chưa chịu lên, bởi thế khi lên đến nơi, bà bảo tôi: mày đi nhét đồ vào cặp học ngay bây giờ rồi cút xéo ra khỏi nhà, ra ngoài kia mày muốn làm gì thì làm. Vừa nói bà vừa lôi tôi vào phòng, lấy một túi sắc nhỏ và nhét chiếc mũ len và áo khoác của tôi vào. Tôi hỏi bà: Nhưng con biết đi đâu bây giờ? Con là con của mẹ mà.

Nhiều người nghĩ đóng đồ vào rương chẳng qua chỉ là chuyện thực tập cho quen tay, tự động bạn sẽ thành thạo, như hát hò hay cầu nguyện. Chúng tôi chưa bao giờ thực tập đóng đồ vào rương, ngay một chiếc rương cũng không có. Khi cha tôi ra mặt trận, gia nhập quân đội Rômani, chẳng có món đồ nào để đóng cả. Người lính trận được lo liệu mọi thứ, mỗi món đồ là một phần của bộ quân phục. Ngoài chuyện di chuyển và chống lạnh, chúng tôi chẳng biết phải đem theo thứ gì. Bạn không có những món hữu dụng, thế là bạn phải xoay xở tuỳ cơ ứng biến. Những món vô dụng trở nên cái cần dùng. Cái cần dùng lúc đó là vật hữu dụng duy nhất, chỉ bởi vì bạn có nó.

Mẹ tôi xách chiếc máy hát từ phòng khách vào đặt trên bàn nhà bếp. Dùng cái vặn vít, tôi chế biến hộp máy hát thành chiếc rương. Trước tiên, tôi tháo rời cơ phận và đĩa xoay ra khỏi chiếc máy hát. Đoạn tôi bịt kín cái lỗ nơi tay quay, trước khi bị tháo, gắn vào máy bằng cái nút bần. Lớp vải nhung làm nền tôi để yên, màu đỏ như lông cáo. Tôi cũng không gỡ cái nhãn hiệu bằng đồng hình tam giác với con chó ngồi cạnh chiếc loa và GIỌNG HÁT CỦA CHỦ NHÂN NÓ. Tôi nhét bốn cuốn sách dưới đáy rương: Faust, ấn bản bìa cứng, Zarathustra, một tập sách mỏng của Weinheber, và tuyển tập tám-thế-kỉ-thơ-ca. Không có cuốn tiểu thuyết nào, bởi bạn đọc tiểu thuyết chỉ một lần, không bao giờ đọc lại. Túi đồ dùng vệ sinh tôi để trên bốn cuốn sách. Trong túi có những thứ sau: một lọ nước hoa loại nhẹ để xức mình sau khi tắm xong, một lọ thuốc thoa sau khi cạo râu, một cục xà phòng cạo râu, một dao cạo râu, một bàn chải cạo râu, một ống bút cầm máu, một cục xà phòng rửa tay, một cái kéo cắt móng tay. Bên cạnh chiếc túi tôi xếp: một đôi vớ len (màu nâu, đã được mạng), một đôi vớ cao đến đầu gối, một chiếc áo sơ mi ca rô bằng nỉ hai màu trắng đỏ, hai chiếc quần lót kẻ sọc. Trên cùng, để tránh bị các thứ khác đè lên làm nhàu nhĩ, tôi xếp chiếc khăn quàng cổ bằng lụa mới toanh của tôi. Màu sắc của nó là tự nhiên—màu boọc-đô—nhưng nền ca rô chỗ sáng chỗ tối. Với món vật ấy, chiếc rương chật cứng.

Rồi đến cuộn chăn mền: vải trải giường lấy ra từ ghế trường kỉ (bằng len, nền màu xanh sáng kẻ ô màu be, to rộng—nhưng không đủ ấm). Tôi cuộn nó cùng với chiếc áo choàng (ca rô màu muối tiêu, đã sờn rách) và đôi xà cạp da (đã cũ lắm, từ thời đệ nhất thế chiến, màu vàng dưa, và dây cột).

Rồi đến ba lô gồm có: một hộp thịt giăm bông hiệu Scandia, bốn khoanh bánh mì trét bơ, vài miếng bánh bích quy còn thừa từ lễ Giáng Sinh, một bi đông nước với cái cốc vại.

Đoạn bà tôi đặt tất cả, rương, cuộn chăn mền, và cái ba lô ngay cạnh cửa ra vào. Hai gã công an bảo họ sẽ trở lại đón tôi lúc nửa đêm. Hành lí tôi đã chuẩn bị xong xuôi đâu vào đấy và để ngay cạnh cửa.

Sau đó, tôi mặc vào người: quần lót dài, sơ mi ca rô (màu be và xanh lục), áo khoác ngoài ngắn đến thắt lưng, tay áo đan len, một đôi vớ len, và một đôi bốt đi tuyết. Đôi găng tay màu xanh lục của dì Fini nằm trên bàn, trong tư thế sẵn sàng. Tôi thắt dây giày, đột nhiên tôi nhớ lại cách đây nhiều năm, trong dịp đi nghỉ lễ trên vùng Wench, mẹ tôi mặc bộ quần áo lính thuỷ bà tự may lấy. Lúc đang đi bộ giữa cánh đồng, bà tự để người ngã xuống đám cỏ cao và nằm giả chết. Lúc ấy tôi mới lên tám. Tôi sợ bầu trời sẽ đổ ụp xuống đám cỏ. Tôi nhắm nghiền hai mắt để khỏi phải nhìn thấy tôi bị nó nuốt chửng. Mẹ tôi nhảy lên, lắc lắc người tôi, bà bảo: Con yêu mẹ không? Xem này, mẹ vẫn còn sống mà.

Dây giày đã thắt xong. Tôi ngồi xuống bàn chờ nửa đêm đến. Nhưng nửa đêm rồi mà vẫn chưa thấy bọn tuần cảnh xuất hiện. Ba giờ đồng hồ nữa trôi qua—thật là chịu hết nổi. Nhưng rồi họ cũng đến. Mẹ tôi đưa chiếc áo choàng cổ viền nhung cho tôi khoác lên người. Tôi luồn hai tay vào áo. Bà đang khóc. Tôi đeo đôi găng tay màu xanh lục. Nơi lối đi thông ra cửa—ngay chỗ gắn đồng hồ ga—bà tôi bảo: BÀ BIẾT CON SẼ TRỞ VỀ.

Tôi không chủ ý ghi nhớ câu nói này. Nó theo tôi vào trại tù. Tôi không biết nó theo tôi. Nhưng câu nói như vậy, tự nó đứng một mình. Nó giúp tôi, hơn tất cả những cuốn sách tôi đem theo. BÀ BIẾT CON SẼ TRỞ VỀ trở nên món vật phù trợ hình quả tim cho cái xẻng của tôi, và là thiên thần chống đói. Bởi tôi trở về thật nên tôi có quyền nói rằng: câu nói như thế đã giúp cho bạn sống còn.

Ba giờ sáng ngày 14 rạng 15 tháng Giêng năm 1945 bọn tuần cảnh đến bắt tôi đi. Càng lúc trời càng rét, 15 độ âm. Chúng tôi ngồi trên một chiếc xe tải mui bạt đi xuyên qua thị xã vắng lặng và sau cùng đỗ trước một toà đại sảnh nơi tổ chức lễ hội. Nó chính là toà đại sảnh lễ hội Saxon. Và bây giờ được dùng làm nhà giam tập thể. Gần 300 con người bị nhồi nhét vào toà đại sảnh. Dưới sàn có đặt những tấm nệm bông và nệm rơm. Xe đổ về suốt đêm, từ những ngôi làng lân cận nữa, đổ xuống những người bị bắt. Khi trời hửng sáng thì con số đã lên đến gần 500. Đếm chỉ hoài công đêm hôm đó thôi, chẳng thể nào có cái nhìn tổng quát. Đèn thắp sáng suốt đêm trong toà đại sảnh. Người ta chạy tới chạy lui, tìm kiếm người quen. Họ bảo nhau thợ làm đồ gỗ đang được trưng dụng tại trạm xe hoả, họ đang đóng giường tầng làm bằng gỗ mới vào toa xe chở súc vật. Toán thợ khác đang lắp ráp lò đun bằng sắt vào xe. Và toán nữa thì đang cưa những cái lỗ dưới sàn xe để làm chỗ tiêu tiểu. Những đôi mắt mở to khi nghe người khác nói, một cách thầm lặng và thật nhiều; mắt nhắm lại trong lúc khóc, một cách thầm lặng và thật nhiều. Không khí nồng nặc mùi len cũ, mùi mồ hôi của nỗi lo sợ, mùi bánh nướng tẩm dầu mỡ, mùi bánh bích quy va-ni, và mùi rượu schnapps. Một người đàn bà cởi chiếc khăn choàng đầu. Chắc chắn bà ta là người sống dưới làng quê: tóc bà chải thành cái búi đôi nằm sau gáy, được giữ lại nhờ chiếc lược hình bán nguyệt cài ngay giữa. Răng của chiếc lược sừng cắm sâu vào tóc bà ta. Không thấy bề cong của chiếc lược đâu mà chỉ thấy hai góc lược nhô lên, trông giống như hai cái tai nhọn bé xíu. Với đôi tai và búi tóc dầy cộm, phía sau gáy người đàn bà trông như con mèo đang ngồi. Tôi ngồi như một khán giả giữa những ống chân thẳng đứng và hành lí ngổn ngang. Thoáng trong vài phút, cơn buồn ngủ khiến người tôi như tê dại và tôi mơ:

Mẹ tôi và tôi đang ở trong một nghĩa trang, chúng tôi đứng trước một nấm mộ còn mới. Trồng ngay giữa mộ là cái cây con mượt lá, cao bằng nửa người tôi và đang tăng trưởng. Trên cây có chiếc hộp quai da, một chiếc va li nhỏ. Chiếc hộp hé mở, chỉ vừa ngón tay, bên trong lót nhung màu đỏ lông cáo. Tôi không rõ người chết là ai. Mẹ tôi bảo: con lấy cục phấn trong túi áo choàng của con. Con không có, tôi trả lời bà. Khi thò tay vào túi áo, tôi thấy có cục phấn thợ may. Mẹ tôi lại nói: Mình phải viết lên hộp một cái tên ngắn. Con hãy viết tên RUTH, người thân mình chẳng ai có tên đó. Tôi viết RUHT, đó là tên người chết nằm nơi đây.

Tôi thấy thật rõ ràng trong giấc mơ tôi đã chết, nhưng tôi chưa muốn báo tin đó cho mẹ tôi hay. Tôi giật nảy mình khi một người đàn ông già khọm tay cầm dù đến ngồi xuống tấm nệm rơm bên cạnh tôi, ông ta ghé sát vào tai tôi nói: Chú em rể tôi cũng muốn đi, nhưng họ canh gác bốn bề dữ quá. Họ không cho chú ấy vào. Bọn mình chưa đi đâu cả mà chú ấy không được vào đây còn tôi thì không được về nhà. Trên mỗi chiếc khuy bạc đính trên áo khoác ngoài của ông ta là một con chim đang bay, một con vịt trời, hay đúng hơn, một con hải âu. Tôi nói vậy bởi cây thánh giá trang hoàng ngực ông ta, khi tôi cúi lại gần, trở thành cái neo. Cây dù đứng như một cây gậy biết đi giữa ông ta và tôi. Tôi hỏi: Bác đem nó theo à? Chứ sao, bên đó tuyết còn nhiều hơn bên đây, ông ta bảo tôi.

Không ai buồn thông báo bao giờ và bằng cách nào chúng tôi sẽ được chuyển từ toà đại sảnh ra trạm xe hoả. Dưới mắt nhìn của tôi, phải nói là được phép đi, bởi tôi rất muốn đi ra khỏi chốn này—sau bao nhiêu tháng ngày trông đợi—và ngay cả nếu phải nằm trong toa chở súc vật, với hộp máy hát và chiếc áo khoác cổ viền nhung, và đi nạp mình cho bọn Nga. Tôi không nhớ bằng cách nào chúng tôi ra đến trạm xe hoả. Những toa chở súc vật cao lắm. Tôi cũng quên phứt bằng cách nào chúng tôi trèo lên được, bởi vì không biết bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm chúng tôi nằm bẹp trên toa tàu, như thể chúng tôi sống luôn trên đó. Tôi cũng không nhớ chúng tôi di chuyển trong bao lâu. Tôi nghĩ di chuyển trong một thời gian dài có nghĩa là đi thật xa. Khi nào còn đang di chuyển, khi đó chúng tôi còn an toàn, sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra. Tất cả yên ổn khi chúng tôi còn đang trên đường đi.

Đàn ông đàn bà, trẻ già, hành lí kê nơi đầu thanh gỗ làm chỗ ngủ. Nói chuyện hoặc không nói chuyện, ăn hoặc ngủ. Những chai rượu schnapps được chuyền từ tay này sang tay kia. Đâu đó, một khi đã quen thuộc với tình trạng trên tầu, chúng tôi bắt đầu tìm cách rúc vào nhau. Bạn nhìn với một con mắt, và, với con mắt kia, nhìn ra hướng khác.

Trịnh Y Thư dịch từ ấn bản Anh ngữ của Donald McLaughlin.

bài đã đăng của Herta Muller


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)