Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Những nàng Mỵ nương của chúng ta

 

Gia đình chúng tôi có một truyền thống yêu nước thật hào hùng; tất cả, từ thế hệ cha ông đến hàng con cháu thảy đều là những kẻ ưu thời mẫn thế. Có điều là cách thế suy nghĩ và khuynh hướng chính trị của bọn trẻ chúng tôi sau này hơi khác lớp trước: lối suy nghĩ và lập luận của họ phức tạp rǎ́c rối hơn dẫn đến những niềm tin và chọn lựa không đồng nhất: chǎ̉ng hạn có thǎ̀ng trốn quân dịch và tuyên bố rǎ̀ng nó ghét chiến tranh, không muốn tổ quốc Việt-Nam sống mãi trong cuộc chiến nồi da xáo thịt; có thǎ̀ng lại bỏ học xung phong vào lính chiến đấu rất anh dũng nhưng hễ tóm được người bên đối phương lại tìm cách thả ra (nó là đại đội trưởng một đơn vị trinh sát nên việc làm này tương đối dễ thực hiện) vì quan niệm rǎ̀ng tuy lý tưởng có khác nhau nhưng họ cũng là những kẻ yêu nước nên giết họ là có tội với đất nước; có những thǎ̀ng học trối chết để mong mang cái học ra phục vụ dân nhưng mới nửa chừng thì vớ được một chức trong Tổng hội Sinh viên bèn đớp cái mồi chính trị và “cháy” mất… Ngược lại đối với lớp cha ông chúng tôi hồi đó lại khác, họ thuần nhất, họ kiên cường và họ đơn giản hơn nhiều. Họ sống một phần đời dưới chế độ thuộc địa nên họ cǎm thù kẻ xâm lược và quyết tranh đấu đế mang lại độc lập cho dân tộc cho đất nước. Vì vậy, nói về lớp cha ông chúng tôi, nghĩ cho cùng, hiếm có trường hợp đặc biệt. Cho nên tôi chỉ chọn một kẻ tiêu biểu là chú Sáu tôi.

Cứ theo phương pháp tam đoạn luận cổ điển mà áp dụng thì chú Sáu, một thành viên trong gia đình chúng tôi với truyền thống cách mạng hào hùng, tất chú phải là kẻ yêu nước ghê gớm. Ngặt vì thời bấy giờ chỉ có một lực lượng đánh đuổi ngoại xâm duy nhất do cụ Hồ lãnh đạo (các lực lượng khác đã bị lực lượng cụ Hồ tiêu diệt bǎ̀ng cách này hay cách khác để cụ được độc quyền chống thực dân Pháp và sau này được độc quyền làm những việc khác nữa…) nên chú tôi bèn tham gia với cụ Hồ. Suốt chín nǎm kháng chiến chống Pháp, chú Sáu tham gia tận tình. Ban sơ chú là bộ đội, sau về đoàn thể phục vụ ở Liên hiệp Công đoàn tỉnh tôi. Cái chức vụ ấy xem ra chǎ̉ng quan trọng gì nếu tôi không nói thêm là có một thời gian chú được cử giữ chức bí thư cơ quan nọ, và từ đấy về sau chú luôn luôn có chân trong thường v tỉnh. Tôi kết luận rǎ̀ng chú phải được sự tín nhiệm của Đảng. Mặc dù xét về thành phần giai cấp, chú tôi chǎ̉ng thuộc tầng lớp tiền phong, thế nhưng cả họ hàng chúng tôi đều giác ng cách mng cho nên sau những thử thách (tôi đoán mò vậy) Đảng đón nhận chú Sáu tôi như một người con mới. Người con mới ấy vai mang xà-cột, túi áo giǎ́t cây bút máy hiệu Parker và cưỡi trên lưng chiếc xe đạp đắ́t tiền còn sót lại của gia đình hiệu Alcyon, đạp vòng vòng khǎ́p nẻo xóm làng; đôi khi lên tỉnh (tức nơi trú đóng cơ quan đầu não của tỉnh nhưng lại tọa lạc ở một chỗ hẻo lánh để tránh sự phát hiện của địch, nhất là của không quân địch) hoặc về Miền Nam (tức nơi Ủy ban Hành chánh Liên khu, đơn vị hành chánh cao hơn cấp tỉnh) để báo cáo và liên hệ công tác.

Làm cán bộ Đảng thì nhất thiết phải có đôi chân và cái mồm. Nếu vì lý do bẩm sinh hay tai nạn bạn mất đi một bộ phận nào đó của cơ thể, Đảng vẫn đón nhận với điều kiện là bạn còn chân và mồm. Tôi không thể tưởng tượng ra một cán bộ Đảng mà lại thiếu chân và mồm được: chân để đi, đi luôn luôn đi khǎ́p nơi để có thể sâu sát với quần chúng và mồm để nói, nói nhiều nói dai, cốt để người nghe không có cơ hội bǎ́t bẻ và dù không muốn tin cũng phải tin (trái lại sẽ bị mời đi học tập, công tác này là của loại cán bộ khác chứ không phải là cán bộ chính trị, cán bộ quần chúng như chú Sáu tôi). Nếu có ai tẩn mẩn ngồi ghi nhận thời dụng biểu của một cán bộ chính trị cỡ chú Sáu tôi hǎ̉n sẽ thấy ra rǎ̀ng những người này dùng có đến chín mươi phần trǎm thì giờ để đi và để nói. Thực hành nhiều quá họ đâm ra thành thạo, nói rất suông, thao thao bất tuyệt, không bao giờ biết mệt. Vì không nói những điều họ nghĩ mà lập lại những điều do Đảng dạy nên họ phải học thuộc lòng. Điều này dẫn đến hậu quả là mọi người cùng nói giống nhau, chǎ̉ng những giống lời mà còn giống ging nữa. Phần nhiều các tay lãnh đạo cấp cao là người miền bǎ́c (Cụ Hồ, ông Đồng, ông Giáp không phải là người bǎ́c nhưng sao nghe giọng nói cũng tr tr lǎ́m) nên các cán bộ cấp dưới bất kể là gốc Thủ thiêm hay Cái bè, Phan thiết hay Hội an đều nói rặt một giọng lơ lớ bǎ́c, thứ giọng bǎ́c "giả cầy" và thường chấm câu bǎ̀ng "như thế", "nhé", "xem sao"..v..v. Còn việc đi bộ thì khỏi chê. Dép đứt quai mòn gót nhưng chân họ thì không hề hấn gì. Nếu ông trời oái oǎm bǎ́t chân chúng ta phải mòn thì tôi e chân họ phải mất ít ra cũng tới đầu gối.

Chín nǎm trời hǎng say với Đảng vậy mà đùng một cái hiệp định Genève ra đời chia đôi đất nước, bộ đội kéo nhau về bǎ́c, đa số cán bộ cũng tập kết ra bǎ́c mà chú tôi thì ở lại. Cho đến giờ này tôi cũng chưa hiểu tại sao. Tôi tự nhủ rǎ̀ng có lẽ tại việc tập kết không được tổ chức chu đáo, kế hoạch luộm thuộm sao đó nên kẻ đi người ở không đều. Chứng cớ là có những người chǎ̉ng công cán gì, đã đành lòng ở lại miền nam, một buổi thấy đám công an của chính quyền Ngô đình Diệm lùng sục dữ quá đâm sợ bỏ lên núi thì lại được đón ra bǎ́c tử tế trong khi chú tôi bị bỏ lại. Bị bỏ lại mới đầu hôm sớm mai là chú bị bǎ́t. Chú vào tù nếm đủ mọi đòn tra tấn hành hạ và lãnh bản án Việt cộng nǎ̀m vùng. Sau đó mỗi lần không khí chính trị ở miền nam hơi cǎng chú lại thấy xe mật vụ đến đánh két trước nhà, lại vào nơi lao lý, lại bị kìm kẹp khảo tra. Vì vậy chú bỏ thành phố về miền quê lấy cớ là lo ruộng vườn nhưng kỳ thật là để tìm cách bǎ́t liên lạc với các đồng chí cũ. Chú đã chǎ̉ng gặp một bạn cũ nào, chǎ́c là vì họ đi cả rồi; tuy vậy lòng thành của chú chǎ̉ng bị phụ rẩy. Một hôm ǎn cơm tối xong, chú vào giường vặn đài Hà Nội nghe tin tức thì có tiếng gõ cửa. Hai người trai trẻ bước vào nhà, bỏ lại người thứ ba cảnh giới ngoài cửa. Chú Sáu tôi cảm động nghẹn ngào nhìn hai đồng chí thanh niên. "Anh Mnh?" Một trong hai lên tiếng hỏi. "D tôi là Mnh", chú tôi cảm động run run đáp. " Chúng tôi có lnh trên về liên h cùng đồng chí. Tm thời đồng chí cứ sinh hot như thường l để đch khỏi nghi ngờ. Anh em chúng tôi khi cần sẽ đến gp đồng chí liên h công tác". Họ đi rồi mà chú còn bàng hoàng. Như vậy là Đảng chǎ̉ng quên chú. Chú sẽ lại được hoạt động trở lại. Chú thấy cuộc sống có ý nghĩa, chú cảm thấy một thứ tình cảm buộc chặt chú với đám anh em kia, những người anh em mà chú chưa thấy mặt chưa biết tên, nhưng chǎ́c chǎ́n là họ và chú cùng tôn thờ hy sinh cho một lý tưởng chung.

Cuộc sống vẫn trôi đều, chú Sáu vẫn chờ đợi để được bǎ́t đầu trở lại với nhiệm vụ một đảng viên mà trong tình trạng đó chú thấy còn khó khǎn, nặng nề hơn ngày trước nhiều. Việc đầu tiên là sinh hoạt Đảng, có nghĩa là cùng sống với những đảng viên khác, cùng họp hành, kiểm thảo tự phê, nghe, phân tích và nhận định những chỉ thị nghị quyết từ trên đưa xuống, chấp nhận và thi hành đúng đǎ́n; tóm lại làm đầu tàu trong mọi hoạt động cách mạng. Điều chú chờ đợi chưa thấy tới. Thỉnh thoảng cũng có những người đến cùng chú nhưng chỉ để nhờ chú mua thuốc men, thực phẩm… làm những việc không mấy quan trọng. Chú thấy mình vẫn chưa là một bánh xe dù nhỏ nhưng cần thiết cho guồng máy chạy đều. Có một lần chú gợi ý với một đồng chí đến tiếp xúc rǎ̀ng chú muốn sinh hoạt Đảng trở lại thì người này trù trừ rồi bảo sẽ hỏi ý kiến của lãnh đo. Sau đó chú nhận được phúc đáp gián tiếp rǎ̀ng vì chú đã bỏ sinh hoạt quá lâu nên nếu muốn bǎ́t đầu lại thì phải trải qua một thời kỳ thử thách để cấp trên theo dõi nhận định tư tưởng của chú đã; chú có một thời gian sống với địch e bị ảnh hưởng tuyên truyền phản động của chúng. Như thế có nghĩa là chú phải bǎ́t đầu lại từ số không. Nghe vậy chú Sáu Mạnh giận lǎ́m. Chú không giận Đảng vì Đảng bao giờ cũng sáng suốt chú chỉ giận những kẻ phụ trách chi bộ địa phương. (Ấy cái chỗ phân biệt đâu là Đảng, đâu là những người đi din cho… Đảng là một điểm tế nhị, phải chǎng vì chú chưa thấu triệt nổi cái ngoǎ́t ngoéo ấy?) Chú cho rǎ̀ng những người này thuộc lớp sau, trẻ tuổi nên không biết chú là ai và công lao chú đối với cách mạng to lớn chừng nào. Chǎ̉ng lẽ chú Sáu tôi lại chịu lép vế với mấy chú du kích, với bọn thanh niên mới chy núi vào những nǎm sau này, những kẻ không hề biết chính ủy Nguyễn Chánh là ai, học lớp mấy, hoặc đồng chí công cán ủy viên của toà án nhân dân liên khu ǎn nói sǎ́c sảo ra sao… cho nên nếu có dịp chú Sáu thường tìm cách tỏ cho kẻ đối thoại biết chú thuộc lớp nào trong thành phần những đảng viên tiền phong của Đảng. Chǎ̉ng hạn trong khi nǎ̀m hầm vì moọc-chê nện vô làng, chú tẩn mẩn nhổ những bụi cỏ chìa trước lỗ mũi hoặc đưa tay bứt tai nấm mộc bám trên cây đòn gỗ gác ngang miệng hầm, hỏi bǎ̀ng dáng điệu hết sức vô tình :

A , anh T. bây giờ công tác ở đâu nhỉ?

T. nào? Nhiều T. lǎ́m ai mà biết được!

Câu trả lời xấc láo không khiến chú tôi bực mình. Chú điêm nhiên:

Anh Đ. B. T. ấy mà

Lần này thì người nghe giật mình. Y liếc nhìn chú dò hỏi, rồi đáp chậm rãi, trịnh trọng :

Ông ấy làm to lǎ́m. Đi sứ̀i đấy.

Chú tôi đã biết rõ từ lâu nhân vật kia giờ làm gì, chú chỉ gợi cơ hội để có dịp kể chuyện mình. ̀i xưa tôi gần anh ấy lǎ́m, có dp trao đổi với anh ấy luôn. Anh là người xây dng tôi vào Đảng. Tên tht anh ấy là… Cũng người Quảng Nam mình cả. Hoặc khi các chú thanh niên than công tác bề bộn quá, chú Sáu chép miệng: y đấy, hồi xưa ở tỉnh công vic cũng bề bn lǎ́m mà chỉ có ba anh em chúng tôi lo thôi. Tôi và hai anh nữa cũng là ủy viên thường v. Chú nhấn mạnh chữ cũng là một cách kín đáo để người nghe biết rǎ̀ng chú chǎ̉ng phải là tay mơ. Thế nhưng rốt cuộc, chú Sáu vẫn cứ là tay mơ. Cho đến một ngày…

Không khí miền nam những ngày đó hứa hẹn một đe dọa nghiêm trọng. Ở Sài gòn người ta vẫn nhởn nhơ ǎn chơi nhưng tại các miền quê, đặc biệt là các miền xôi đậu, không khí có vẻ khác lạ. Người đi kẻ lại tấp nập, đêm khuya tiếng chó sủa rộn ràng. Những ông chủ tiệm thuốc tây ở thành phố mỗi chiều xét sổ chi thu hǎ̉n đã phấn khởi nhiều khi thấy rờ-xết càng ngày càng tǎng một cách bất thường vì số bǎng bông và thuốc trụ sinh bán chạy quá. Chú Sáu là một trong những kẻ góp phần mua bǎng bông và thuốc trụ sinh đó. Những ngày cuối nǎm trong khi làng xóm tíu tít lo Tết thì chú tôi bận tiếp khách, những ông khách tất tả đến nhận hàng, mặt mày nghiêm trọng chǎ̉ng tiết lộ điều chi. Nhưng một người như chú Sáu qua nhiều nǎm sống với Đảng phải rõ là một chiến dịch lớn sǎ́p mở màn, chiến dịch Đông Xuân 68 mà sau này Đảng gọi là ngày đồng khởi.

Trong lễ giao thừa, tiếng súng lẫn tiếng pháo đón xuân vô tư khiến ít ai để ý nhưng đến sáng mồng một súng nổ dòn khǎ́p nẻo thì mọi người bǎ́t đầu nhớn nhác. Người ta ùa nhau chạy về hướng này rồi lại lao xao đổ về ngã nọ khi thấy mọi phía đều có bóng những người mang súng ống. Chú Sáu Mạnh đóng chặt cửa ở trong nhà chờ đợi tin tức. Có một lần một người gõ cửa vào hỏi chú xem có cách nào mua thêm vải đỏ và vải vàng để may cờ nhưng chú phải từ chối vì giữa cơn xô xác chǎ̉ng thể nào về thành phố được. Người này, nhân đó tiết lộ với chú những tin tức rất hồ hởi rǎ̀ng cách mạng sǎ́p giải phóng hoàn toàn miền nam; bà con khǎ́p nơi ồ ạt đứng lên tiếp tay cùng lực lượng giải phóng phá tan kìm kẹp của ngụy quyền Sài gòn. Chú Sáu đi ra đi vào trong cǎn nhà, một mình tiếc uổng đã không có cơ hội tham gia viết trang sử lớn của Tổ quốc. Đối với chú như vậy là hết rồi. Mai đây bộ đội về, khí thế hào hùng, bước chân rầm rập trên mọi đường phố trong những cuộc diễn binh mừng chiến thǎ́ng; các đồng chí cũ cũng sẽ trở về sau đoàn quân ca khúc khải hoàn, làm sao chú có can đảm gặp lại anh em? Chú sẽ ǎn nói làm sao khi Đảng soi nét nhìn nghiêm khǎ́c xuống thân phận chú? May thay đang sốt ruột sốt gan vì nhiệt tình cứu nước thì ngày mồng ba Tết chú Sáu Mạnh mở cửa đón một người bạn xưa, đồng chí Trúc Lâm. Sự xuất hiện đột ngột của Trúc Lâm làm chú Sáu lúng túng vô cùng. Trúc Lâm từng hoạt động kề vai sát cánh với chú nhiều nǎm. Kể từ khi trở lại làng đến giờ chú chỉ gặp toàn những người lạ và chú đã ngờ rǎ̀ng lớp người cũ chǎ̉ng còn ai quanh quất trong tỉnh Quảng nam này nữa. Như vậy chú đã có lý do để tự mình đơn phương hòa giải với… Đảng mà không mấy uất ức trong cái cảm tưởng bị Đảng (mà đại diện là các đồng chí bạn bè cũ đã biết nhiều về chú) bỏ rơi. Nhưng ơ hơ, đồng chí Trúc Lâm còn đó, mà có lẽ không chỉ mình Trúc Lâm… Dù sao chú Sáu cũng phải ngồi lại chuyện trò cùng anh ta và sau đó mọi khó chịu trǎn trở lâu nay bổng tiêu tan đâu mất khi nghe Trúc Lâm tiết lộ mục đích cuộc gặp gỡ. “Anh Sáu, Trúc Lâm nhìn thǎ̉ng vào mặt chú nói giọng tha thiết, sở dĩ lâu nay tôi không ra mt tiếp xúc với anh vì có nhiều lý do: vì công tác bề bn, vì điều kin sinh hot nhưng chủ́u là vì lý do an ninh, không phải an ninh cho tôi đâu mà cho anh, cho chính anh. Đảng không vì tp thể lớn mà bỏ quên cá nhân (Hồ chủ tch trong lúc bn lo điều đình với thc dân Pháp mà còn nhớ mt quả cam cho em bé nữa là...) Đảng quan tâm đến an ninh của từng đứa con yêu, như anh chǎ̉ng hn”. Chú Sáu Mạnh giật thót mình cảm động đến lạnh cả sống lưng và nước mǎ́t muốn rưng rưng nơi khóe. Trúc Lâm vẫn không quên giữ cái nhìn sâu thǎm thǎ̉m chiếu vào chú: "Anh là mt trong những đồng chí trung kiên còn nǎ̀m li trong lòng đch mà Đảng để dành khi có cơ hi đc bit mới đem ra dùng. (Ủa, thật là bậy bạ sai trái biết bao nhiêu khi chú Sáu đã lâu nay hiểu lầm rồi đem lòng giận hờn Đảng! May thay…) Cho đến hôm nay theo tổng kết của ta thì chúng ta đã giải phóng hầu hết miền nam trừ mt vài v trí mà bn phản đng còn ngoan cố chống c. Vì vy nơi nào giải phóng xong, để kp thời nǎ́m vững quần chúng và vn đng h tham gia công tác ổn đnh chính quyền cách mng, ta phải tổ chức ngay b máy sinh hot như ở xã nhà. Hôm nay Đảng ủy cử tôi đến mời anh ra tham gia. Tm thời anh giữ chức chủ tch xã. Mình phải bảo v thành quả cách mng, tổ chức gấp rút các đoàn thể thanh niên, ph nữ, nông dân, dùng h làm nòng cốt trấn áp bn phản cách mng. Tôi đề ngh thế này... Chú Sáu lǎ́ng nghe đồng chí Trúc Lâm phác họa kế hoạch tranh thủ quần chúng, thiết lập bộ máy hành chính mà không đưa ý kiến gì vì chú biết đó là chủ trương đã được thảo luận kỹ rồi giờ chỉ còn chờ thi hành thôi. Đồng chí Trúc Lâm trao cho chú một tập tài liệu hướng dẫn. Trước khi ra về Trúc Lâm đứng dậy đưa hai tay ra ôm vai chú Mạnh lǎ́c lǎ́c ra chiều thǎ́m thiết: “Các anh trên gởi lời thǎm anh và chúc anh thành công. Chúng tôi bn lǎ́m nên sẽ chǎ̉ng tiếp xúc luôn với anh được. Anh cứ da trên kế hoch chúng ta đã thảo lun mà chấp hành. ̀ mt bảo v, đồng chí Trúc Lâm giải thích, đa phương ta có ba sư hai lữ (1)đấy là chưa kể lc lượng du kích nhân dân.” Đưa Trúc Lâm ra khỏi nhà, chú Sáu thấy lố nhố một bọn người trẻ mặc thường phục vai đeo súng chờ bên ngoài. Trúc Lâm ra hiệu cho bọn họ đến gần, ông chỉ vào chú: “̉ từ giờ phút này các đồng chí có nhim v bảo v đồng chí Sáu Mnh đây và giúp đỡ đồng chí thc hin tốt công tác.”

Sống trong chế độ tự do dân chủ con người nhiễm nhiều thói quen xấu, chǎ̉ng hạn thói không tin vào bất cứ điều gì do chính quyền đương vị nói ra. Người ta tranh nhau mua đọc những tờ báo đối lập, vỗ tay nhiệt liệt các chính khách đả kích phe lãnh đạo tố giác những hành động sai lầm của những người này, mở ra-dô nghe vǎn nghệ ca nhạc cải lương đá bóng dò xổ số và tǎ́t bụp không thương tiếc khi nghe nhạc hiệu báo giờ phát tin tức của nhà nước. Chú Sáu tôi trái lại. Chú tin tưởng tuyệt đối vào Đảng mà đại diện gần nhất giờ này là đồng chí Trúc Lâm. Chú chỉ nghe đài Hà nội và đài Giải phóng mặc dù cái đài của chú hiệu Philips tốt lǎ́m, nghe BBC rõ hoǎ́c. Từ giờ này chú công khai chạy xuống chạy lên trong làng, ghé từng cǎn nhà nếu thấy có người lấp ló, giải thích chính sách của cách mạng, đem niềm lạc quan của Trúc Lâm truyền vào quần chúng, cổ võ họ giữ vững thành quả đấu tranh, tiếp tục tiến lên giải phóng đất nước. Một số gia đình có con chạy núi hoặc thân nhân tập kết cũng dè dặt hợp tác cùng chú. Chú phát cho mỗi người một miếng bǎng đỏ đeo trên cánh tay để mọi người rõ họ là thành phần cách mạng. Chú lại có một sáng kiến hoàn toàn có tính cách cá nhân là chạy mượn nồi niêu soong chảo để sǎ̃n sàng nấu ǎn tiếp tế bộ đội. Cái lực lượng gồm hai sư đoàn và ba lữ đoàn ấy hǎ̉n chỉ kéo qua làng chú một phút thôi là sạch bách mọi chuẩn bị của chú trong bao lâu nay như đàn tǎ̀m ǎn lên bò qua lá dâu. Ngẫm cho kỹ mới thấy cách mạng chu đáo và lực lượng cách mạng to lớn dường nào! Cả tỉnh của chú, ngụy không có nổi một sư đoàn, cái làng của chú lèo tèo một trung đội nghĩa quân mà đổi lại, Đảng phải gởi đến từng ấy người để bảo vệ thì đủ biết! Chỉ nhờ nhân dân, vì nhân dân, Đảng dạy không sai.

Chú Sáu làm việc cật lực trong nhiều ngày rồi thì sáng bữa đó đang còn nǎ̀m nán lại giường vì đuối sức với công tác dồn dập, chú nghe tiếng réo thảng thốt của thǎ̀ng cháu nhỏ liên lạc: “Bác Sáu ơi, chy mau lên. Ngy nó về" Đang còn bán tín bán nghi muốn gọi thǎ̀ng bé hỏi cho ra chuyện thì tiếng đạn súng cối đã veo véo qua làng. Chú vọt ra hầm bí mật, chui tọt xuống. Thǎ̀ng cháu bé cũng lẹ làng theo gót chú. Ti nó phản công đấy nhưng làm gì được", chú tự nhủ,b đi h ở khǎ́p nơi rồi, mà còn hu thuẫn của q̀n chúng nữa". Chú yên tâm nǎ̀m tạm thời dưới hầm để tránh đạn, mang xấp tài liệu lết gần tới chỗ có ánh sáng do lỗ thông hơi trổ lên bụi tre, nghiền ngẫm. Đọc chán, chú mở đài ghé lỗ tai nghe tin tức. Các đài của ta vẫn loan đi tin chiến thǎ́ng dòn dã của quân và dân. Đừng nói chi đâu xa, ngay trong tỉnh nhà chính quyền cách mạng cũng đã được thành lập nhiều nơi, những cuộc phản công của Mỹ Ngụy thảy đều bị bẻ gãy. Thǎ̀ng cháu bé ngồi bên vì bản chất trẻ con khó có thể ngồi yên, nó rất muốn phá cái đài của chú. Khi chú vừa mỏi tay đặt xuống thì nó chộp ngay lấy hí hoáy vặn nút. Hai người cùng giật mình đánh thót khi giọng ồm ồm của tay xướng ngôn đài quân đội ngụy Sài gòn loan báo cuộc phản công ngay nơi vùng chú.Láo khoét cả", chú nghĩ vậy nhưng vội tự hỏi:Qu tht là chúng phản công, nếu không thì mình nǎ̀m hầm làm chi?" Nghĩ vậy chú sốt ruột bảo thǎ̀ng bé: “Coi mày có cách nào bò lên nghe chừng ti nó được không? Hay thôi vy, để́i ́i mt chút"..

Xẩm tối hôm ấy, chú Sáu hối thúc thǎ̀ng bé cháu về bên sông nghe ngóng. Nhà chú cất cheo leo một mình bên này sông trong khi cả làng chen chúc bên kia. Thǎ̀ng bé ra đi, chú thiếp ngủ trong một cơn mơ ngǎ́n lộn xộn với bao điều lo nghĩ thǎ́c mǎ́c cho đến khi nó trở lại chú cũng chǎ̉ng hay. Hốt hoảng, nó lay gọi chú: " Đồng bào b lùa đi hết rồi. Tui vô nhà m Hai, mở cũng đang dn đồ. Mở nói má tui đi từ̀i chiều lận". Chú Sáu không chịu hiểu: "Ai lùa? Lùa đi đâu?"- "Nẫu chớ ai. Ngy lùa bà con lên gần trên tỉnh ở. Mai mốt nẫu đốt làng". Nói đến đây nó tru tréo khóc. Chú Sáu vỗ về: "Mày ở đây với tao rồi mai mốt du kích về đón mình lên núi. Mày theo b đi làm liên lc. Đảng sẽ giáo dc mày như đã giáo dc anh Kim Đồng. Mày biết anh Kim Đồng(2) không?" Chú toan kể chuyện Kim Đồng hòng làm dịu nổi bôn chôn của thǎ̀ng bé nhưng xem ra nó chǎ̉ng thích thú gì với cái viễn ảnh do chú vẽ ra. Nó òa to lên: "Tui theo má tui…." Chú Sáu hốt hoảng bịt mồm nó nhưng nó xô chú ra và vọt lên khỏi hầm.

Còn lại một mình, chú lǎ́ng nghe tiếng động để dò đoán. Chú cũng chờ đợi bất trǎ́c đến với chú; chǎ̉ng hạn tiếng xuồng qua sông của đám lính ngụy đến lùng sục. Làm gì chúng chịu yên khi thấy cửa ngõ trống hoác. Chúng sẽ ra vườn, sẽ rảo khǎ́p nơi, sẽ nhìn thấy bụi tre khả nghi này. Đến nước đó thì rồi chú Sáu Mạnh cũng phải chịu thôi: chú sẽ hiên ngang bước lên khỏi miệng hầm đưa hai tay cho chúng đóng mơ-nốt nhưng mặt ngước cao dũng mãnh trước hàng chục con mǎ́t nhìn. Tù tội tra khảo đối với chú đã quá quen thuộc. Hay là, nếu kịp thời chú sẽ chạy. Và chúng sẽ bǎ́n theo. Một viên đạn hay nhiều viên đạn xé người cũng chǎ̉ng hề gì khi ta ngã xuống vì Đảng, vì nghĩa lớn? Chú Sáu thấy cuồn cuộn trong người chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Cuộc đời chú chấm dứt như thế đẹp đẽ quá. Chú cảm thấy yên lòng, một cảm giác dứt khoát nhẹ nhỏm. Cơn phấn chấn kéo dài một lúc rồi cũng phải qua đi nhường chỗ cho cơn buồn ngủ vì mỏi mệt kéo đến khiến hai mi mǎ́t chú trĩu xuống. Hai ba ngày rồi cả tuần lễ trôi qua mà chǎ̉ng có biến cố gì đến với chú. Chǎ̉ng lẽ mọi người đã quên bǎ̉ng chú, ngay cả các đồng chí của chú? Và ngay cả kẻ thù của chú? Mỗi ngày chú lǎ́ng nghe tiếng động chung quanh nhưng chú chỉ thấy im ỉm vǎ́ng cả tiếng chó sủa, gà gáy; mỗi đêm chú chui ra khỏi hầm thở hút không khí, vào nhà thu vét những gì còn lại; ban đầu dò dẫm cẩn mật, sau ra vào tự nhiên chǎ̉ng còn e dè. Có một điều lạ là ý nghĩ đi về hướng trên để tìm bǎ́t liên lạc đã không còn rộn ràng thôi thúc trong lòng chú nữa.

Rồi một sáng, chú Sáu Mạnh chui ra khỏi hầm, vào nhà mặc thêm chiếc áo khoác, tần ngần một lát rồi lội qua sông. Chú chậm chạp bǎng qua xóm cũ, ngước nhìn những cǎn nhà giờ chỉ còn trơ nền xi mǎng và vài cây cột sǎ́t cong queo sau lượt xǎng đặc do đám lính ngụy rãi trước khi dời dân về tỉnh. Chú theo con đường đất đã bǎ́t đầu có dấu cỏ lan để ra đường cái quan. Chú lủi thủi đi mãi cho tới lúc bǎ́t gặp một người đàn bà chống cây roi lơ đãng nhìn con bò gặm cỏ. Đó là con người đầu tiên chú gặp sau ngày chui hầm. Chú nhìn chị toan hỏi chuyện nhưng thấy thái độ chị lơ là, chú mất hứng. Chú lại lầm lũi bước đi. Ra đến đường cái quan, chú tìm một bụi cây ngồi núp nǎ́ng chờ xe. Một chiếc xe lam xả hết tốc lực vọt qua, chú Sáu không kịp đưa tay đón nhưng dáng điệu hấp tấp ve vẩy của chú đủ cho anh tài nhận ra. Anh ta thǎ́ng xe, lùi lại một đoạn dài. Chú trèo lên ngồi cùng hai người khách đã có sǎ̃n. Anh tài phân bua: “Chỗ này trước nay có ai đón xe đâu . Tôi chy lâu quen rồi, chỗ nào có người đi tôi biết. B bác ở trong đó hả? Nghe nói dời làng lâu rồi mà?" Chú Sáu không trả lời. Chú không sợ sệt che đậy gì, chỉ thấy mình trơ trẽn như mấy con ma của Bồ Tùng Linh, trong đêm mang lốt người đùa chơi nơi trần thế, mãi mê quá đến quên bǎ̉ng nỗi cách trở âm dương, lớ quớ khi ánh sáng ngày lùa đến, ngỡ ngàng nhận ra rǎ̀ng không còn kịp giờ trở về âm cảnh nữa. Qua đến Nam ổ có bót gác của quân cảnh, chú Sáu chờ đợi sǎ̃n sàng trèo xuống theo họ nhưng không, lính quân cảnh chỉ hỏi giấy anh tài xế vì anh ta trẻ ở trong hạng tuổi quân dịch. Khi chiếc xe vào tận cửa ngõ của thành phố thì chú ở trong trạng thái hoàn toàn bất định. Chǎ̉ng ai để ý rǎ̀ng có một tên Việt cộng vừa vào thành phố, chú chua chát tự nhủ và cảm thấy buồn bã lạ lùng. Cái cảm tưởng ấy có pha chút thất vọng tựa như tâm trạng của một con ma lè lưỡi xỏa tóc ngay giữa nẻo đường mọi người qua lại mà tuyệt không có chị đàn bà nào chịu yếu bóng vía la làng. Chú thất thểu về nhà, mở cửa bước vào giữa mấy con mǎ́t mở to của những người con.

Phải hai ba ngày sau thì ông liên gia mới báo cho ông đại diện phường; ông phường lên ông thị, ông thị sang đặc khu, đặc khu sang Phượng Hoàng; Phượng Hoàng từ chối và đẩy qua ty Chiêu hồi. Ông trưởng ty chiêu hồi sau khi lý luận rǎ̀ng đương sự tự ý bỏ hàng ngũ đối phương trở về thì đúng là nhiệm vụ của ông phải tiếp rước và để tǎng phần quan trọng thì nên mời ông cố vấn Mỹ, bèn cầm ống nói gọi sang. Ông trung tá cố vấn kiên nhẫn nghe ông Chiêu hồi một lúc (rủi cho ông chiêu hồi, lúc đó thông dịch viên không ở bên cạnh cố vấn nên ông phải thi thố số vốn tiếng Anh còm cỏi) thì chợt vở lẽ ra được bèn nai nịt, tất tả ra xe cùng người thông dịch viên chạy vù đến nhà chú tôi. Chú Sáu đã được thông báo trước nên bình tĩnh ngồi chờ. Ông cố vấn đưa tay mời chú ngồi ở ghế trước bên cạnh ông. Anh thông dịch nhấp nha nhấp nhỏm nơi ghế sau, chờ đợi câu mở đầu của xếp nhưng chỉ thấy ông này e dè nhìn chú Sáu qua tấm kính chiếu hậu gǎ́n phía bên kia. Cho đến khi về đến vǎn phòng, chủ khách đã an vị kể cả anh thông dịch viên nhấp nha nhấp nhỏm, ông cố vấn mới nở một nụ cười hiền lành nhất mà ông có thể nặn ra để hỏi chú: “Thế nào, ông thấy dễ chu chứ?" Chú Sáu ậm ừ không biết trả lời sao cho phải. Chú sống quá lâu trong một môi trường mà sự che dấu đã trở thành bản nǎng, giờ chú lúng túng vụng về khi phải lột chiếc mặt nạ đã mang nhiều nǎm tháng đó. Họ đối đáp với nhau như những người mù đánh kiếm, không đâu vào đâu: ông trưởng ty Chiêu hồi, ông cố vấn tòa tỉnh và chú Sáu. Sau một lúc chǎ̉ng thấy hứng thú gì, ông trưởng ty bèn bǎ́t đầu các thủ tục thông thường dành cho hồi chánh viên rồi xoa tay khoan khoái khi chú Sáu ký vào cuối các tấm giấy.

Sự nghiệp cách mạng của chú Sáu Mạnh chấm dứt một cách bẽ bàng như vậy.

Tháng tư nǎm bẩy lǎm đúng vào lúc quân đội nhân dân của tướng Dũng tràn vào cổng dinh Độc lập thì chú tôi ngã bệnh, hậu quả của những ngày sống cực khổ ở rừng núi, những lần bị tù tội khảo tra. Chú tôi thổ huyết, từng khối máu bầm vỡ ra từ lồng ngực. Trong tình thế ấy khó mà tìm được thày thuốc chữa trị. Vả lại, dường như chú bǎ̀ng lòng với biến-cố-đến-đúng-lúc-trong-đời-mình này. Chú từ chối mọi thứ thuốc chúng tôi tìm được. Những ngày sau chú trǎn trở suốt đêm không ngủ. Một người bạn học y khoa mang cho chúng tôi một ít valium. Thay vì dùng cho một cơn chợp mǎ́t, chú đã dốc cả vào bụng và bình thản ngõ ý cho những người con hay là chú muốn vậy. Bình sinh, chú là người cương quyết, chúng tôi luôn luôn vâng theo ý chú. Bận này cũng vậy. Khi chú hấp hối tôi không có mặt bên cạnh; tuy vậy ông đã nhớ đến tôi và thều thào: Ti sao thǎ̀ng T. (là tôi) không ra đi? Nó đủ điều kin để ra đi mà... Nghe các em kể lại lời ấy tôi hoang mang vô cùng. Mặc dù việc tôi ở lại cùng gia đình là do những động cơ hoàn toàn ngoài ý muốn sống cùng chế độ mới, nhưng tôi tưởng rǎ̀ng sự có mặt của tôi trong giờ phút ấy làm chú bǎ̀ng lòng như trước kia chú bǎ̀ng lòng khi nghe tôi công kích những sai lầm thối nát của chính quyền quốc gia mặc dù chú biết không vì vậy mà tôi yêu chế độ hiện giờ. Nào ngờ…

*

Việc chú tôi mất đã kết thúc câu chuyện nửa bi thảm nửa hài hước tôi vừa kể hầu bạn đọc. Tuy nhiên tôi cho rằng tôi không có quyền kết thúc ở đây khi đã vui tay đặt một tựa đề chẳng ăn nhập gì với nội dung câu chuyện; vì vậy tôi bèn "nói điêu" như sau:

Rằng trong kho tàng phong phú của những truyện truyền kỳ Việt-Nam, chúng ta có chuyện Trương Chi-Mỵ nương. Truyện kể rằng Trương Chi là một chú lái đò nghèo mạt, lại xấu thậm tệ nhưng có giọng hát làm mê lòng người. Ngày ngày anh ta loạng quạng trên khúc sông ngắn đưa đò làm kế mưu sinh và hát nghêu ngao. Tới tuổi lứa đôi thì ai cũng mơ ước có một người bạn đời, Trương Chi cũng vậy. Anh ta nghèo, anh ta xấu nhưng anh ta biết rằng mình có một lợi khí chinh phục phụ nữ là giọng hát hay. Anh ta không nghêu ngao cho vui mà có chủ ý mong chờ những lỗ tai đón nhận. Lỗ tai ấy cúa Mỵ nương, con quan tể tướng, chắc chắn là có một tấm nhan sắc mê hồn. Nàng ở lầu son gác tía, oái oăm thay cái vi-la ấy lại xây nhằm nơi khúc sông có anh chàng Trương Chi loạng quạng kia. Và thế là sau một thời gian mê mệt vì giọng hát quyến rũ, nàng đã tìm cách vời chú lái đò lại hội kiến -một cách bí mật để bố mẹ khỏi biết.

Ôi, giá chàng chỉ nghèo thôi thì nhờ lộc quan tể tướng, chàng trở nên sang mấy chốc! Ôi, giá chàng chỉ dốt thôi thì nhờ uy quan tể tướng, chàng đạt địa vị cao mấy hồi! Nhưng đàng này chàng lại xấu (xấu đến độ nào thì chúng ta không thể đoán nổi nhưng đã khiến nàng dội ngược thì chắc phải là một khiếm khuyết nghiêm trọng chứ chẳng phải chơi đâu). Hồi ấy chưa có môn giải phẫu thẩm mỹ nên Mỵ nương đành ôm mối hận. Nàng tuyệt vọng quá, tuyệt vọng ghê gớm, tuyệt vọng đến nỗi không thể tuyệt vọng hơn được nữa (nói theo kiểu ông Hoàng Hải Thủy) nên nàng đâm ngã bệnh thập tử nhất sinh. Nhưng tại sao nàng không chết mà Trương Chi chết? Chỗ này chắc chúng ta phải "hiệu đính" câu chuyện dân gian một chút cho nó hợp lô-gic. Là bởi vì Mỵ nương bị cú đờ-phút chứ đâu phải Trương Chi, cho nên nàng phải chết, chết tức tưởi chết tuyệt vọng mà Trương Chi thì không. Phàm trong tình yêu kẻ nào yếu bóng vía ngã xuống trước thì kẻ ấy phải chịu thiệt thòi chớ! Còn chuyện Trương Chi có ngã hay không xin để hạ hồi phân giải, tuy nhiên xét trong tình trạng này thì anh ta có quyền sống để tiếp tục hát hỏng, làm chết thêm một đống cô gái khác nữa. Ngược lại, những nàng con gái cùng cảnh ngộ như Mỵ nương thì gần như tất cả đều mang bệnh tương tư khi chưa gặp chàng, ôm mối thất vọng khi đã trông thấy chàng, về nhà nằm úp mặt xuống gối, nhét mùi xoa vào miệng để bớt thổn thức, rồi nếu chịu hết thấu thì mượn liều thuốc độc hoặc sợi dây thừng quyên sinh. Chẳng có cô nào chịu viết bố cáo dán bên bờ sông cảnh cáo những nạn nhân tương lai rằng: Hi các ch em bn gái, các ch hãy coi chng bên sông này có …thng cha Trương Chi mt mày xu t nhưng hát hay lm. Vì tôi l mê ging hát nó lâu ngày như mê á phin nhưng khi gp mt nó tôi tuyt vng ghê gm. Dù vy tôi không th làm gì khác (ai biu ti tôi ngu làm chi) nên đành mượn giòng nước này mà trm mình. Vì tôi s rng s có người trong bn ch em chúng ta li s là nn nhân ca nó bèn viết b cáo này cho mi người cùng hay. Nay ký.

Giá được như vậy thì hay biết mấy!

Gia đình chúng tôi có khá nhiều Mỵ nương. Già nửa số đó đã nằm xuống khi đất nước được "giải phóng". Cũng có những người đi ra bắc và còn lành lặn trở về, nhưng kể làm chi những nàng Mỵ nương còn đầy ắp trong lòng hình ảnh chàng Trương Chi hào hoa đó. Tình yêu thường hay "mà" con mắt chúng ta khiến chúng ta không còn sáng suốt nữa, Đấy là sự thường! Còn những kẻ đã nằm xuống? Bí mật. Hoàn toàn bí mật. Tôi không biết có bao nhiêu chiếc mùi xoa ướt với những mi tình mang xung tuyn đài chưa tan.

Sau hai mươi năm sống ở miền Nam tự do, thế hệ chúng tôi không còn tìm thấy chút gì quyến rũ trong giọng hát kẻ đưa đò ấy nữa. Tiếng hát Trương Chi đối với lũ tôi đã chết thật rồi. Nhưng những người như chú Sáu tôi? Như bố tôi? Làm sao tôi hiểu được họ? Làm sao qua những lời ngắn ngủi trong cơn hấp hối của chú Sáu Mạnh tôi biết là người muốn nói gì? Người thất vọng lắm sao? Tôi không đủ thông minh để đọc giữa hai hàng chữ: "Ti sao thng T. (là tôi) không đi? Nó có đ điu kin đ ra đi mà?"

Mỵ nương của tôi chỉ nói có chừng ấy.


(1) Ba sư đoàn và hai lữ đoàn

(2) Một gương anh hùng thiếu nhi thời kháng chiến chống Pháp

Đặng Đình Túy

bài đã đăng của Đặng Đình Túy


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)