Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Cứu Chuộc


♦ Chuyển ngữ:
1 bình luận ♦ 17.09.2009

Nguồn: What You Pawn I Will Redeem của Sherman Alexie
The Newyorker tuần lễ 21-28 tháng 4 năm 2003

LGT:
Sherman Alexie ra đời ngày 7 tháng 10 năm 1966 tại Spokane, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Ông là một tác giả mà tài năng được thể hiện ở nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản. Sinh ra và lớn lên trong khu tự quản của bộ lạc Da Đỏ Spokane (Wellpinit, tiểu bang Washington), tác phẩm của ông đến từ những kinh nghiệm sống của một thổ dân Da Đỏ "hiện đại." Ông rời khu tự trị để theo đuổi học vấn và trở thành một trong những người Da Đỏ đầu tiên tốt nghiệp Đại Học. Văn chương của ông được đánh dấu bởi những mô tả thô nhám về đời sống trong khu tự trị, từ những mảnh đời của chính mình, từ chất bi/hài đầy màu sắc, từ những liên hệ thân thiết với lịch sử và văn hóa. Và từ văn chương của ông, người đọc tìm thấy những phát biểu chính trị dõng dạc và những bình luận xã hội sắc bén.

Bạn đọc có thể tìm biết thêm về Sherman Alexie ở link dưới đây: http://www.fallsapart.com/biography.html

Riêng bản Việt ngữ “Cứu Chuộc” dưới đây là một phân vân giữa “dịch sát” và “dịch thoáng.” Người dịch không thể chối cãi là mình đã gặp nhiều khó khăn trong nỗ lực giới thiệu một gã Da Đỏ bụi đời với ngôn ngữ đường phố của thành phố  Seattle thuộc bang Washington Hoa Kỳ đến bạn đọc ở Sài gòn, Hà nội, hay ngay cả quận Cam! Mong đón nhận những chỉ giáo mang tính xây dựng từ quý bạn đọc.
PN

Buổi Trưa

Hôm trước bạn có chỗ dung thân và hôm sau bạn ngủ vỉa hè, nhưng tôi sẽ không kể cho bạn nghe những lý do đặc biệt đã biến tôi thành một tên vô gia cư. Đó là bí ẩn của tôi và người Da Đỏ thì cần phải nỗ lực giữ lấy bí mật của mình để tránh khỏi sự dòm ngó thèm thuồng, đói khát của bọn da trắng.

Tôi là một gã da đỏ thuộc bộ lạc Spokane, nhóm Interior Salish, vốn sinh sống trong vòng một trăm dặm đường bán kính của thành phố Spokane thuộc tiểu bang Washington ít nhất cũng cả chục ngàn năm nay rồi! Tôi lớn lên ở Spokane, dời về Seattle hai mươi ba năm về trước để theo đuổi đại học, chỉ để bị trục xuất sau hai học kỳ, làm đủ thứ công việc nặng nhẹ, lấy vợ hai hay ba lần, làm bố của hai hay ba đứa trẻ… không cha, rồi trở nên khật khùng. Tất nhiên "khùng" không phải là định nghĩa chính thức của những vấn nạn tâm thần của tôi, nhưng tôi không nghĩ "chứng rối loạn phản/phi xã hội" chính xác hơn chút nào bởi vì cách gọi này làm cho tôi có vẻ như là một tên giết người hàng loạt hay sao đó. Tôi chưa từng làm hại một ai, ít nhất về phương diện thể xác. Tôi đã từng làm tan vỡ một vài trái tim khi thời vận tôi còn tươi đỏ, nhưng chúng ta ai lại không như thế, cho nên tôi cũng không có gì đặc biệt về phương diện này. Ngoài ra, tôi còn là một gã bạc tình lang chán phèo! Tôi chưa hề dan díu với nhiều người đàn bà trong cùng một lúc. Tôi cũng không làm nát tim họ trong chỉ một đêm.Tôi chấm dứt cuộc tình một cách từ tốn và thận trọng; tôi không giữ kỷ lục nào trong việc đánh bài tẩu mã! Tôi chỉ biến đi dần, từng mảnh, từng mảnh một. Và tôi biến mất, từ dạo đó…

Tôi sống bụi đời đã sáu năm nay. Nếu quả thực có một "gã không nhà tháo vát, đầy hiệu năng" thì tôi cho rằng mình là một người như thế. Sống bụi đời có lẽ là điều duy nhất mà tôi làm giỏi! Tôi biết nơi nào có đồ ăn miễn phí ngon nhất. Tôi đánh bạn với đám quản lý nhà hàng ăn và cửa hàng tạp hóa để họ cho tôi dùng phòng vệ sinh, và không phải là phòng vệ sinh “công cộng” đâu nhé! Tôi muốn nói đến phòng vệ sinh dành cho nhân viên, sạch sẽ và nằm kín đáo sau nhà bếp, kho chứa thức ăn, hay kho đông lạnh. Tôi biết thật là kỳ cục khi tự hào về một điều như thế, nhưng được quyền đái ở trong một căn phòng tắm sạch sẽ của người khác là chuyện quan trọng đối với tôi. Có thể bạn không hiểu được giá trị của một phòng vệ sinh "có vệ sinh," nhưng tôi thì biết rành rẽ lắm.

Có lẽ bạn chẳng màng đến những điều tôi vừa kể. Dân Da Đỏ bụi đời thì đầy ra ở Seattle. Bạn quen mặt chúng tôi đến chán ngấy; bạn đi qua, và có thể đã ném lại một cái nhìn hoặc giận dữ, hoặc ghê tởm, hoặc phiền muộn cho thân phận thảm thương của lũ quý tộc Da Đỏ man di này. Nhưng chúng tôi cũng có người thân và những ước mơ. Tôi làm bạn với một lão bụi đời Plains Indian có con là chủ bút của một tờ báo lớn ở miền Đông. Dĩ nhiên đó là theo lời kể của lão; nhưng dân Da Đỏ chúng tôi là những người kể chuyện tuyệt vời, nói dối tuyệt vời, và vẽ chuyện hoang đường tuyệt vời, cho nên có thể lão này thực ra chỉ là một lão già Da Đỏ bình thường. Tôi cũng thấy lão ta có vẻ đáng ngờ, bởi vì lão chỉ khai báo chung chung mình là người Da Đỏ mà không cho biết thuộc bộ lạc nào. Khi tôi hỏi tại sao lão không chịu nói thật lão là ai, lão hỏi lại, “Liệu có ai trong chúng ta biết rõ mình là ai?” Hừm, hay quá, gặp phải một đại triết gia Da Đỏ rồi đây! "Này,” tôi châm chọc, “lão phải có nhà rồi mới thành ‘gia’ chứ!” Lão ta chỉ cười và bỏ đi sau khi ném cho tôi một câu chửi thề tục tĩu!

Tôi lang thang các nẻo đường với nhóm bạn quen – đồng đội, nhân viên bảo vệ, và phe đảng của tôi. Đó là Tiểu Hồng, Tiểu Đệ, và tôi. Chúng tôi, nếu không đáng kể cho bất cứ ai khác, lại rất quan trọng cho lẫn nhau. Tiểu Hồng là một phụ nữ cao lớn, khoảng hai mét nếu bạn đo lường hiệu năng tổng quát và khoảng một mét rưỡi nếu chỉ tính có mỗi phần thể xác của cô ấy. Tiểu Hồng thuộc bộ lạc Yakama của hệ Wishram. Tiểu Đệ thuộc hệ Coville, nhưng bởi vì có đến khoảng một trăm chín mươi chín bộ lạc nằm trong hệ này, nên hắn có thể là bất cứ cái gì! Tuy vậy, Tiểu Đệ trông điển trai như thể vừa bước ra khỏi tấm bích chương kêu gọi "Đừng xả rác trên Điạ cầu thân yêu" của một cơ quan dịch vụ công ích. Tiểu Đệ có những xương gò má lớn như những hành tinh, bạn biết không, với những mặt trăng nhỏ xoay vòng chung quanh chúng. Tiểu Đệ làm cho tôi vô cùng ganh tị, ganh tị, và ganh tị. Nếu bạn đặt Tiểu Đệ và tôi cạnh nhau, nó sẽ là gã Da Đỏ "tiền-Kha Luân Bố" và tôi là gã Da Đỏ "hậu-Kha Luân Bố." Tôi là bằng chứng sống của những tổn hại khủng khiếp mà chủ nghĩa Thực dân đã gây ra cho dân Da Đỏ chúng tôi. Nhưng tôi sẽ không tiết lộ với bạn là những lộ trình lịch sử đã thỉnh thoảng khiến tôi sợ hãi như thế nào! Tôi là một người vững chãi, và tôi biết rằng làm thinh là phương pháp tốt nhất để đối phó với lũ người da trắng.

Toàn bộ câu chuyện thực sự bắt đầu vào giờ ăn trưa khi Tiểu Hồng, Tiểu Đệ, và tôi đang đi "kiếm chác" ở khu chợ Pike Place. Sau khoảng hai tiếng đồng hồ điều đình mặc cả, chúng tôi kiếm được năm đô la — vừa đủ cho một chai “thuốc liều" ở hiệu tạp hóa "7-Eleven" xinh đẹp nhất thế giới. Vậy thì chúng tôi liền hướng về nơi đó, cảm thấy mình như lũ chiến binh túy ngọa sa trường. Chúng tôi đi ngang qua một tiệm cầm đồ tôi chưa hề nhìn thấy trước đây. Đây là một điều kỳ lạ, bởi vì dân Da Đỏ chúng tôi có máy dò sóng radar vô cùng nhạy bén trong việc khám phá các địa điểm có tiệm cầm đồ. Nhưng điều kỳ dị hơn hết chính là chiếc lễ y cũ kỹ dành cho các lễ hội Da Đỏ treo ở cửa sổ tiệm.

“Đó là cái lễ y của bà cụ nội tôi,” tôi bảo Tiểu Hồng và Tiểu Đệ.

“Làm sao mà anh biết chắc là của bà cụ?” Tiểu Đệ hỏi.

Tôi không biết chắc bởi vì tôi chưa hề nhìn thấy nó tận mắt bao giờ. Tôi chỉ nhìn thấy những tấm hình trong đó bà tôi đang nhảy múa với tấm lễ y. Và những tấm hình đó được chụp trước khi cái lễ y bị mất trộm năm mươi năm trước đây. Nhưng nó trông rất giống cái mà tôi gìn giữ trong ký ức, có cùng những lông chim nhuộm màu sặc sỡ và những hạt cườm mà gia đình tôi thường gắn vào những chiếc áo dành cho những ngày vũ hội Da Đỏ.

“Chỉ có một cách duy nhất để biết chắc,” tôi nói.

Tiểu Hồng, Tiểu Đệ, và tôi bước vào tiệm cầm đồ chào hỏi lão chủ tiệm da trắng đang làm việc đàng sau chiếc quầy hàng.

“Tôi có thể giúp được gì cho mấy người đây?” Lão ta hỏi.

“Chiếc lễ y là của bà tôi,” tôi nói. “Nó bị mất trộm năm mươi năm về trước và gia đình tôi đã đổ xô đi tìm kiếm từ hồi đó đến giờ.”

Lão già chủ tiệm cầm đồ nhìn tôi như thể nhìn… thằng Cuội. Tôi thông cảm chuyện này. Ở tiệm cầm đồ thì không thiếu lũ nói dối.

“Tôi không có nói dối đâu. Không tin thì hỏi mấy người bạn của tôi đây, họ sẽ nói cho ông nghe,” tôi nói.

Tiểu Hồng phát biểu, “Anh này là người Da Đỏ thật thà nhất mà tôi được biết đó!”

“Được rồi, người Da Đỏ thật thà,” lão chủ tiệm cắt lời. “Tôi tạm tin lời anh vậy. Anh có cách nào chứng minh chiếc lễ y đó là của bà cụ nhà anh không?”

Người Da Đỏ không muốn làm người hoàn hảo – bởi vì chỉ có Thượng Đế mới toàn hảo – nên họ gắn điều khiếm khuyết của mình vào những bộ lễ phục. Gia đình tôi luôn luôn may một hạt cườm màu vàng vào một nơi nào đó trong chiếc lễ y. Nhưng chúng tôi luôn giấu nó thật kín, bạn phải lục tìm kỹ lắm thì mới mong tìm thấy được nó.

“Nếu nó quả thực là của bà tôi,” tôi nói, “phải có một hạt cườm màu vàng nằm lẩn lút đâu trong đó.”

“Được rồi,” lão chủ tiệm bảo, “chúng ta thử tìm xem sao.”

Lão ta lấy chiếc lễ y ra khỏi cửa sổ, đặt lên chiếc quầy kính, và chúng tôi cùng lục lạo tìm kiếm hạt cườm màu vàng, và cuối cùng tìm thấy nó giấu mình dưới nách áo.

“Đây rồi,” lão chủ tiệm cất tiếng. Chẳng có vẻ gì ngạc nhiên trong giọng nói của lão ta hết trơn! “Anh nói đúng. Đây chính là cái lễ y của bà cụ nhà anh.”

“Nó bị mất cắp cả năm chục năm nay!” Tiểu Đệ chen vào.

“Ê Tiểu Đệ, đây là chuyện của gia đình tao. Để đó cho tao lo!” tôi bảo.

“Được thôi, tôi xin lỗi. Anh nói gì thì nói đi.”

“Chiếc lễ y bị mất năm chục năm nay…” Tôi nói.

“Đó là chuyện buồn của gia đình anh ấy,” Tiểu Hồng chen vào. “Ông sẽ trả lại chiếc áo cho anh ta chứ?”

“Đó là chuyện nên làm,” lão chủ tiệm cầm đồ nói. ”Nhưng tôi không đủ sức làm chuyện nên làm. Tôi phải trả cả ngàn đô la cho chiếc áo này. Tôi không thể liệng bỏ cả ngàn đô.”

“Chúng tôi có thể đi báo cảnh sát về cái áo bị mất trộm này,” Tiểu Hồng nói.

“Này này,” tôi chặn lời cô ta. “Đừng có đi hăm dọa người ta chứ.”

Lão chủ tiệm thở ra một hơi dài. Lão đang nghiền ngẫm về những điều khả thi.

“Tôi cho rằng mấy người có thể đi báo cảnh sát,” lão lên tiếng. “Nhưng tôi không nghĩ là họ sẽ tin lời của mấy người.” Lão ta nói một cách sầu thảm như thể việc lợi dụng tư thế bất lợi của chúng tôi làm lão thực sự áy náy.

“Anh tên gì?” Lão chủ tiệm hỏi tôi.

“Jackson,” tôi trả lời.

“Đó là tên hay họ vậy?”

“Cả tên lẫn họ,” tôi nói.

“Anh nói thật à?”

“Vâng, đúng như thế. Cha mẹ tôi đặt tên tôi là Jackson Jackson. Mọi người trong nhà gọi tôi là ‘Jackson bình phương’. Gia đình tôi thì vui nhộn lắm!”

“Được lắm, Jackson Jackson,” lão chủ tiệm nói. Anh coi bộ không có sẵn một ngàn đô la trong người, có đúng không?”

“Chúng tôi có cả thảy năm đô,” tôi trả lời.

“Bậy quá,” lão ta nói, và suy nghĩ rất lung về những điều khả thi. “Tôi có thể bán lại cho anh với giá một ngàn đô nếu anh có tiền. Mà thôi, để cho công bằng, tôi chỉ lấy chín trăm chín mươi chín đô, như vậy tôi lỗ một đô la. Đó là một việc đúng đạo lý. Chịu lỗ một đô la là phải rồi.”

“Chúng tôi có cả thảy năm đô la,” tôi lập lại.

“Bậy quá đi,” lão ta cũng lập lại, và suy nghĩ dữ dội về những điều khả thi. “Thế này nhé. Anh có hai mươi bốn tiếng đồng hồ để tìm cho ra chín trăm chín mươi chín đô la. Nếu anh mang tiền đến đây trưa mai, tôi sẽ bán cái lễ y cho anh. Như vậy nghe có được không?”

“Nghe được lắm,” tôi trả lời.

“Vậy thì tốt,” lão chủ tiệm nói. “Chúng ta có một giao ước. Đây là hai chục đô để giúp anh khởi sự.”

Lão ta móc ví lấy ra tờ hai mươi đô mới tinh đưa cho tôi. Tiểu Hồng, Tiểu Đệ, và tôi rời tiệm cầm đồ bước ra nắng sáng để lùng tìm cho bằng được chín trăm bảy mươi bốn đô la nữa!

1 giờ trưa

Tiểu Hồng, Tiểu Đệ, và tôi mang tờ giấy bạc hai mươi đô và thêm năm đô la gồm toàn tiền xu đến tiệm tạp hóa "7-Eleven" và mua ngay ba chai thuốc kích thích trí tưởng tượng, nôm na là… rượu mạnh. Chúng tôi cần phải nghĩ cách làm ra cả ngàn đô la chỉ trong một ngày. Suy nghĩ nát óc, chúng tôi túm tụm lại với nhau dưới chiếc cầu cạn Alaska Way và uống sạch chai "thuốc" số một, số hai, và số ba.

2 giờ trưa

Tiểu Hồng bỏ đi đâu mất khi tôi thức dậy. Sau này tôi nghe nói lại là cô ấy đã xin quá giang về Toppenish và sống với chị của cô ta trong khu tự trị Da Đỏ.

Tiểu Đệ nằm mê man bất tỉnh bên cạnh tôi, đẫm mình trong chính đống ói mửa của nó (hay là của một ai khác!). Đầu tôi nhức như búa bổ vì nghĩ ngợi lung tung nên tôi bỏ Tiểu Đệ nằm lại một mình và đi về phía bờ biển. Tôi yêu mùi biển. Muối luôn có mùi vị của ký ức.

Khi đến cầu tàu của đám ngư phủ, tôi chạm mặt với ba anh em Da Đỏ thuộc bộ lạc Aleut đang ngồi trên chiếc băng gỗ nhìn đăm đắm ra vịnh biển và khóc lóc thê thảm. Phần lớn dân Da Đỏ bụi đời ở Seattle đến từ Alaska. Từng người một, họ nhảy xuống chiếc tàu đánh cá lớn ở Anchorage hoặc Barrow hoặc Juneau, cặm cụi đánh cá trên hải trình hướng về phương Nam. Khi đến Seattle, họ rời tàu với một túi tiền đầy nhóc, ăn nhậu linh đình ở một trong những quán nhậu truyền thống và thiêng liêng tột đỉnh của dân Da Đỏ cho đến khi cạn sạch tiền. Khi đó, họ lại tìm đường về với con tàu cũ và với vùng đất băng giá Bắc cực.

Đám Aleut này có mùi như mùi cá hồi, tôi nghĩ, và họ bảo tôi họ sẽ ngồi mãi ở chiếc băng gỗ này cho đến khi chiếc tàu đánh cá của họ trở lại.

“Tàu nhổ neo ra đi đã bao lâu rồi?” Tôi hỏi.

“Đã mười một năm,” tên Aleut già nhất trả lời.

Tôi ngồi than khóc với họ một hồi.

“Nè,” tôi hỏi họ. “Mấy anh có đồng nào cho tôi mượn không?”

Họ chẳng có đồng nào hết!

3 giờ trưa

Tôi trở lại chỗ Tiểu Đệ đang nằm. Thằng nhóc vẫn còn bất tỉnh nhân sự. Tôi kề sát mặt vào miệng nó để lấy làm chắc là nó còn thở. Thằng nhóc hãy còn sống! Tôi lục lọi trong túi quần bò của nó và tìm được nửa điếu thuốc. Tôi hút đến tận cán và nghĩ về bà tôi.

Bà tên là Agnes, qua đời vì bệnh ung thư vào năm tôi mười bốn tuổi. Cha tôi luôn cho rằng bà Agnes của tôi vướng phải bệnh ung thư từ cái mỏ uranium nằm trong khu tự trị Da Đỏ. Mẹ tôi thì bảo rằng căn bệnh bắt đầu khi bà bị một chiếc xe máy dầu cán phải trên đường về nhà sau một cuộc lễ hội. Bà bị gẫy ba cái xương sườn, và mẹ tôi luôn bảo rằng mấy cái xương sườn đó đã không bao giờ lành đúng cách, và những ung bướu ác hại sẽ mọc ra nếu những vết thương không lành lặn một cách đúng cách!

Ngồi cạnh Tiểu Đệ, ngửi thấy mùi thuốc lá và mùi mằn mặn của bãi nôn, tôi lẩn thẩn tự hỏi có phải bệnh ung thư của bà tôi bắt đầu từ lúc người ta ăn cắp tấm lễ y của bà. Có thể bệnh ung thư đã bắt đầu từ trái tim tan vỡ của bà và lan chảy đến vùng ngực. Nghe thì có vẻ điên khùng, nhưng tôi nghĩ rằng không chừng bà tôi sẽ hồi sinh nếu tôi có thể chuộc lại được tấm lễ y.

Tôi đang cần tiền, cả đống tiền, nên tôi bỏ mặc Tiểu Đệ nằm đó, bước qua văn phòng hội Real Change ở phía bên kia đường.

4 giờ chiều

Real Change là một tổ chức đa diện, vừa xuất bản nhật báo vừa hỗ trợ các dự án văn hóa nhằm tranh đấu cho quyền lợi người nghèo và không nhà cửa, động viên dư luận công chúng chung quanh những vấn nạn của sự nghèo đói. Sứ mệnh của Real Change là tổ chức, giáo dục, và xây dựng một khối liên minh để tạo giải pháp cho vấn đề vô gia cư và cùng khổ. Tổ chức này hiện hữu để cung cấp tiếng nói cho thành phần nghèo khổ trong cộng đồng.

Tôi nhớ thuộc lòng chủ trương của Real Change bởi vì thỉnh thoảng tôi có bán báo dạo cho tổ chức này trên đường phố. Nhưng bạn phải tỉnh táo thì mới bán báo được, và tôi thì không phải lúc nào cũng đủ tài sức để giữ mình tỉnh táo. Chuyện bán báo thì dễ thôi. Bạn mua ba mươi xu, bán ra với giá một đô một tờ, và giữ lại cho mình phần tiền lời.

“Tôi cần một ngàn bốn trăm ba chục tờ báo,” tôi nói với Xếp Lớn.

“Đó là một con số kỳ khôi,” ông ta nói. “Và là một đống rất lớn những báo với bổ.”

“Tôi cần bao nhiêu đó mà.”

Xếp Lớn lôi cái máy tính ra tính toán một hồi.

"Sẽ tốn của anh bốn trăm hai mươi chín đô cho chừng đó báo,” ông ta nói.

“Nếu tôi có chừng đó tiền, tôi đã không cần đi bán báo.”

“Có chuyện gì vậy, Jackson lũy thừa hai?” Xếp Lớn hỏi. Ông ta là người duy nhất gọi tôi như vậy. Ông vui tính và tử tế.

Tôi kể cho ông ta nghe về chuyện tấm lễ y của bà tôi và số tiền tôi cần để chuộc lại.

“Mình nên báo cảnh sát,” ông đề nghị.

“Tôi không muốn làm như vậy,” tôi trả lời. “Bây giờ nó trở thành một vụ ‘săn tìm bảo vật.’ Tôi muốn tự mình chuộc lại tấm lễ y.”

“Tôi hiểu,” ông ta nói. “Và nói thật nhé, tôi sẽ giao cho anh chừng đó báo nếu tôi nghĩ anh có thể bán hết được. Nhưng kỷ lục cá nhân bán được trong một ngày chỉ có ba trăm lẻ hai tờ.”

“Chừng đó thì tôi sẽ có được khoảng hai trăm đô,” tôi nói.

Xếp Lớn lại lôi máy tính ra. “Hai trăm mười một đô và bốn mươi xu,” ông ta nói.

“Bao nhiêu đó đâu có đủ,” tôi nói.

“Và số tiền lớn nhất kiếm được trong một ngày là năm trăm hai mươi lăm đô. Mà đó là vì có ai đó đã đưa cho tên Old Blue năm tờ một trăm đô vì một lý do quái đản nào đó! Trung bình những người bán báo chỉ kiếm được khoảng ba chục đô thôi.”

"Vậy thì vụ này sẽ chẳng đi đến đâu.”

“Tất nhiên là không rồi.”

“Ông có thể cho tôi mượn ít tiền được không?”

“Tôi không thể làm như vậy. Nếu tôi cho anh mượn tiền, tôi sẽ phải cho tất cả những người khác mượn.”

“Vậy thì ông có thể làm được gì khác?”

“Tôi sẽ cho anh năm mươi tờ báo. Nhưng đừng có nói với ai là tôi đã làm như thế nhé.”

“Xong ngay,” tôi nói.

Xếp Lớn gom mấy tờ báo và đưa cho tôi. Tôi ôm chúng vào ngực. Ông ôm tôi thân thiện. Tôi mang đống báo đi về phía biển.

5 giờ chiều

Trở lại khu bến cá, tôi đứng gần bến phà Brainbridge Island và rao bán mớ báo cho đám nhân viên thuộc các công ty doanh nghiệp đang lên xuống mấy chiếc phà ngang. Tôi bán được năm tờ báo trong vòng một tiếng đồng hồ, liệng bốn mươi lăm tờ còn lại vào thùng rác, đi vào tiệm McDonalds gọi bốn cái cheeseburger hết bốn đô la và ăn một cách chậm rãi.

Ăn xong, tôi bước ra ngoài và ói mửa trên lề đường. Tôi ghét phải mất hết thức ăn một cách nhanh chóng sau khi ăn như thế. Là một gã Da Đỏ rượu chè be bét với cái dạ dày tan nát, tôi luôn hy vọng mình có thể giữ đủ phần thức ăn trong cơ thể để sống sót qua ngày.

6 giờ chiều

Với một đô la còn lại trong túi, tôi trở lại chỗ Tiểu Đệ. Nó nằm hôn mê, và tôi lại áp tai vào ngực nó để lắng nghe nhịp tim. Tiểu Đệ vẫn sống nhăn. Tôi cỡi giày vớ của nó, tìm được một đô trong vớ bên trái và năm mươi xu trong vớ bên phải.

Với hai đô la và năm mươi xu trong tay, tôi ngồi cạnh thằng nhóc, suy tưởng về bà tôi và những câu chuyện của bà.

Vào năm tôi mười ba tuổi, bà kể cho tôi nghe câu chuyện về Thế chiến thứ Hai. Bà là y tá trong một quân y viện ở Sydney, Australia. Trong hai năm trời, bà đã chữa thương và chăm sóc thương binh Mỹ và Úc.

Một ngày nọ, bà chăm sóc một người lính gốc Maori, mất cặp chân trong trận pháo kích của đối phương. Da của anh ta đen kịt. Tóc anh đen và quăn tít, mắt anh đen và ấm áp. Mặt anh phủ đầy những vết xâm lòe loẹt.

“Cô có phải là người Maori không?”

“Không phải,” bà tôi nói. “Tôi là người Da Đỏ Spokane. Ở xứ Mỹ.”

“Phải rồi,” anh ta nói. “Tôi có nghe nói về bộ lạc của cô. Nhưng cô là người Mỹ Da Đỏ đầu tiên tôi gặp.”

“Có nhiều người Da Đỏ chiến đấu trong quân đội Hoa Kỳ,” bà tôi nói. “Tôi có một người anh đang đánh nhau ở Đức, và một người anh khác tử trận ở Okinawa.

“Tôi rất tiếc,” anh ta nói. “Tôi cũng từng ở Okinawa. Chỗ đó thì ghê lắm.”

“Tôi rất tiếc về cặp chân của anh,” bà tôi đáp lời.

“Đúng là chuyện nực cười, có phải không?” Anh ta lên tiếng.

“Cái gì nực cườỉ?”

“Về chuyện người da màu chúng ta chém giết nhau để người da trắng giữ được tự do cho họ.”

“Tôi chưa từng nghĩ như thế bao giờ.”

“Thỉnh thoảng tôi lại nghĩ vậy. Những lúc khác tôi nghĩ theo kiểu người ta muốn tôi suy nghĩ. Tôi lẫn lộn lung tung cả lên.”

Bà tôi tiêm cho anh ta một liều “morphine.”

“Cô có tin là có thiên đàng không?” Anh ta hỏi.

“Thiên đàng nào?”

“Tôi đang nói về cái thiên đàng có cặp chân mới đang đợi tôi đấy.”

Cả hai cùng phá lên cười.

“Tất nhiên cặp chân của tôi có lẽ sẽ bỏ chạy khi tôi vào được thiên đàng. Làm sao mà tôi có thể bắt kịp chúng?”

“Anh phải luyện tập đôi tay cho thật khỏe,” bà tôi trả lời. “Như vậy anh có thể chạy bằng tay.”

Họ lại phá ra cười với nhau.

Ngồi cạnh Tiểu Đệ, hồi ức về những câu chuyện kể của bà tôi làm tôi mỉm cười. Tôi đưa tay đến gần miệng của Tiểu Đệ để biết chắc nó còn thở. Vâng, Tiểu Đệ còn sống. Tôi cầm hai đô la và năm mươi xu đến tiệm bán thực phẩm của người gốc Đại Hàn trong khu Pioneer Square.

7 giờ tối

Ở tiệm tạp hóa Đại Hàn, tôi mua một điếu xì gà hết năm mươi xu và hai tấm vé số giá một đô một tấm. Số tiền thưởng lớn nhất cho vé số loại này là năm trăm đô. Nếu tôi trúng cả hai vé, tôi sẽ có đủ tiền để chuộc cái lễ y.

Tôi yêu Mary, cô gái Hàn quốc trẻ tuổi ở chỗ quầy tính tiền. Cô là con gái của vợ chồng chủ tiệm, và cô hát hỏng suốt ngày.

“Tôi yêu em,” tôi nói khi trả tiền cho cô.

“Anh thì lúc nào cũng bảo là yêu em,” cô than thở.

“Đó là vì tôi sẽ mãi mãi yêu em!”

“Anh đúng là một gã si tình.”

“Tôi chỉ là một lão già lãng mạn!”

“Quá già so với em.”

“Tôi biết mà, nhưng tôi vẫn có thể yêu em trong mộng.”

“OK,” cô trả lời. “Em đồng ý ở trong giấc… mộng của anh, nhưng chỉ nắm tay nhau thôi nhé. Không hôn hít, không xếch xiếc gì hết. Ngay cả trong… mơ!”

“Được thôi mà. Không có xếch, chỉ tình lãng mạn.”

“Vậy thì tạm biệt người tình Jackson Jackson của em. Chúng ta sẽ gặp lại nhau sớm anh nhé.”

Tôi rời cửa tiệm, đi về phía công viên Occidental, ngồi xuống ở một băng ghế và hút đến tận cán điếu xì gà.

Mười phút sau khi hút xong, tôi cạo tấm vé số đầu tiên và nhận ra mình chẳng trúng được gì hết. Bây giờ giỏi lắm thì tôi chỉ có thể trúng được năm trăm đô, một nửa số tiền tôi đang cần.

Mười phút sau khi “thua” tấm vé số đầu tiên, tôi cạo tấm còn lại và “thắng” được một vé số miễn phí -một an ủi nhỏ nhoi và thêm một cơ hội để thắng một món tiền nào đó.

Tôi thả bộ trở lại tiệm của Mary.

“Jackson Jackson,” cô nói. “Có phải anh trở lại để nắm giữ trái tim em?”

“Tôi trúng một tấm vé số miễn phí mà.”

“Đúng là đàn ông!” Cô than thở. “Anh yêu tiền tài và quyền lực hơn là yêu em.”

“Đúng thế,” tôi nói. “Và tôi rất tiếc nó đúng là như thế.”

Cô đưa cho tôi một tấm vé “cạo,” và tôi bước ra ngoài. Tôi thích dò vé số một cách riêng tư. Buồn bã và đầy hy vọng, tôi cạo tấm vé số thứ ba và thực sự thắng được một số tiền. Tôi mang nó vào đưa cho Mary.

“Tôi thắng một trăm đô,” tôi tuyên bố.

Cô xem xét tấm vé số và cười toe toét.

“Cả một gia tài,” cô nói và đếm ra năm tờ hai mươi đô. Đầu ngón tay của chúng tôi chạm nhau khi cô đưa tiền cho tôi. Tôi cảm thấy như có điện đóm chạy qua…

“Cám ơn em,” tôi nói và đưa cô một tờ hai mươi đô.

“Em không lấy được đâu,” cô nói. “Đây là tiền của anh mà.”

“Ồ không, đó là tục lệ của người Da Đỏ. Nếu thắng được cái gì đó, người ta chia sớt với gia đình.”

“Em đâu có phải là gia đình của anh!”

“Có mà. Em là gia đình của tôi mà.”

“Cô cười và nhận tiền.” Với tám mươi đô la trong túi, tôi chia tay Mary yêu dấu, bước ra khỏi tiệm và nhập vào không khí lạnh lẽo của đêm.

8 giờ tối

Tôi muốn chia sẻ tin vui với Tiểu Đệ. Tôi bước về chỗ nó nằm trước đây nhưng nó đã bỏ đi đâu mất. Sau này tôi nghe nói là Tiểu Đệ quá giang xe xuống Portland thuộc bang Oregon, và sau đó chết cóng tại con hẻm phía sau khách sạn Hilton.

9 giờ tối

Cảm thấy lẻ loi vì thiếu bạn đồng hương, tôi mang tám chục đô đến "Tim To" ở Phố Nam. Tim To là là một quán nhậu dành cho dân Da Đỏ. Không ai biết rõ làm thế nào hoặc tại sao đám Da Đỏ lại tụ đến quán này và biến nó thành một quán nhậu Da Đỏ chính thức, nhưng Tim To trở thành quán nhậu Da Đỏ đã hai mươi ba năm nay. Quán này ngày trước nằm ở tận trên đường Aurora, nhưng một tên Da Đỏ thuộc bộ lạc Lumni đốt nó cháy rụi. Chủ quán dời về địa điểm mới, cách đó vài khu phố về phía nam của Safeco Field.

Tôi bước vào Tim To và đếm được cả thảy mười lăm mạng Da Đỏ, tám chàng bảy nàng. Tôi không quen biết ai trong số họ, nhưng dân Da Đỏ thì thích kết bè kết bạn nên chúng tôi đều làm bộ như thể là anh em hàng họ của nhau.

“Bao nhiều tiền một ly whiskey vậy?” tôi hỏi hỏi người bồi rượu, một gã da trắng mập ú.

“Bạn muốn thứ rượu dở hoặc thứ… dở hơn nữa?”

“Cái dở nhất bạn có.”

“Một đô một ly.”

Tôi bỏ tám chục đô lên mặt quầy.

“Được rồi,” tôi nói. “Mấy người anh em của tôi ở đây sẽ uống tám mươi ly. Như vậy mỗi người được mấy ly?”

“Đếm cả anh nữa thì mỗi người được năm ly,” một giọng nữ hét lên từ phía sau lưng tôi.

Tôi qua lại nhìn cô ta. Đó là một phụ nữ Da Đỏ tròn trịa nhưng xanh xao, đang ngồi chung bàn với một gã cao gầy.

“Được lắm, thần đồng toán học,” tôi bảo cô ta và la lớn cho cả quán cùng nghe, “Mỗi người năm ly!”

Tất cả Da Đỏ trong quán nhào đến quầy rượu, nhưng tôi chọn ngồi với nhà toán học và ông bạn gầy gò của cô ta. Chúng tôi khề khà mấy ly whiskey.

“Cô thuộc bộ lạc nào?” tôi hỏi.

“Tôi là dân Duwamish, và anh ta là dân Crow.”

“Từ Montana đến đây thì xa lắc,” tôi bảo hắn.

“Tôi là ‘Quạ’ (Crow) mà, tôi bay đến đây.”

“Các bạn tên gì,” tôi hỏi.

“Tôi là Irene Nàng Thơ, và anh ấy là chàng Mật Ong.”

Nàng Thơ bắt tay tôi thật chặt, nhưng chàng Mật Ong thì đưa tay ra trong một cung cách như thể tôi có bổn phận phải hôn tay hắn. Vậy thì tôi hôn! Hắn cười khúc khích và mặt đỏ lên, đỏ như một gã da nâu sậm thuộc bộ lạc Crow có thể đỏ lên được.

“Anh là một trong số những người ‘lưỡng tính’, có phải không?” Tôi hỏi hắn.

“Tôi yêu đàn bà,” hắn nói. “Và cả đàn ông nữa.”

“Đôi khi yêu cả hai phái trong cùng một lúc,” Irene chen vào.

Chúng tôi cùng phá lên cười.

“Vậy thì bạn phải có đến tám chín con ‘yêu tinh’ quấn quít, phải không nào?” Tôi bảo chàng Mật Ong.

“Nè cưng, cưng muốn tôi là gì thì tôi là cái đó.”

“Trời đất,” Irene kêu lên. “Chàng Mật Ong đang yêu!”

“Chả có dính dáng gì đến yêu đương ráo trọi,” hắn nói.

Chúng tôi cười phá lên.

“Tự ái của tôi được vuốt ve quá đỗi,” tôi nói. “Nhưng tôi sẽ không bao giờ chơi cái trò này của bạn đâu!” tôi nói.

“Đừng bao giờ nói không bao giờ.”

“Anh phải cẩn thận,” Irene lên tiếng. “Mật Ong biết đủ thứ phù phép.”

“Này chàng Mật Ong,” tôi nói. “Bạn có thể tìm cách dụ dỗ tôi, nhưng trái tim tôi đã thuộc về một cô gái có tên là Mary.”

“Có phải là Mary… đồng trinh không?” Mật Ong hỏi.

Chúng tôi lại cùng cười phá lên.

Và chúng tôi uống cạn các ly whiskey của mình. Nhưng đám bợm nhậu Da Đỏ trong quán lại mang đến cho tôi những ly rượu khác để đáp trả sự hào phóng của tôi. Và đến lượt chàng Mật Ong lôi thẻ tín dụng của hắn ra. Tôi uống và uống, và dong ruỗi trên chiếc thuyền buồm "bọc nhựa" của hắn.

Sau chừng một tá những cuốc rượu, tôi mời Irene nhảy với mình. Cô từ chối. Mật Ong nhún nhảy bước đến chỗ máy chơi nhạc, bỏ vào máy đồng hai mươi lăm xu, và chọn “Help me make it through the night” (Giúp tôi trải hết đêm dài) của Willie Nelson. Mật Ong vừa hát theo Willie vừa chậm rãi nhảy vòng quanh chiếc bàn nơi Irene và tôi đang uống rượu và đùa cợt nhau.

“Bạn đang tỏ tình với tôi đó hả?” Tôi hỏi Mật ong.

Hắn tiếp tục ca hát và nhảy múa.

“Bạn đang tỏ tình với tôi à?” Tôi lại hỏi hắn.

“Hắn sẽ bỏ bùa anh,” Irene hăm dọa.

Tôi chồm người qua chiếc bàn làm mấy ly rượu đổ tung tóe, và hôn Irene thật sâu. Cô ta hôn trả.

10 giờ tối

Irene đẩy tôi vào một ngăn trong phòng vệ sinh nữ, đóng cửa lại, và thọc tay vào quần tôi. Cô lùn thấp nên tôi phải nghiêng người xuống để hôn cô. Tôi sờ soạng, nhào nặn khắp nơi trên người cô. Cơ thể cô thì mập mạp một cách tuyệt vời, mỗi phân vuông da thịt cô giống như một đồi vú ấm áp và mềm mại.

Nửa đêm

Gần như bị mù với lượng rượu trong cơ thể, tôi đứng một mình ở quầy rượu và thề thốt rằng mình vừa mới ở trong phòng vệ sinh với Irene chỉ một phút trước đây.

“Cho một ly nữa đi,” tôi gào lên với người bồi rượu.

“Anh hết tiền rồi,” hắn gào lại.

“Có ai chịu mua cho tôi một ly rượu không?” tôi hét lên.

“Họ cũng hết sạch tiền rồi!”

“Mật Ong và Irene đâu rồi?

“Đi lâu rồi!”

2 Giờ khuya

“Đến giờ đóng cửa rồi!” gã bồi rượu hét vào tai ba bốn mạng Da Đỏ vẫn còn ngồi uống ào ào sau một ngày dài ăn nhậu tưng bừng. Đám tửu thần Da Đỏ hoặc là vô địch chạy nước rút hoặc là vô địch chạy đường trường!

“Irene và Mật Ong đâu rồi?” Tôi lại hỏi.

“Họ bỏ đi cả mấy tiếng đồng hồ rồi,” gã bồi rượu trả lời.

“Họ đi đâu?”

“Tôi đã nói với anh cả trăm lần là tôi không biết mà!”

“Vậy thì tôi phải làm gì bây giờ?”

“Tới giờ đóng cửa rồi, tôi không cần biết anh sẽ đi đâu, nhưng không thể ở lại đây được.”

“Chú mày là một tên bội bạc khốn kiếp, tôi đã tử tế với chú mày mà.”

“Anh mà không đi ra thì tôi sẽ tống cho một đạp!”

“Nhào vô! Tao cũng biết đánh đấm vậy.”

Gã bồi rượu nhảy bổ vào tôi. Tôi chẳng còn nhớ chuyện gì đã xảy ra sau đó.

4 Giờ sáng

Tôi hồi tỉnh, bước ra khỏi vùng tối ám và nhận ra mình đang đi phía sau một căn nhà kho lớn. Tôi không biết mình đang ở đâu. Mặt tôi đau nhức. Tôi sờ lên mũi mình và cả quyết rằng nó bị đấm gẫy. Nhọc phờ người và lạnh cóng, tôi kéo tấm vải nhựa từ sàn một chiếc xe vận tải, quấn quanh mình như vòng tay người tình chung thủy, và lăn ra ngủ trong đám bụi bặm.

6 Giờ Sáng

Có ai đó đá vào cạnh sườn của tôi. Tôi mở mắt và nhìn lên viên cảnh sát da trắng.

“Phải anh đó không Jackson?”

“Thầy cảnh sát Williams,” tôi lên tiếng. Williams là một tên “cớm” tử tế và có tật hảo ngọt. Anh ta đã cho tôi hàng trăm thanh kẹo trong mấy năm qua. Tôi lẩn thẩn tự hỏi không biết anh ta có biết là tôi bị bệnh tiểu đường hay không!

“Chú làm cái quái gì ở đây vậy?” Anh ta hỏi.

“Tôi vừa lạnh vừa buồn ngủ nên nằm đại ở đây,” tôi trả lời.

“Đồ đần, chú mày nằm bất tỉnh nhân sự trên đường rầy!”

Tôi ngồi bật dậy nhìn quanh quất. Tôi quả thực đang nằm trên đường rầy xe lửa. Bọn công nhân hỏa xa nhìn tôi trừng trừng. Lẽ ra tôi đã trở thành cái bánh-tráng-Ý-đường-rầy" với phần “nhân thịt” gồm có khúc dồi Da Đỏ bẻ đôi và phần phó mát phụ trội! Hoảng sợ đến phát bệnh, tôi nghiêng người ói ra toàn rượu whiskey!

“Chưa bao giờ thấy chú mày hành động ngu ngốc như vậy. Chú bị cái gì vậy?“ Cảnh sát Williams hỏi tôi.

“Chính là vì bà tôi đó,” tôi trả lời. “Bà tôi mất rồi.”

“Tôi rất tiếc! Bà cụ mất lúc nào vậy?”

“Mất năm 1972.”

“Và bây giờ thì chú tự sát vì chuyện này?”

“Tôi đã chết dần mòn kể từ lúc bà cụ qua đời!”

Viên cảnh sát lắc đầu. Anh ta buồn cho tôi. Như tôi đã nói, anh ta là một tên “cớm” tử tế.

“Và có đứa nào đó đã dần chú một trận, có phải không? Chú có nhớ ra là ai không?”

“Lão Thương Tâm và tôi quần nhau vài hiệp.”

“Có vẻ như lão Thương Tâm đánh gục chú mày.”

“Lão Thương Tâm lúc nào cũng thắng.”

“Này, để tôi đưa chú ra khỏi chỗ này.”

Anh ta giúp tôi đứng dậy, đưa tôi đến chỗ chiếc xe tuần tiểu của mình và cho tôi ngồi vào ghế sau. “Chú mà ói trong đó thì phải lau cho sạch nhé,” anh ta bảo.

“Vậy thì công bằng lắm!”

Anh ta đi vòng quanh chiếc xe và ngồi vào chỗ người lái. “Tôi mang chú đến chỗ ‘tẩy hèm’.”

“Không được đâu, chỗ đó thấy mà ghê,” tôi phản đối. “Đầy những tên Da Đỏ nát rượu.”

Chúng tôi cùng phá ra cười. Anh ta lái xe rời khỏi bến cảng.

“Tôi không hiểu sao mấy người làm được như thế!”

“Mấy người nào?” tôi hỏi.

“Thì Da Đỏ mấy người đó. Tại làm sao mà mấy người thích đùa cợt như vậy? Tôi mới vừa túm cổ chú mày khỏi đường rầy thì chú bắt đầu đùa giỡn ngay. Tại sao lại như thế?”

“Hai ‘bộ lạc’ khôi hài nhất mà tôi có cơ hội gần gũi là Da Đỏ và Do Thái. Tôi đoán là điều này có liên quan đến chất hài hước vốn là một thuộc tính của nạn diệt chủng.”

Chúng tôi cùng cười.

“Hãy tự nghe lấy điều mình vừa nói, Jackson. Chú rất thông minh, tại sao lại cứ vất vưởng trên đường phố?”

“Cho tôi một ngàn đô rồi tôi sẽ kể cho anh nghe.”

"Chú yên trí là tôi sẽ cho chú một ngàn đô nếu tôi biết chắc chú sẽ tu tỉnh, làm lại cuộc đời!”

Anh ta nói thật đó. Anh là một người cảnh sát tốt bụng thuộc hàng đệ nhị mà tôi biết.

“Anh là một viên cảnh sát tốt bụng,” tôi nói.

“Thôi đi Jackson!” viên cảnh sát lên tiếng. “Chú đừng có ba xạo.”

“Thật mà, anh làm tôi nghĩ đến ông của tôi.”

“Phải rồi, đó là điều đám Da Đỏ mấy người luôn luôn bảo tôi như vậy.”

“Không phải vậy đâu cha nội! Ông của tôi là cảnh sát của bộ lạc. Ổng là một người tốt bụng. Không bao giờ bắt bớ ai. Ông chỉ chăm sóc người ta thôi. Giống như anh vậy.”

“Tôi đã từng bắt giam hàng trăm tên bất lương và đã từng bắn thủng đít vài trự trong số đó.”

“Chẳng sao hết. Anh đâu có giết ai.”

“Tôi không giết họ. Tôi giết ‘bàn tọa’ của họ. Tôi là bàn-tọa-sát-thủ!”

Chúng tôi đi về hướng phố chính. Những trung tâm tạm trú dành cho dân không nhà vừa nhả ra hàng đống dân bụi đời. Đám đàn ông đàn bà vô gia cư, đang ngái ngủ, ra đứng ở các ngả tư ngửng mặt nhìn trân lên bầu trời xám xịt. Đó là buổi sáng hôm sau đêm tụ họp của đám người-chết-còn-sống.

“Anh có bao giờ sợ hay không?” Tôi hỏi cảnh sát Williams.

“Chú muốn nói gì?”

“Tôi muốn nói làm nghề cảnh sát có phải là điều đáng sợ?”

Viên cảnh sát suy nghĩ về điều này một lúc. Anh ta bỏ công suy gẫm câu hỏi của tôi. Tôi thích anh ta ở chỗ này.

“Tôi đoán là tôi tránh suy nghĩ về chuyện mình có sợ hãi hay không. Nếu bạn nghĩ về nỗi sợ thì bạn sẽ sợ hãi. Công việc của tôi phần nhiều là chán ngấy. Cứ lái xe và dòm ngó vào những góc tối tăm, và chẳng thấy gì sất. Nhưng rồi bỗng dưng sự việc xảy đến dồn dập. Bạn rượt đuổi một ai đó, bắn nhau với họ, hoặc đi lòng vòng chung quanh một căn nhà tối đen và đồng thời biết rằng có một tên khùng nào đó đang ẩn núp trong góc tối. Đúng vậy, rất đáng sợ!”

“Ông tôi bị giết hại khi làm nhiệm vụ,” tôi nói.

“Tôi rất tiếc. Chuyện xảy ra như thế nào?”

Tôi biết là Williams sẽ chăm chú lắng nghe.

“Ông tôi làm việc trong khu tự quản Da Đỏ. Ở đó mọi người đều quen biết nhau. Một nơi rất an toàn. Chúng tôi không giống như bọn khùng thuộc bộ lạc Sioux hay Apache hay bất cứ bộ lạc Da Đỏ hiếu chiến nào khác. Chỉ có ba vụ giết người trong khu tự quản của chúng tôi trong vòng một trăm năm qua.”

“Vậy là an ninh lắm.”

“Đúng vậy, dân Spokane chúng tôi thì thụ động lắm. Chúng tôi ăn nói ra vẻ hung hăng và sẵn sàng rủa sả bất cứ ai. Nhưng chúng tôi không bắn giết, đâm chém người ta. Mà có thì… cũng ít thôi!”

“Vậy chuyện gì xảy đến cho ông của chú?”

“Một cặp bồ bịch ở khu Little Falls gây gỗ nhau…”

“Chuyện bất hòa trong gia đình. Mấy vụ này là tệ hại nhất.”

“Ừ, nhưng người này lại là anh em ruột của ông tôi. Ông ấy là ông chú của tôi mà.”

“Trời đất, lại thêm rắc rối!”

“Ừ, kinh lắm! Ông tôi chỉ vừa ghé vào nhà. Ông đã đến đó cả ngàn lần. Cả hai người kia thì say mèm và đang cấu xé lẫn nhau. Người đàn bà trượt chân hay sao đó. Cô ta té xuống, đập đầu vào cái gì đó và bắt đầu kêu khóc. Ông tôi quỳ xuống bên cạnh cô ta để xem xét. Vì một lý do nào đó không thể giải thích được, ông chú tôi nhào xuống giật khẩu súng của ông tôi ra khỏi bao và bắn vào đầu ông tôi.”

“Thật là kinh khủng. Tôi lấy làm tiếc.”

“Ông chú tôi không thể nghĩ ra được tại sao mình đã làm như vậy. Ông ta ở tù mút mùa, luôn cặm cụi viết ra những bức thư dài ngoằng, cỡ năm chục trang giấy chữ nhỏ xíu! Luôn luôn tìm cách giải thích tại sao đã giết anh mình. Ổng viết và viết và viết và tìm cách lý giải. Nhưng chẳng bao giờ giải thích được. Đó là một bí ẩn lớn lao.”

“Chú có nhớ được gì về ông của chú không?”

“Có chút chút. Tôi nhớ cái đám tang. Bà tôi không cho ai chôn ông tôi hết. Cha tôi phải kéo bà ra khỏi huyệt mộ.”

“Tôi thật không biết phải nói gì.”

“Tôi cũng vậy.”

Chúng tôi dừng lại trước cửa trung tâm “tẩy hèm.”

"Chúng ta đến nơi rồi,” cảnh sát Williams nói.

“Tôi không thể vào đó,” tôi phản đối.

“Chú phải vào.”

“Làm ơn đừng ép tôi mà. Họ sẽ giữ tôi ở đây hai mươi bốn tiếng đồng hồ, và như vậy thì sẽ quá trễ.”

“Trễ cho cái gì?”

Tôi kể cho anh ta nghe về tấm lễ y của bà tôi và thời hạn tôi phải mang tiền đến để chuộc lại.

“Nó là đồ ăn cắp, chú cần phải đi trình báo,” anh ta nói. “Tôi sẽ đích thân điều tra. Nếu cái đó là của bà cụ, tôi sẽ lấy lại cho chú một cách hợp pháp.”

“Không,” tôi nói. “Như vậy thì không điệu nghệ gì hết. Ông chủ tiệm cầm đồ đâu có biết đó là đồ ăn cắp. Vả lại, tôi đang làm nghĩa vụ mà. Tôi muốn trở thành một ‘người hùng,’ anh biết không? Tôi muốn chiến đấu để giành lại nó, như một chàng hiệp sĩ.”

“Chuyện lãng mạn ruồi bu!”

“Có thể là thế. Nhưng tôi thiết tha điều này. Đã lâu lắm rồi tôi mới thiết tha như thế về một điều gì.”

Thầy đội Williams quay hẳn người lại nhìn tôi trân trân. Anh ta đang soi mói tôi.

“Tôi sẽ cho anh một ít tiền,” anh ta nói.

“Tôi không có nhiều. Chỉ có ba chục đô. Tôi thường thiếu hụt cho đến ngày lãnh lương. Không đủ để chú chuộc lại cái lễ y, nhưng cũng là một chút gì đó.”

“Tôi xin nhận số tiền này.”

“Tôi cho chú tiền vì tôi tin vào những gì chú đang tin vào. Tôi hy vọng, và không hiểu tại sao mình lại hy vọng, là chú sẽ biến ba mươi đô này thành một ngàn đô, bằng cách nào đó.”

“Tôi tin vào phép lạ mà.”

“Tôi thì tin là chú cầm tiền đi nhậu cho say quắc cần câu.”

“Đã vậy thì tại sao còn cho tiền?”

“Bởi vì không có tên cảnh sát nào ‘vô thần’ cả!”

“Có chứ sao không!”

“Hừm…, tôi đâu phải là kẻ vô thần.”

Anh ta cho tôi ra khỏi xe, đưa cho tôi hai tờ năm và một tờ hai mươi đô la, rồi bắt tay tôi.

“Chú giữ gìn sức khỏe. Nhớ tránh xa mấy cái đường rầy, nhé Jackson.”

“Tôi sẽ cố.”

Anh ta lái xe biến đi. Tôi mang tiền đi về hướng biển.

8 giờ sáng

Ở bến cá, ba mạng Da Đỏ Aleut vẫn ngồi chờ trên chiếc băng gỗ.

”Mấy anh thấy tàu của mình chưa?” tôi hỏi.

“Thấy cả đống,” người lớn tuổi nhất trả lời. “Nhưng không phải tàu của tụi này.”

Tôi đến ngồi trên băng ghế cùng với họ. Chúng tôi ngồi yên lặng một lúc lâu. Tôi lẩn thẩn nghĩ liệu chúng tôi sẽ hóa đá nếu ngồi như thế này đủ lâu.

Tôi lại nghĩ về bà tôi. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bà khiêu vũ trong chiếc lễ y của bà. Và hơn tất cả, tôi ước gì mình được nhìn thấy bà, với chiếc lễ y, nhảy múa trong một lễ hội Da Đỏ.

“Mấy anh có biết bài hát nào không?” Tôi hỏi đám Da Đỏ Aleut.

“Tôi thuộc như cháo mấy bài hát của Hank Williams,” gã Aleut lớn tuổi trả lời.

“Còn những bài hát của người Da Đỏ thì sao?”

“Hank Williams là Da Đỏ!”

“Còn ‘nhạc thiêng’ thì sao?”

“Hank Williams rất là thiêng liêng!”

“Tôi đang nói về lễ nhạc mà. Nhạc mang tính tôn giáo như những bài mà anh ca hát lúc còn ở bộ lạc của mình khi anh ước ao hoặc hy vọng một điều gì đó.”

“Còn anh thì đang hy vọng và mơ ước điều gì?”

“Tôi ước gì bà tôi còn sống.”

“Mọi bài hát tôi biết đều nói về chính ước mơ này.”

“Nếu vậy thì hát thật nhiều cho tôi nghe đi.”

Đám Aleut cất tiếng hát lên những bài hát đẹp và lạ lùng của bộ lạc mình. Tôi lắng nghe. Họ hát về bà của tôi và bà của họ. Họ buồn bã vì thiếu vắng giá băng Bắc cực. Tôi thì buồn nhớ đủ thứ!

10 Giờ sáng

Sau khi đám Da Đỏ Aleut hát xong bài hát cuối cùng, chúng tôi ngồi lặng thinh một lúc. Dân Da Đỏ thì rất giỏi về chuyện lặng thinh!

“Đó là bài hát cuối cùng hay sao?” tôi hỏi.

“Chúng tôi đã hát tất cả những bài có thể hát cho anh nghe. Những bài khác thì chỉ dành riêng cho dân Aleut chúng tôi.”

Tôi hiểu điều này. Dân Da Đỏ chúng tôi cần phải bảo toàn những bí mật của mình. Và đám Aleut thì bảo mật kỹ đến nỗi họ không bao giờ đề cập đến nguồn gốc Da Đỏ của mình!

“Mấy anh có đói bụng không?” Tôi hỏi.

Họ đưa mắt nhìn nhau hội ý.

“Chúng ta có thể đi kiếm cái gì ăn,” gã lớn tuổi lên tiếng.

11 Giờ sáng

Đám Aleut và tôi kéo nhau đến "Bếp Lớn," một quán ăn bóng nhẫy những dầu và mỡ ở trong khu phố “Quốc Tế.” Tôi biết chỗ này sẽ tiếp thực khách Da Đỏ bụi đời nào gặp vận may có được chút tiền.

“Bàn bốn người cho điểm tâm?” cô hầu bàn hỏi khi chúng tôi bước vào.

“Vâng, chúng tôi đói lắm rồi,” gã Aleut lớn tuổi nói.

Cô đưa chúng tôi đến một ngăn gần nhà bếp. Tôi có thể ngửi được mùi xào nấu. Dạ dày tôi sôi lên òng ọc.

“Mấy người sẽ trả riêng phần mình?” cô hầu bàn hỏi.

“Không đâu. Tôi sẽ trả tiền hôm nay,” tôi trả lời.

“Ồ, đây không phải là một người hào phóng hay sao?” cô nói.

“Đừng có làm như thế,” tôi phản đối.

“Đừng làm gì?”

“Đừng hỏi những câu hỏi tu từ. Chúng làm tôi sợ lắm.”

Cô ngẩn người ra một tị rồi cười ngất.

“Được rồi, thưa giáo sư. Từ nay tôi chỉ hỏi ngài những câu hỏi thật sự thôi nhé.”

“Cám ơn cô.”

“Mấy người muốn ăn gì đây?”

“Đó là câu hỏi tuyệt nhất mà cô có thể hỏi bất cứ ai,” tôi nói. “Ở đây có những gì?”

“Giáo sư có bao nhiêu tiền?” cô trả treo.

“Lại thêm một câu hỏi quá hay!” tôi nói. “Tôi có hai mươi lăm đô. Mang cho chúng tôi đồ điểm tâm và cộng thêm tiền boa của cô nữa.”

Cô này biết làm toán.

“Xong ngay. Bốn phần điểm tâm đặc biệt, bốn cà phê và mười lăm phần trăm tiền boa cho tôi.”

Đám Da Đỏ Aleut và tôi lặng lẽ ngồi chờ. Cô hầu bàn trở lại khá sớm, rót cà phê vào tách chúng tôi. Chúng tôi ngồi nhấm nháp cà phê cho đến khi cô trở lại lần nữa với bốn đĩa thức ăn. Trứng gà, thịt ba chỉ chiên dòn, bánh mì nướng, khoai tây chiên. Thật kỳ diệu khi một món tiền nhỏ lại có thể mua được nhiều thức ăn như thế.

Đầy lòng cảm kích, chúng tôi nhập tiệc.

Buổi trưa

Tôi từ biệt đám Aleut và bước về phía tiệm cầm đồ. Về sau này tôi nghe nói đám Da Đỏ Aleut lội xuống vùng nước mặn gần cầu tàu số bốn mươi bảy và biến mất tăm. Vài gã Da Đỏ thề thốt rằng đám anh em nhà Aleut đi khơi khơi trên sóng nước hướng về phía Bắc cực. Những người khác thì chứng kiến họ bị chết đuối. Tôi thật không biết chuyện gì đã xảy đến cho họ.

Tôi đi tìm tiệm cầm đồ và không thấy nó đâu hết. Tôi xin thề là nó không có ở nơi nó đã ở trước đây! Tôi đi qua vài chục con phố để tìm kiếm, lòng vòng ở mấy ngã tư, tìm tên tiệm trong niên giám điện thoại, hỏi thăm người qua kẻ lại xem họ có từng nghe thấy về nó hay không. Nhưng tiệm cầm đồ này hình như đã dong buồm tếch đi mất biến như một chiếc thuyền ma. Tôi chỉ chực khóc! Và ngay vào lúc tôi sẵn sàng bỏ cuộc, khi đến cái góc đường cuối cùng và nghĩ rằng sẽ lăn ra chết nếu không tìm được nó, tiệm cầm đồ quái quỉ lại xuất hiện ở ngay cái nơi mà tôi xin thề là chỉ mới mấy phút trước đó nó đã không hề tọa lạc!

Tôi bước vào trong và chào người chủ tiệm. Lão ta có vẻ như trẻ ra so với ngày hôm qua.

“Là anh đó à?”

“Thưa phải, chính tôi.”

“Jackson Jackson.”

“Đó là tên tôi.”

“Đám bạn của anh đi đâu hết rồi?”

“Họ đi tứ tán hết rồi. Nhưng điều này cũng tốt thôi. Dân Da Đỏ thì ở khắp mọi nơi.”

“Anh có mang theo tiền đó không?”

“Ông cần bao nhiêu, nhắc lại giùm?” Tôi hỏi và hy vọng giá tiền chuộc đã thay đổi.

“Chín trăm chín mươi chín đô.”

Té ra nó vẫn vậy, chẳng có thay đổi gì cả. Mà tại sao nó phải thay đổi nhỉ?

“Tôi không có nhiều như vậy,” tôi nói.

“Vậy anh có bao nhiêu?”

“Năm đô la.”

Tôi đặt ông Lincoln nhàu nát lên mặt quầy. Người chủ tiệm cầm đồ săm soi tờ giấy bạc.

“Có phải nó chính là tờ năm đô ngày hôm qua?”

“Không, nó là một tờ khác.”

Lão ta suy ngẫm về những khả năng.

“Anh có làm việc nhọc nhằn để có được số tiền này không?”

“Thưa có,” tôi trả lời.

Lão ta nhắm mắt lại và suy gẫm dữ dội về những điều khả thi. Xong lão bước vào phòng trong và trở ra với chiếc lễ y của bà tôi.

“Cầm lấy,” lão ta bảo và đưa chiếc áo cho tôi.

“Tôi không có đủ tiền.”

“Tôi không muốn tiền của anh.”

“Nhưng tôi muốn ‘chuộc’ nó mà!”

“Anh đã chuộc được nó. Bây giờ thì tốt hơn anh nên cầm lấy nó trước khi tôi kịp đổi ý.”

Bạn có biết có bao nhiều người tử tế trên thế gian này? Nhiều đến độ không thể đếm được!

Tôi cầm lấy tấm lễ y của bà tôi và bước ra khỏi tiệm. Tôi biết chắc cái hạt cườm màu vàng cô đơn ẩn mình trong đó là một phần của tôi. Tôi cũng biết chắc tôi chính là một phần của cái hạt cườm màu vàng này.

Ra ngoài, tôi quấn mình trong chiếc lễ y và hít thở bà tôi vào trong tôi. Tôi rời lề đường và bước ra giữa ngã tư. Khách bộ hành dừng lại. Xe cộ dừng lại. Cả thành phố cũng dừng lại. Tất cả đều dừng lại nhìn ngắm tôi khiêu vũ với bà tôi.

Tôi LÀ bà tôi, đang nhảy múa trong tấm lễ y.

Sherman Alexie – 2003

bài đã đăng của Sherman Alexie


1 bình luận »

  • đỗ xuân tê viết:

    Trước hết xin cám ơn anh Phùng Nguyễn đã giới thiệu một khuôn mặt tiêu biểu có truyện ngắn hay nhất trong số các tác giả Mỹ. Trong truyện này người viết lại là gốc dân da đỏ vùng Tây Bắc, vừa trẻ (cỡ tuổi của đa số BBT Da màu) lại có một cuộc sống rất đa dạng, cả về bề dày văn học lẫn kinh nghiệm đóng góp cho những vấn nạn lớn của xã hội Mỹ. Câu chuyện tưởng nặng nề khi tiếp cận tựa đề ‘Cứu Chuộc’ nhưng đọc rồi mới thấy rất thú vị dẫn dắt người đọc như tôi quên mất đây là… bản dịch. Vậy PN trong chừng mực nào đó đã thành công khi phân vân không biết nên dịch sát hay dịch thoáng. Tôi đã xem lại nguyên bản thì rõ ràng PN chọn phương án 1, sát đến độ ngôn ngữ vỉa hè có sao dịch vậy, lột tả trung thực văn phong ngôn từ của người viết, một cây viết sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh rất đơn giản bình dị (không cần tra cứu tự điển), nhưng độ hàm xúc của đối thoại kèm thông điệp gửi gấm của cốt truyện làm người dịch cần có sự cân nhắc chính xác và người đọc cũng cần giải mã, suy nghiệm nghiêm túc. Sherman Alexie đã nêu bật được tính hay chia sẻ của những người cùng khổ, di sản cội nguồn của các bộ lạc quê ông, sự hòa đồng của một xã hội nhiều màu da trong một môi trường ‘melting-pot’, tuy sự ác và thiện còn lẫn lộn nhưng thế giới này vẫn còn nhiều người tốt. Vì dich giả dùng tựa đề ‘Cứu Chuộc’ nên tôi muốn đi xa hơn khi liên tưởng đến phần tranh biện của sứ đồ Phao-lô (Paul) trong sách Tân ước để minh họa chủ đích của tác giả nhằm kiến giải sự cứu rỗi của con người chỉ có thể thông qua ân điển (grace), dù việc làm (lành) có cố gắng đến đâu thì vẫn cần sự bù trừ của Thương Đế. Trong câu chuyện này, sự bù trừ chiếm 99.5%.
    Xin các bạn đọc và anh Phùng Nguyễn bỏ qua nếu tôi có những ý kiến chủ quan.
    Thân kính. đxt

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)