Trang chính » Giới thiệu tác giả, Tạp luận Email bài này

CHU VƯƠNG MIỆN VỚI NIỀM KHẮC KHOẢI TÂM LINH

Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng – Vancouver – Canada vừa viết trên Tạp chí Sông Hương số 246 (8/2009) Mục Tác giả tác phẩm và dư luận:

Khoảng từ năm 1970, xuất hiện nhiều tác giả trẻ, một số mặc áo lính, trên các báo, nhất là ở các địa phương. Một số chưa có thời gian để in tác phẩm của mình. Tôi nhớ những tên tuổi như Y Uyên, Ngô Kha, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Trần Dzạ Lữ, Chu Vương Miện… Bắt đầu thành một dòng chảy khác, mà người chinh phục tôi nhất là Phan Nhật Nam.

Với riêng tôi, tôi yêu Ngô Kha & Chu Vương Miện (CVM).

chu vuong mien CVM tên thật là Nguyễn Văn Thưởng, sinh năm 1941 tại Kiến An (miền Bắc), anh cầm bút từ những năm 1960, thơ anh đã đăng trên nhiều Tạp chí tại Sài Gòn: Thời Nay, Bách Khoa, Văn Học, Tiền Phong. Trước 1975, đã có 5 tác phẩm được ấn hành:

Đêm đen 20 tuổi (thơ) 1964

Tiếng hát Việt Nam (thơ) 1965

Trường Ca Việt Nam (thơ) 1967

Lời Phản Kháng (thơ) 1967

Phía Mặt Trời Mọc (tập truyện) 1969

Được ghi tên trong từ điển văn học của Thanh Tùng, Khai Trí xuất bản năm 1973 tại Sài Gòn. Ra hải ngoại anh tiếp tục viết thêm những tác phẩm:

Đất Nước (thơ) 1985

Bằng Hữu (thơ) 1987

Văn Học Dân Gian (truyện) 1988

Tác Phẩm, Tác Giả (biên khảo) 1988

Đất Nước (thơ, tái bản) 1997

Văn Học Dân Gian (thơ, tái bản) 1999

bamboo grove Những tác phẩm của anh trước 1975 tôi chưa được đọc nhiều nhưng khi đọc tác phẩm gần đây, tôi xin ngả mũ chào CVM bởi sức sáng tạo bền bỉ, văn chương lấp lánh mùi thiền và sự thông thái lịch sử, giỏi Hán Nôm của anh, mặc dù tạm trú hải ngoại, trái tim thường trú Việt Nam, anh luôn chất ngất nỗi buồn xa xứ và sắp bước vào tuổi “Thất thập cổ lai hy” anh vẫn nặng nợ văn chương, vẫn vắt óc cày trên cánh đồng chữ nghĩa phù du như một lực điền làm nên một dòng thơ văn tư tưởng khắc khoải phương Tây. Anh viết nhiều, post trên các trang web uy tín trong ngoài nước. Tôi xao lòng trước:

“… đại hào kiệt cũng chết/ đại thiên tài theo sau/ nhìn tượng Trần Hưng Đạo/ Trần Thủ Độ nơi nào?/ …ngàn năm mây vẫn trắng/ thênh thang cõi đi về…/ còn mỗi ta sống sót/ bồng bênh bèo trên ao…/ vũng đời trò vân cẩu/ hết hợp rồi lại tan/ nghênh ngang uy quyền đó/ chết chả nấm mồ chôn?/ công hầu phù danh cả/ chuyện ngàn năm mây bay/ đó là chuyện thường ngày… ” (Văn Tế Bà Chúa Nôm).

Dù là tạp văn cũng thấm đầy huyền sử, với giọng thủng thẳng, CVM viết:

Hai người trung niên, không phân rõ là nhà quê hay quan võ, đi thuyền từ bến đò Rừng phía Quảng Yên, qua Thuỷ Nguyên, lên bộ rồi người trước kẻ sau, không đi thẳng lên huyện núi Đèo [ Dẹo ] cách khoảng mươi cây số, mà rẽ về lối tắt bên phải đi vào làng Trúc động và Mai Động, cách sông Bạch Đằng chừng non cây số, cách làng Phục Lễ, Phả lễ ba cây số, hai người nhìn ngắm, hai bên đuờng quê, một bên đuờng trồng toàn là trúc tầm vồng, cây thẳng đuột, ruột đặc, gọi là làng Trúc động, còn bên cạnh trồng toàn là cây bương lồ ồ nên gọi là làng Mai động, trúc bương mọc khít khao làm hàng rào vườn nhà, rất kín đáo muốn vào nhà là phải đi qua ngõ, ngừơi cao hơn móc trong tuí áo ra một tờ giấy nhỏ, đọc qua loa rồi như tình cờ rẽ vào một nhà bên làng Trúc động, trước sân thấy có hai cha con, đang ngồi đan lươí cá, ngươì cha vào khoảng bốn chục, ngươì con vào khoảng hai chục, thấy có nguời lạ vào nhà, nguời cha dừng tay đứng lên hỏi khách:

-Thưa hai tôn ông, ghé làng chài thăm? có điều chi? cần dậy bảo?

Người cao nóí :

– Chả dấu gì Bác, chúng tôi nhàn rỗi không có việc chi? nghe đâu làng này ngày xưa sứ quân Đỗ cảnh Thạc có lập một cơ ngơi, để về hưu dưỡng, và nghe đâu hậu duệ cuả ngài còn truyền cho tới bây giờ? nên nhân tiện có công chuyện đi ngang qua đây ghé kính viếng thăm và thắp nén vài nén nhang để hiếu kính sứ quân, để tỏ rõ tấm lòng cuả kẻ hậu bối?

Ngừơì chủ nhà bèn chắp tay xá hai người :

-Đa tạ, hai tôn ông có lòng ghé thăm, vậy xin hai tôn ông theo kẻ dân giã này vào viếng miếu tổ tiên cuả chúng tôi?

Nguời con trai làng chài đi trước, quét trước sơ sài phiá trong và ngoài miếu, còn nguời cha thì thắp nhang đưa cho hai nguời trung niên, chỉ có nguời cao là đứng vái bốn vái, còn người đứng sau chỉ chắp hai tay mà thôi, nguời cao khấn:

– Bổn tướng là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vì công vụ nên ghé kính thăm sứ quân, nếu anh linh còn đây, khí thiêng sông núi còn đó, mong sứ quân hiển linh chỉ bảo cho bổn vương đôi điều, giữ nước và cứu nước ?…

Đọc Địa Cọc Bạch Đằng ta càng tôn kính lòng yêu nước của Hưng Đạo Vương và hiểu ngọn nguồn trận Bạch Đằng manh nha thế nào. Lại càng quý sự rốt ráo sử Việt cùng tài tái hiện cốt cách nhân vật của CVM. Không chỉ thế, CVM còn thông thuộc truyện kiếm hiệp Kim Dung, dã sử tiểu thuyết Trung Quốc. Chẳng hạn:

Quách Tĩnh đọc xong mật hàm cuả Mông Kha gửi cho mình, có điều hiểu ngay, có điều hiểu lờ mờ, và có điều không hiểu hẳn, bèn đưa ngay tấm mật hàm cho Hoàng Dung, đọc lại cho rõ, để hai người cùng bàn luận, để tìm cách đối phó nếu có chuyện bất thưòng xẩy ra? Hoàng Dung đọc thì hiểu ngay, tóm tắt lại như sau :

– Hãn ông Nội tức Thành cát tư Hãn làm Hãn đuợc mươì năm, thì truyền ngôi lại Hãn cho Bác Oa Loa Đài, Hãn Bác làm đuợc muơì năm thì truyền lại cho Hãn Cháu Mông Kha, Cháu làm Hãn được muơì sáu năm, bây giờ bưóc sang năm thứ mười bẩy, cháu vẫn duy trì tình trạng đất nước Mông Tống y như cũ, nhưng đa số tướng lãnh duới quyền có đưa kiến nghị lên cho cháu, một là đánh tới nơi tới chốn, thắng hay là bại cho oanh oanh liêt liệt, hai là rút quân về đại mạc, cho giải giới, giải ngũ, chăn dê cừu như cũ, chứ cứ cù cưa cù nhầy kéo daì cuộc chiến gần 40 năm rồi, nhân sự mệt mỏi và chán nản lắm lắm, vậy cháu kính gửi mật hàm này đến Kim Đao phò mã và Hoàng Dung bang chủ, báo trưóc sáu tháng để chuẩn bị, đầu tháng bẩy năm sau, cuộc chiến thư hùng giữa Mông Cổ và Đại Tống sẽ xẩy ra, tấm lòng thì dài , nhưng chữ nghiã có giớí hạn, kính mong Kim Đao Phò mã và Hoàng Bang chủ liệu định…. (Mông Kha).

Nói về thơ, tôi cảm nhận vài bài anh post trên vanchuongviet.org bởi lẽ CVM viết nhiều thể tài và bài viết của tôi trong phạm vi giới hạn, không thể ôm đồm nhận định xuyên thấu văn chương CVM. Nhưng dù văn hay thơ, nhà thơ CVM cũng bật lộ cốt cách ngang tàng Bắc Hà, với cái cay đắng mùi đời lên câu chữ một cách triết lý. Cứ hãy trải lòng mình vào (Chuyện Thơ) sẽ rõ “ý tại ngôn ngoại” của CVM tiềm ẩn trong câu chữ gập gềnh:

Bàn chuyện thơ nó y như vầy / anh đến trước ở quán cóc / là nhà thơ cổ điển / kêu 1 ly cà phê sữa đá/ chờ lâu quá đành uống tạm / 1 ly cà phê đen nóng / tất tả đi ngay? / để lại trên bàn ly cà phê sữa đá/ cho anh làm thơ tân cổ điển / anh đương đại đến thì uống cà phê đá / anh hậu hiện đại uống trà đá / anh sau hậu hiện đại uống trà nóng / và anh sau chót múc nước lạnh uống / ngoài bờ sông? / Con trâu nằm nhai cỏ / Bá Nha đi người không? / vừa đập xong cổ cầm / tử ký không còn nữa? / đàn toàn dang với dở/ con chim bay trên trời / con chim đậu dưới đất/ còn ta ngồi nơi đây? / muốn khóc/ không khóc được ? / toàn cười? / còn duyên kẻ đón người đưa / hết duyên ngồi gốc cây dừa chờ rơi? / trúng đầu thời kể như toi? / ra ngoài thời miệng còn cười mí nhau? / còn duyên nói chuyện đẩu đâu? / hết duyên toàn những bã trầu nhả ra / nhìn mình mà ngỡ người ta? / nhìn người ta ngỡ là hoa móng bò? / thì thôi nhá miếng chả giò?

Và, thơ mới của CVM “Ngạc Nhiên”:

Con quạ nói tiếng người rất sõi / làm con cú mèo? ngạc nhiên / bầy bồ câu đang mổ thóc ngoài hiên / không thấy người chỉ nghe con quạ nói? /đang nhìn trời định bay chơi? / bỗng dưng con quạ gọi? / vườn vui thế này? mà muốn bay đâu? / quạ trong lồng tre đen thẫm 1 mầu / từ mắt mỏ đuôi giống cục than hầm chín? / cũng là chim ăn thóc người véo von cái miệng / lúc tiếng người lúc tiếng quạ chen nhau / trên nóc đống rơm 1 lũ sáo trâu / đang lầm lũi kiếm ăn từng hạt thóc / ánh mặt trời vừa nhô lên/ trên cánh đồng mùa gặt.

Đọc thơ CVM tôi cứ thấy đau đau làm sao ấy. Thơ của anh chất ngất một buồn xa xứ, như có ngọn lửa âm ỉ ngún cháy, nỗi hoài cố hương ấy cứ dằn vặt tâm can thi sĩ. Niềm khắc khoải tâm linh bật lên trong anh như căn bệnh trầm kha, chữ nghĩa chán chường mọi thứ và mọi thứ đều vô nghĩa. Ở Mỹ hay ở hải ngoại người ta thờ ơ hết thẩy, họ sống thực dụng thì sá gì thơ văn Việt bọt bèo xa xôi, các thế hệ sau chả quan tâm gì tiếng Việt, thậm chí có người mù tiếng Việt, trong khi đó họ thông thạo tiếng người, vì nhu cầu cuộc sống họ đành lòng quên lãng cội nguồn. Anh là một trong những người còn làm thơ văn trên đất khách, còn làm kiếp tằm ép xác nhả tơ vì con chữ quê nhà; anh là người giữ lửa đáng trân trọng. Có nhiều thi sĩ nổi tiếng thời trẻ, lớn lên họ im tiếng? Có lẽ họ đã thỏa nguyện, CVM ở tuổi 68 vẫn lặng lẽ chống chỏi với cơn đau trần thế một cách dũng cảm để viết và viết… Viết đến đây tôi ứa nước mắt vì sức chịu đựng và làm việc của anh. Tôi xin khép lại trang viết này để khởi một lời nguyện chân thành lên không trung: “Cầu anh mạnh khỏe để gom sức viết tặng đời” và mời bạn đọc cùng tôi chia sẻ niềm khắc khoải tâm linh cùng nhà thơ Chu Vương Miện.

Huế, ngày 21 tháng 8 năm 2009

N.N.A

bài đã đăng của Nguyễn Nguyên An


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)