Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Giới thiệu nghệ sĩ, Nghệ Thuật, Phụ Nữ & Giới Tính, Tạo hình Email bài này

Nữ nghệ sĩ trong thế kỷ 20 và đầu 21

Lê Hiền Minh biên soạn

Lời soạn giả: Thông qua trang Da Màu, tôi xin giới thiệu đến độc giả một loạt bài dịch chuyên đề về “Nữ nghệ sĩ trong thế kỷ 20 và đầu 21”. Tuy không thể mang đến một cái nhìn toàn diện do các nữ nghệ sĩ sẽ được giới thiệu chủ yếu đến từ thế giới phương tây; cũng như không thể giới thiệu hết gần trăm nữ nghệ sĩ được đánh giá là nổi bật, nhưng tôi hy vọng loạt bài dịch này sẽ đem đến nhiều thông tin thiết thực có từ các bài bình luận, bài phỏng vấn hay chính những tuyên ngôn, tự bạch của các nghệ sĩ.

Bài dịch đầu tiên- bài viết của Uta Grosenick tương đối khái quát tình hình nghệ thuật chung- như một lời mở đầu, sau đấy tôi sẽ chủ yếu thiên về giới thiệu một số nghệ sĩ từ thập niên 1960 trở về đây.

Uta Grosenick (1960) sống và làm việc như một nhà biên tập, curator độc lập tại Cologne và Frankfurt. Ngoài ra còn là nhà tổ chức triển lãm của Deichtorhallen ở Hamburg, và giám đốc dự án nghệ thuật của Kunsthalle der Bundesrepublik Deutschland ở Bonn. Grosenick đã biên soạn nhiều sách như : Art Now, New Media, Art of the Turn of the Millennium, Woman Artists,vv…

 

NỮ NGHỆ SĨ

 

Vào đầu thế kỷ 20, nữ nghệ sĩ đã được thừa hưởng từ những người phụ nữ đi trước qua các cuộc đấu tranh để dành lấy quyền lợi trong thế kỷ 19. Họ được học chung trường mỹ thuật với nam giới, xin học bổng, tham gia vào lớp học vẽ hình họa (có người mẫu), tham dự các cuộc thi và đoạt giải thưởng. Hơn nữa, họ còn có thể trưng bày tác phẩm của mình trong các triển lãm quốc tế và bán tại các phòng tranh, họ được đặt mua tác phẩm, và họ giữ một vai trò chủ động trong thế giới nghệ thuật.

Triển lãm đầu tiên dành riêng cho tranh vẽ của phụ nữ được tổ chức tại Amsterdam năm 1884, và trong năm 1908 và 1913 Paris trở thành địa điểm của 2 cuộc triển lãm nữa dành riêng cho nữ nghệ sĩ.

Với một cái nhìn lướt qua thì có thể nghĩ là, vào thế kỷ 20, đã không còn tồn tại một sự cách biệt to lớn nào giữa địa thế của nam và nữ nghệ sĩ. Một quan điểm thuyết phục là tài năng thực sự sẽ tự tìm thấy con đường để nổi bật, và người nghệ sĩ có năng khiếu bẩm sinh sẽ thành công. Nhưng trong thực tế thì thói khoe khoang về sự bình đẳng trong cơ hội này là thiếu thực chất. Chỉ một ít phụ nữ đang dạy học trong các trường đại học mỹ thuật hay là thành viên của các hiệp hội nghệ thuật, họ vẫn tiếp tục bị giới thiệu một cách không đầy đủ tại các triển lãm; và bị so sánh với tác phẩm của các nam nghệ sĩ. Tác phẩm của họ thường ít được chấp nhận, chú ý bình luận đến, hay được dành sự quan tâm cho các bộ sưu tập của công chúng hay cá nhân.

Vào những thập niên đầu của thế kỷ 20, có vô số phong trào nghệ thuật bùng nổ tại Châu Âu trong một thời gian ngắn: Art Nouveau* (hay Jugendstil), Biểu Hiện, Dã Thú, Lập Thể, Vị Lai,Tạo Dựng, Đa Đa, Trừu Tượng, the New Objectivity* (Neue Sachlichkeit), và Siêu Thực, đã thành lập một lượng lớn các phong cách mà trước đó không thể tưởng tượng đến được. Ngòai ra, còn có nhiếp ảnh và phim, dù chậm hơn nhưng chắc chắn sẽ thiết lập những phẩm chất của nó, như là một loại hình nghệ thuật và đem đến những thay đổi quan trọng về cách nhìn nghệ thuật.

Mặc dù phụ nữ cuối cùng cũng được quyền vào các trường giáo dục- đào tạo, và tục lệ xã hội đã bớt nghiêm khắc, tuy nhiên họ thường nhận thấy là cần thiết phải dùng mối quan hệ cá nhân, với những nam giới có địa vị trong thế giới nghệ thuật để đẩy mạnh sự nghiệp của họ.

Trong trào lưu tiên phong của những năm đầu thế kỷ 20, nhiều nữ nghệ sĩ (như Sonia Delaunay và Natalia Goncharova) phát triển phong cách của mình tại các học viện ở Nga, và sau đó hoàn chỉnh nó tại Paris. Vào thập niên thứ hai của thế kỷ, nữ nghệ sĩ đã sáng tác tranh và tượng bao trùm các thể loại của nghệ thuật thị giác, từ cách vẽ hiện thực như vẽ khỏa thân đến hoàn toàn trừu tượng.

oncharova-stonefemalefigurine.stilllife.1910.oiloncanvas

Natalia Goncharova

Stone Female Figurine. Still Life. 1910. Oil on canvas. 88×67.5 cm.
Kostroma Province Picture Gallery

Đại chiến thế giới lần nhất chứng kiến sự nổi bật của các nghệ sĩ Dada, với tác phẩm phản ánh những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và xu hướng hòa bình (giữa những người khác). Một sinh viên trẻ tên là Hannah Hoch đã tìm thấy tiếng nói của mình trong nhóm nghệ sĩ này.

Từ thập niên 1920, Georgia O’Keeffe đã sáng tác những bức tranh vẽ hoa danh tiếng thế giới, nhưng khi miêu tả lại kinh nghiệm của mình trong thế giới bị chi phối bởi các nam nghệ sĩ, bà nhấn mạnh rằng đầu tiên họ không muốn cho bà nhập cuộc: họ thấy không thể chấp nhận nữ nghệ sĩ một cách nghiêm túc được. O’Keeffe để cho họ nói, bà biết mình có thể vẽ tốt không thua gì họ.

Vào những năm của thập niên 1930 và 1940, một số nữ nghệ sĩ (như Meret Oppenheim) đã khám phá và sáng tác theo khuynh hướng siêu thực, với những tưởng tượng đầy chất thơ, đã giành được sự công nhận rộng rãi. Điêu khắc cũng không còn hoàn toàn bị chi phối bởi nam giới. Tại Pháp, Germaine Richier bắt đầu đúc những tượng đồng to lớn và kỳ dị, trong khi tại Anh, Britain Hepworth nổi tiếng với những tác phẩm hiện đại của mình. Tuy nhiên, có những khó khăn hơn cho phụ nữ để giành được vị thế trong nhóm Biểu Hiện Trừu Tượng (Abstract expressionism), một trường phái nổi bật tại miền Đông nước Mỹ vào cuối thập niên 1940. Chỉ đến thập niên sau, khi Lee Krasner (1) vượt qua được những rào cản, nhờ sử dụng những mối quan hệ riêng của mình với các nghệ sĩ và nhà phê bình của phong trào. Một phụ nữ khác cũng gia nhập vào khuynh hướng Biểu Hiện trừu tượng là nghệ sĩ người Canada, Agnes Martin. Bà bắt đầu với tranh vẽ người, nhưng trước khi thập niên 1950 kết thúc, bà đã mở ra cách diễn đạt thị giác giảm thiểu, không hình thái mà về sau được công nhận là người mở đầu cho trường phái Nghệ Thuật Tối Giản (Minimalism)- mặc dù chỉ đến đầu thập niên 1970, rất lâu sau khi bà tự cô lập mình bằng việc chuyển từ New York tới New Mexico, sự quan trọng của bà mới được thừa nhận.

germaine-richier-

Germaine Richie – La Tauromachie. 1953.

Agnes-Martin-Installation

Agnes Martin – On a clear day. 1973 (installation view).

Vào thập niên 1960, khái niệm truyền thống của nghệ thuật được mở rộng một cách triệt để; kết quả là một loạt các phong cách cùng tồn tại, và có nhiều phương pháp trong cùng một thời điểm hơn bao giờ hết: Nghệ thuật thông dụng Pop Art (Niki de Saint phalle), Nghệ Thuật Ảo Giác Op Art* (Bridget Riley), Nghệ Thuật Khái Niệm (Hanne Darboven, Adrian Piper), Land Art* (Nancy Holt), Nghệ Thuật Tối Giản (Agnes Martin), Happenings and Fluxus* (Valie Export, Yoko Ono, Carolee Schneeman), Trình Diễn (Gina Pane) và Body Art* (Hannah Wilke) nổi bật gần như liên tiếp- và trong mỗi xu hướng mới, phụ nữ đều tham gia hoạt động.

clip_image007

clip_image008

Valie Export

Film, 10min: Man & Woman & Animal.

Nếu cuối thập niên 1960 cảm giác giống như bắt đầu của một thời đại mới, thì phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ như có được sức mạnh mới. Trong các bảo tàng và học viện mỹ thuật, nữ nghệ sĩ phản kháng đòi quyền bình đẳng. Họ tự tổ chức triển lãm cho mình, tự điều hành phòng tranh của mình và các lớp học mỹ thuật. Họ còn tìm kiếm ý nghĩa của trò chơi chính trị để phá vỡ hệ thống thống trị của nam giới.

Đầu thập niên 1970, Judy Gerowitz đã bỏ tên họ của chồng từ cuộc hôn phối, để lấy tên nơi cô sinh ra, Chicago- làm họ của mình. Tác phẩm bất hủ Dinner Party (Buổi Tiệc) của cô, 1974-79, được thực hiện với sự giúp đỡ của nhiều phụ nữ khác, là sự tôn kính đến 39 nhân vật phụ nữ nổi tiếng trong lịch sử, tụ họp lại trong một buổi tiệc tưởng tượng, giống như cuộc gặp cuối cùng của Chúa Jesus với các môn đồ.

Và cũng trong thập niên 1960, người ta khám phá ra Louise Bourgeois, người đã thám hiểm những ký ức thời thơ ấu và nỗi sợ hãi của mình qua tranh vẽ và tượng từ những năm 1930. Cùng lúc đấy, nhiều nhà phê bình nghệ thuật của nữ quyền bắt đầu hiểu tranh vẽ hoa của Georgia O’Keeffe, như là biểu tượng của giới tính phụ nữ- mặc dù bà không thừa nhận.

Kể từ thập niên 1960, một số nữ nghệ sĩ trình diễn cá biệt đã rất quyết đoán trong việc làm chủ cơ thể của mình. Trong hàng loạt thử nghiệm, họ đã trải qua những hành động như tự tổn thương cơ thể, tự hành hạ, và tự đặt mình vào sự cầm tù tâm lý. Trong Cut Piece (Cắt Rời), 1965, Yoko Ono để khán giả cắt vụn hết quần áo mà cô đang mặc trên người. Trong Rhythm 2 (Nhịp điệu 2), 1974, Marina Abramovíc đã đi đến tận cùng, qua việc nuốt những viên thuốc dùng để chữa bệnh tâm thần phân liệt, mà không cần biết sẽ tác hại như thế nào: cô đã uống cho đến khi rơi vào tình trạng hôn mê. Cùng năm đó, Gina Pane cắt mí mắt của mình sâu đến nỗi trong tác phẩm Psyché (Tâm Thần) máu tuôn tràn ra. Nghệ sĩ người Pháp Orlan đã trải qua nhiều lần phẫu thuật thẩm mỹ để tạo hình chính khuôn mặt mình, cho phù hợp với quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ; các phẫu thuật đã thực hiện dựa theo khuôn mặt được tạo ra trên máy vi tính, qua tổng hợp nhiều chân dung phụ nữ do các nam nghệ sĩ vẽ trong nhiều thời kỳ. Các cuộc phẫu thuật được tiến hành công khai cho người xem ngay tại phòng tranh và bảo tàng, và sau đấy bán dưới dạng băng video. Orlan tuyên bố rằng, cô hiến thân mình cho nghệ thuật.

orlan-

Orlan.

Trong khi đa số nữ nghệ sĩ của thập niên 1980, cùng cảm nhận nỗi thất vọng sâu sắc về tính tồn tại đầy ngoan cố của sự phân biệt giới tính, và thiếu một sự giải phóng thực sự trong nghệ thuật cũng như trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống, thì thế hệ phụ nữ trẻ hơn đã tự tin hơn, đã tận dụng những gì mà phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ đạt được, và kế tục với một phương pháp mang nhiều tính khôi hài hơn, trên con đường thám hiểm về giới tính và bản sắc của chính mình. Laurie Anderson đã bóp mép giọng nói mình để bày tỏ sự mâu thuẫn về giới tính trong tư tưởng của bản thân. Trong những bức ảnh khổ lớn của mình, Cindy Sherman giới thiệu bản thân như là hiện thân của nhiều đối tượng khác nhau, nhưng lại là một đối tượng không thể xác định, tạo cho cô cơ hội luôn luôn thay đổi được vai trò mà cô muốn diễn. Và Barbara Kruger đồi mặt với người xem – được giả định là nam giới- bằng những lời tuyên bố đầy khiêu khích.

Trong hai thập niên cuối của thế kỷ 20, nữ nghệ sĩ đương đại cuối cùng cũng chinh phục được những học viện nghệ thuật danh tiếng. Bảo tàng Guggenheim ở New York trưng bày triển lãm cá nhân của Jenny Holzer (1989) và Rebecca Horn (1993), cùng năm 1993 tại Anh, Rachel Whiteread trở thành người phụ nữ đầu tiên nhận giải thưởng Turner, giải thưởng mà các nghệ sĩ trẻ ước ao nhất, được trao hàng năm bởi Tate Gallery, London. Thị trường buôn bán tranh cũng chứng kiến sự kiện tác phẩm của nữ nghệ sĩ, như Susan Rothenberg và Rosemarie Trockel đạt giá rất cao.

Trong thập niên 1990, các nữ nghệ sĩ tạo dựng tác phẩm từ chủ đề đa văn hóa hay hoàn cảnh của những người phụ nữ ngay tại quê hương họ, với nhiều cách tiếp cận khác nhau từ tinh tế đến thu hút sự chú ý một cách trắng trợn. Hình ảnh người phụ nữ đeo mạng che mặt của đạo Hồi, như một thí dụ, là mô típ tuần hoàn trong sắp đặt ảnh và phim của Shirin Neshat, người đã bỏ Iran đến Mỹ. Tượng của Mona Hatoum, sinh ra tại Palestin và di cư từ Lebanon sang London, thể hiện mối đe dọa và hiểm nguy một cách tinh tế, như trong Untitled (Wheelchair) [Không Đề (Xe Lăn)], 1988, với tay cầm của ghế đuợc làm bằng lưỡi dao sắc.

clip_image010

 

Mona Hatoum- Wheelchair. 1988

 

Lại có một số nữ nghệ sĩ trải nghiệm với nhiều loại kỹ thuật thủ công, vốn được xem là tượng trưng cho tính chất đầy chất yếu đuối của phụ nữ, để biểu thị rằng quan niệm này là ad absurdum (2), nổi bật như Rosemarie Trokel, khi cô trưng bày con thỏ Playboy, logo của một tạp chí nổi tiếng dành riêng cho nam giới, thêu trên vải và dán vào toan sơn dầu. Tương tự, Ghada Amer, di cư từ Ai Cập đến Pháp để học tập, đã thay đổi quan điểm của phương Tây khi thêu hình ảnh những người phụ nữ thủ dâm, vạch trần cái nhìn của phương Tây rằng, chính họ cũng đánh giá thấp người phụ nữ như những vật thể để phục vụ nhu cầu sinh lý.

Thủ công như một hình thức nghệ thuật cũng xuất hiện trên nhiều loại sản phẩm mang tính nghệ thuật khác. Xu hướng nghệ sĩ đảm nhận những công việc mang tính xã hội, một trào lưu nổi bật cuối thập niên 1980, được thực hiện bởi hai nghệ sĩ sinh đôi người Úc Chrisitine và Irene Hohenbuchler, khi sử dụng kỹ thuật thêu và dệt trong dự án liên quan đến học sinh, tù nhân và bệnh nhân của bệnh viện tâm thần.

Kể từ cuối thập niên 1990, nữ nghệ sĩ rất thành công trong sử dụng kỹ thuật số và internet. Tác phẩm sắp đặt gần đây của Mariko Mori, Dream Temple (Ngôi đền trong mơ), 1999, là một hệ thống audio và 3-D phức tạp, dẫn dắt người sử dụng vào một thế giới khác.

Lynn Hershman, người đi đầu trong nghệ thuật truyền thông và sắp đặt mang tính tương tác, đã phóng những bức ảnh chụp bằng mắt điện tử của tác phẩm “CybeRoberta” lên mạng, trong lúc đó trang chủ mạng website của Natacha Merritt là những hình ảnh khỏa thân mà cô tự chụp bản thân hay bạn bè. Cả cô và nghệ sĩ Elike Krystufek, với tác phẩm trình diễn thường có nhiều loại đồ phụ kiện đi kèm, đã phỏng theo những hành động thủ dâm đầy khoái cảm, và biến người xem trở thành như những kẻ xem trộm, khiến chúng ta nhớ đến phong trào đòi giải phóng tình dục cho phụ nữ, cho đến nay vẫn là một mối quan tâm cấp thiết.

NatachaMerritt

Natacha Merritt/ Bongout Showroom, 2008.

Sarah Lucas thì theo đuổi cách tiếp cận tinh tế hơn đến sự thèm muốn và việc trở thành đối tượng của thèm muốn. Trong triển lãm “Beyond the Pleasure Principle” (Đằng sau Nguồn Gốc của Khoái Cảm), 2000, tại bảo tàng Freud ở London, cô đã treo- đằng sau chiếc ghế trường kỷ huyền thoại của nhà tâm thần học nổi tiếng, người vẫn luôn luôn tuyên bố rằng sự ham muốn là nguồn gốc cơ bản, động lực thúc đẩy của con người- một bức ảnh phóng lớn bằng cả bức tường chụp phần trên của người phụ nữ mặc áo thun, với một lỗ rách ngay đầu ngực trái của cô.

lucasbunnygetssnookered97

Sarah Lucas, Bunny Gets Snookered, 1997.

 

Trong một vài bức ảnh của Zoe Leonard, nghệ sĩ đã vượt ra khỏi định nghĩa rõ ràng của giới tính. Bằng việc đề cao một phụ nữ có râu như một cô gái đẹp, trong Pin-ups (Starring Jennifer Miller) (Cô gái đẹp – Jennifer Miller đóng vai chính), 1995-1997, cô thách thức cách nhìn một chiều, bao gồm cả chuẩn mực văn hóa về sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà. Tác phẩm của Leonard tượng trưng cho một khía cạnh của cuộc tranh luận về nghiên cứu giới tính mà bây giờ trở thành một phần quan trọng của nghệ thuật thị giác, và nhấn mạnh về sự khác biệt giữa “sex”(giới tính – đặt sự khác biệt của sinh học lên trước) và “gender” (giống- tập trung vào societal construct (3) và những gợi ý của nó).

Giới tính vượt qua nhau hay thám hiểm về giới tính, kéo theo sự khám phá “cách khoảng”giữa hai giới tính và đảm nhận lấy vai trò của giới tính khác (4). Trong những năm gần đây, họa sĩ Elizabeth Peyton thường vẽ chân dung những ngưới bạn và nhân vật nổi tiếng từ tạp chí minh họa như những người lưỡng tính, bằng cách lấy đi những đường nét thể hiện rõ ràng giới tính của họ. Tác phẩm của Elizabeth Peyton đại diện cho thế hệ nghệ sĩ mới, một lần nữa sử dụng tranh vẽ (painting hay drawing), nhưng dường như đã bỏ lại phía sau tất cả những gì có thể liên quan đến đề tài giới tính (nam và nữ).

Câu hỏi liệu rằng nghệ thuật của phái nữ sẽ tiếp tục là vấn đề tranh cãi chính trong thế kỷ 21, liệu rằng nữ nghệ sĩ sẽ tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong thế giới mà nam giới vẫn tiếp tục chiếm ưu thế, và nhất quyết rằng nghệ thuật phải được xem như là một tự bạch riêng biệt của một cá nhân duy nhất, bất chấp giới/phái- còn để ngỏ. Chúng ta hãy hy vọng họ sẽ đạt được thành công với nỗ lực của chính mình.

Lê Hiền Minh biên soạn

(*) Lê Hiền Minh: http://lehienminh.com/home.html

Nguồn:

– WOMEN ARTIST IN THE 20TH AND 21ST CENTURY by UTA GROSENICK (editor), 2001.

– THEORIES AND DOCUMENTS OF CONTEMPORARY ART: A SOURE BOOK OF ARTIST WRITING (by Kristine Stiles (Editor), Peter Selz (Editor), 1996

….và một phần nhỏ tổng hợp trên internet.

Chú thích của tác giả:

(1) Lee Krasner là vợ của Jackson Pollock- một trong những họa sĩ hàng đầu tiêu biểu của trường phái Biểu Hiện Trừu Tượng

(2) ad absurdum: có thể hiểu như là một “công cụ” của trí tuệ, dùng khi muốn biểu thị một quan niệm/suy nghĩ/lòng tin nào đó là vô lý, bằng cách thực hiện lại chính những điều đấy lên đến một cấp độ ngớ ngẩn. Như việc Rosemarie Trokel dùng lại chính kỹ thuật thêu mà được xem là đầy tính phụ nữ để thêu con thỏ Playboy-một biểu tượng của các bậc nam nhi.

(3) societal construct: tạm dịch là thực thể được xây dựng bởi xã hội mà tồn tại vì con người tin vào nó

(4) như nam nhận lấy vai trò của nữ và ngược lại

*Chú thích của BBT:

Đến thế kỷ 20, nhu cầu thể hiện tiếng nói, sự hiện hữu của nghệ sĩ, cũng như sự tranh giành quyền lực,… đã phát sinh và phát triển vô số các khuynh hướng nghệ thuật.

Ngoại trừ một số trường phái lớn và thông dụng đã được chuyển ngữ qua tiếng Việt, một số trường phái nhỏ và phụ không được phiên dịch ra tiếng Việt. Đây là công việc của các nhà mô phạm Việt Nam về bộ môn nghiên cứu nghệ thuật thế giới, và có lẽ không là nhu cầu cấp bách. Damau mạn phép phụ chú vài tính chất tiêu biểu cho những trường phái nầy

Art Nouveau: Một trào lưu nghệ thuật thế giới bắt đầu vào thế kỷ 20, thể hiện qua nghệ thuật như tạo hình, kiến trúc, đặc biệt về mặt trang trí thẩm mỹ.

New Objectivity: Khuynh hướng nghệ thuật từ Đức quốc, kế tiếp trường phái Biểu hiện, và bị cấm đoán vào thời Đức Quốc Xã

Op Art: Optical Art, một loại hình nghệ thuật tạo được ảo giác thị giác, như di động, vận chuyển từ tác phẩm cố định.

Happening and Fluxus: Khuynh hướng nghệ thuật có tính chất đơn giản, khôi hài. Đôi khi có tính chống lại nghệ thuật (anti-art), một nhánh rẽ của trường phái Dada.

Land Art: Thể loại nghệ thuật tạo hình mà nơi chốn và vật liệu được sáng tác từ thiên nhiên. tác phẩm được ghi nhận và lưu trữ qua hình chụp.

Body Art:Nghệ sĩ sáng tác các tác phẩm mà cơ thể của mình là 1 phần chất liệu. Tiêu biểu như sơn vẽ lên thân thể (tác phẩm tạm thời), hay xâm-tatoo (tác phẩm lâu dài).

bài đã đăng của Lê Hiền Minh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)