Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn, Văn Chương Ukraine Email bài này

Lyubka Cô-dắc

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 8.04.2022
Isaac_Babel

Ngôi nhà của Lyubka Shneiveis nằm trên góc đường Dalnitskaya và Balkovskaya tại quận Moldavanka. Nhà bà có một hầm rượu, một quán trọ, một cửa hàng yến mạch, và một chuồng nuôi một trăm cặp bồ câu Kryukov và Nikolayev. Tất cả mọi thứ này cũng như lô số 46 ở mỏ đá Odessa đều thuộc về Lyubka Shneiveis, biệt danh Lyubka Cô-dắc – ngoại trừ chuồng chim bồ câu là tài sản của ông gác dan Yevzel, ông là lính có huy chương đã nghỉ hưu. Mỗi Chủ nhật, Yevzel đến Quảng trường Okhotnitskaya để bán chim bồ câu cho đám công chức nhà nước và cho bọn con trai trong khu phố. Ngoài ông gác dan sống trong sân nhà Lyubkas còn có bà nấu ăn kiêm tú bà Pesya-Mindl, và viên quản lý Tsudechkis, một ông Do Thái nhỏ bé vóc dáng còm cõi có bộ râu ngắn khốn khổ giống giáo sĩ Ben-Zkharya trong quận Moldavanka của chúng tôi. Tôi biết nhiều chuyện về Tsudechkis. Đầu tiên là chuyện Tsudechkis vì sao trở thành quản lý nhà trọ cho Lyubka, biệt danh Cô-dắc.

Khoảng mười năm trước Tsudechkis môi giới bán chiếc máy tuốt lúa do ngựa kéo cho một chủ đất. Đến tối, ông đưa chủ đất tới quán của Lyubka để uống mừng chuyện làm ăn. Ông chủ đất này ngoài bộ ria mép dài thòng còn có chòm râu dê và đi giày da bóng. Pesya-Mindl dọn cho ông ta món chả cá, sau đó là một cô gái trẻ rất xinh tên Anastasia. Chủ đất ở lại qua đêm, đến sáng ông gác dan Yevzel đánh thức Tsudechkis đang nằm cuộn tròn như trái banh trước cửa phòng Lyubka.

Yevzel nói: “Coi nè! Tối hôm qua mày khoác lác là công ty bảnh bao của mày bán máy tuốt lúa cho ông chủ đất! Nè, tao báo cho mày biết là hắn ngủ lại đêm ở đây rồi sáng sớm thằng khốn khiếp đã cao chạy xa bay. Nào, moi ra hai rúp cho bữa cao lương mỹ vị và bốn rúp nữa cho món kia. Mày đúng là đồ nhức nhối!”

Nhưng Tsudechkis không chịu xùy tiền ra, vì vậy Yevzel tống gã vào phòng của Lyubka rồi khoá cửa lại.

Ông gác dan nói: “Ôi dào! Mày cứ ở đây cho tới khi Lyubka từ mỏ đá về, Chúa ơi, bả sẽ đập cho mày mất vía! Amen!”

Tsudechkis chửi ông lính già: “Đồ cu li khốn nạn!” rồi nhìn quanh phòng giam. “Ông chẳng biết cái cóc gì ngoài đàn chim cu của ông, đồ cu li khốn nạn! Còn tui vẫn tin Chúa, Người sẽ đưa tui ra khỏi nơi này như Người đã đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập trước, rồi sau đó ra khỏi sa mạc!”

Gã môi giới bé tẹo còn muốn nói với Yevzel nhiều nữa, nhưng ông lính già bỏ chìa khoá vô túi rồi giậm bước thình thịch bỏ đi. Khi đó Tsudechkis quay ra quan sát căn phòng, thấy mụ tú bà Pesya-Mindl ngồi bên cửa sổ đọc cuốn Phép lạ và Trái tim của Baal-Shem. Mụ vừa nghiền ngẫm cuốn sách có gáy mạ vàng của giáo phái Haredi Do Thái Chính thống, vừa dùng chân đung đưa cái nôi gỗ. Trong nôi là bé Davidka, con trai của Lyubka đang khóc ầm ĩ.

Tsudechkis nói với Pesya-Mindl: “Tui thấy mấy người lập cái trại giam rất khá trên đảo Sakhalin này! Thằng nhóc nằm đó la bể phổi đủ làm cho người ta xót, còn bà, một bà mập ú, ngồi như tảng đá trong rừng mà hổng thèm đưa vú cho nó.”

Mắt không rời cuốn sách, Pesya-Mindl vặc lại: “Mày cứ đưa vú để dỗ nó, nếu nó chịu, đồ lão già bất lương! Coi nè, nó bự như thằng bán thịt lợn, nó chỉ muốn sữa của má nó, mà má nó thì tất bật trong mỏ đá của bả, uống trà với tụi Do Thái ở quán Medved, mua hàng lậu ở bến cảng, bả nghĩ tới đứa con của bả nhiều bằng nghĩ tới tuyết năm ngoái.”

Gã môi giới nhỏ bé nghĩ thầm: “Ối, khổ thân Tsudechkis, mình rớt vô tay Pharaoh rồi!” Gã đi tới bức tường phía đông của căn phòng, lẩm bẩm toàn bộ bài kinh buổi sáng kể cả phần phụ lục, rồi bế đứa bé đang khóc lên. Davidka ngạc nhiên nhìn gã rồi ngọ nguậy đôi chân đỏ sẫm đầy mồ hôi con nít. Lão già khởi sự đi quanh phòng, vừa lắc lư như giáo sĩ Do Thái đang cầu nguyện, vừa hát một điệp khúc bất tận.

Gã hát: “À ơi, mấy đứa nhỏ kia chỉ được són cho một tị, còn bé Davidka của mình có cái bánh để mà lúc nào thức dậy là nó ngủ lại liền suốt ngày suốt đêm. À ơi, mấy đứa nhỏ kia chỉ được són cho một tẹo…”

Tsudechkis đưa nắm tay nhỏ xíu phủ đầy lông bạc của gã cho đứa con của Lyubka, rồi tiếp tục lặp lại bài hát một tị một tẹo cho tới khi đứa bé ngủ và mặt trời lên đến đỉnh đầu giữa bầu trời chói chang. Mặt trời leo tới giữa bầu trời rồi lơ lửng ở đó run rẩy như con ruồi kiệt sức vì nóng. Đám nông dân hoang dã từ Nerubaysk và Tatarka đến ở tại quán trọ của Lyubka chui xuống gầm xe của họ để ngủ ngáy ầm ầm. Một đứa học nghề lảo đảo say đi tới cổng, ném cái bào một bên, cái cưa một bên, gục xuống đất rồi ngáy, giữa đàn ruồi vàng và tia chớp xanh của tháng bảy. Gần đó, dưới bóng râm, bọn di dân người Đức nhăn nheo mang rượu từ biên giới Bessarabia đến cho Lyubka. Họ châm tẩu thuốc, dọc tẩu cong bốc khói quyện lấy đám râu bạc tua tủa trên gò má không cạo của họ. Mặt trời lơ lửng trên bầu trời như cái lưỡi hồng của con chó khát nước, biển cả mênh mông gợn sóng phía Persyp xa xa, và cột buồm trên mấy chiếc tàu đằng xa lắc lư trên mặt nước màu ngọc bích của Vịnh Odessa. Ngày nấn ná trên chiếc ghe nhỏ sơn màu tươi tắn, ngày giương buồm trôi tới chiều tối. Phải đến khoảng bốn giờ rưỡi Lyubka mới từ thị trấn trở về. Bà cưỡi con ngựa lang nhỏ có cái bụng bự và bờm không cắt um tùm. Một thằng nhóc cẳng mập phì mặc sơ mi vải in ra mở cổng cho bà, Yevzel nắm dây cương ngựa, khi ấy Tsudechkis từ phòng giam gọi Lyubka:

“Kính thưa bà Shneiveis, chúc bà một ngày tốt lành! Bà đi làm ăn ba năm, bỏ đứa con đói khát của bà trong vòng tay tôi!”

Lyubka vừa xuống ngựa, vừa đáp lại lão: “Khớp mỏ lại, thằng bù nhìn giữ ruộng! Đứa nào la lối ở cửa sổ phòng tao vậy?”

Ông lính già có huy chương thông báo cho bà chủ: “Tsudechkis, lão nhức nhối đó,” rồi ông kể toàn bộ câu chuyện về đứa chủ đất. Nhưng ông chưa kể hết thì gã môi giới đã ngắt lời và ra sức la hét.

Gã kêu gào, vứt cái mũ chỏm Do Thái xuống sàn nhà: “Đồ vô liêm sỉ! Đồ vô liêm sỉ, ném con vô tay người ta rồi đi rong chơi ba năm. Tới đây, đưa vú cho nó.”

Lyubka vừa lướt tới cầu thang, vừa lẩm bẩm: “Tao sẽ cho mày biết, đồ làm ăn lừa đảo.” Bà vào phòng, kéo vú ra khỏi cái áo khoác bụi bặm.

Đứa bé vươn tới bà, cắn lấy cái núm vú ghê gớm của bà, nhưng không ra sữa. Trán bà mẹ nổi sợi gân, Tsudechkis vừa lắc cái mũ chỏm vừa nói với bà: “Lyubka, bà muốn dành hết mọi thứ cho mình, đồ tham lam! Bà giật cả thế giới cho bà, như đứa con nít giật cái khăn trải bàn để lấy hết vụn bánh. Bà muốn có lúa mì tốt nhất, nho ngon nhất, bà muốn nướng bánh mì trắng giữa lúc nóng nhất, còn đứa con nhỏ của bà, một đứa bé như ngôi sao nhỏ, phải héo rũ vì không có sữa.”

Người đàn bà vừa nặn vú, vừa thốt lên: “Làm sao có sữa, làm sao tui có sữa khi mà hôm nay chiếc Plutarch cập bến cảng, rồi tui phải đi mười lăm cây số dưới cái nóng hừng hực? Còn ông, lão già Do Thái, mặc kệ bài hát và bế bồng của ông, liệu hồn moi ra sáu rúp.”

Nhưng Tsudechkis vẫn không chịu trả. Gã xắn tay áo lên để lộ cánh tay, ấn cái cùi chỏ gầy bẩn vào miệng Lyubka.

Gã quát: “Ho sặc đi, đồ vào tù ra khám,” rồi gã khạc vào góc tường.

Lyubka để im cái khuỷu tay xa lạ trong miệng một hồi, sau đó nhả nó ra. Bà đi ra sân, khoá cửa phòng lại. Ông Trottyburn giống như cây cột thịt đỏ hung đang chờ bà ở đó. Ông Trottyburn là kỹ sư trưởng của chiếc Plutarch. Ông dắt theo hai thủy thủ tới nhà Lyubka. Một đứa dân Ăng Lê, đứa kia dân Mã Lai, cả ba kéo vào sân một cái thùng nặng đựng hàng lậu mang từ Cảng Said đến. Họ buông nó xuống, trong thùng lổn nhổn xì gà cùng với lụa Nhựt Bổn. Một đám đàn bà nhà quê bu quanh cái thùng, và hai mụ Gypsy lang bạt, vòng đeo tay đeo chân khua leng keng, rón rén lại gần.

Lyubka quát: “Cút đi, đồ cặn bã!” rồi bà dẫn bọn đi sông đi biển tới bóng râm dưới cây keo. Họ ngồi xuống bàn. Yevzel mang vodka đến cho họ. Ông Trottyburn bày hàng của ông ra. Ông lấy trong kiện hàng ra các điếu xì gà và lụa mềm, cocaine và ly nhỏ uống rượu, lá thuốc Virginia chưa thái, và rượu vang đỏ sẫm ở đảo Chios. Mỗi món có một giá riêng, mỗi con số thoả thuận xong được cho trôi xuống họng bằng rượu vang Bessarabia có vị nắng và rệp. Hoàng hôn tràn qua sân, hoàng hôn trôi như làn sóng đêm trên sông rộng, và gã Mã Lai say khướt, rất đỗi tò mò, đưa ngón tay chạm vào vú Lyubka. Mới đầu một ngón tay, rồi lần lượt tới mấy ngón kia.

Đôi mắt vàng dịu dàng của gã lơ lửng trên bàn như cặp đèn lồng bằng giấy trong ngõ hẻm Tàu. Gã mở miệng hát nghêu ngao không rõ, và ngã lăn xuống đất khi Lyubka lấy nắm tay đẩy gã.

Lyubka nói với ông Trottyburn: “Thằng có văn hoá gớm! Thằng Mã Lai đó làm tui cạn sữa, còn thằng Do Thái kia thì cứ quấy rầy vì tui cạn sữa.”

Bà đưa tay chỉ Tsudechkis đang đứng trong cửa sổ giặt vớ. Ngọn đèn nhỏ phía sau gã toả khói trong phòng. Cảm thấy họ đang nói về mình, gã thò đầu ra cửa sổ và tuyệt vọng kêu gào.

Gã vẫy tay, gọi: “Cứu tui với, mấy người!”

Lyubka bật cười rồi quát lại: “Khép mõm lại, thằng bù nhìn giữ ruộng! Nhét cái vớ đó vô miệng!”

Bà ném một hòn đá vào lão già, hụt. Rồi bà chộp chai vang đã cạn. Nhưng ông kỹ sư trưởng Trottyburn giật cái chai, nhắm kỹ và ném nó bay qua cửa sổ mở.

Kỹ sư trưởng đứng lên, gắng kéo cặp chân say xỉn lại và nói: “Cô Lyubka, nhiều người đáng kính tới mua đồ của tui, họ tới đó nhe cô Lyubka, nhưng tui hổng bán cho họ, kể cả ông Kuninzon, kể cả ông Bat, kể cả ông Kupchik, hổng ai ngoài cô, vì nói chuyện với cô thiệt là vui.”

Và sau khi đứng vững trên cặp giò đe doạ hất ngã mình, ông túm vai hai đứa thủy thủ, một Ăng Lê và một Mã Lai, rồi cùng họ nhún nhảy qua mảnh sân lúc này đã giá lạnh. Ba nhân viên chiếc tàu Plutarch trầm ngâm lặng lẽ nhún nhảy. Một ngôi sao màu cam trôi xuống mép chân trời nhìn họ đăm đăm. Rồi họ cất tiền vào túi, khoác tay nhau đi ra đường, lắc lư như ngọn đèn treo lủng lẳng trên tàu. Ra đến đường, họ nhìn thấy biển, mặt nước đen của Vịnh Odessa, những lá cờ hiệu trên cột buồm dưới thấp, những ngọn đèn chiếu sáng trong vũng rộng. Lyubka đưa mấy ông khách nhún nhảy của bà tới góc đường, và khi còn một mình giữa đường vắng, bà bật cười rồi quay về nhà. Thằng nhỏ ngái ngủ mặc sơ mi vải in chờ bà về rồi khóa cổng. Yevzel đưa bà chủ số tiền thu được trong ngày, và bà mon men lên giường. Trong phòng, mụ tú bà Pesya-Mindl ngủ gà ngủ gật, Tsudechkis đang đung đưa cái nôi gỗ sồi bằng mấy ngón chân trần của gã.

Gã bế đứa bé ra khỏi nôi và nói: “Lyubka, bà tra tấn tôi, đồ vô ý thức. Nè, coi tui rồi học đây, đồ bà mẹ mất nết…”

Gã đặt cái lược răng khít lên vú Lyubka và mang đứa bé lên giường để bên cạnh bà. Đứa bé cố vươn tới mẹ nó, bị cái lược đâm, nó bắt đầu khóc. Khi đó lão già đẩy chai sữa tới nó, nhưng Davidka quay lưng lại cái chai.

Lyubka vừa thiếp ngủ vừa lẩm bẩm: “Ông làm bùa phép gì tui vậy, lão già bất lương?”

Tsudechkis nói: “Im đi, đồ bà mẹ mất nết! Im đi mà học nè, đồ quỷ tha ma bắt!”

Đứa bé lại bị cái lược đâm, khi đó nó vụng về cầm chai sữa và bắt đầu bú.

Tsudechkis cười nói: “Kìa! Tui cho con bà dứt bú mẹ rồi. Cố mà học lấy, đồ quỷ tha ma bắt!”

Davidka nằm trong nôi, bú chai, sung sướng phì phèo bọt mép. Lyubka tỉnh dậy, mở mắt, rồi lại nhắm. Bà thấy đứa con, thấy vầng trăng len vào cửa sổ, vầng trăng lủi qua đám mây đen như con bê đi lạc.

Lyubka nói: “Được lắm, Pesya-Mindl mở cửa cho Tsudechkis. Ngày mai để ổng ghé qua lấy nửa ký thuốc lá Mỹ.”

Hôm sau, Tsudechkis ghé lấy nửa ký thuốc lá Virginia chưa thái. Gã nhận thuốc, và mặc cả thêm một trăm gram trà. Một tuần sau, khi tôi tới tìm Yevzel để mua bồ câu, tôi gặp ông quản lý mới trong sân nhà Lyubka. Ông nhỏ xíu, như giáo sĩ Ben-Zkharya của chúng tôi. Tsudechkis là người quản lý mới. Ông làm quản lý đã mười lăm năm, và trong khoảng thời gian đó tôi nghe nhiều chuyện về ông. Và nếu có thể, tôi sẽ lần lượt kể bằng hết, vì những chuyện đó rất thú vị.

1924

 

Isaac Babel sinh năm 1894 tại Odessa, thành phố cảng bên bờ Biển Đen phía tây nam Ukraine ngày nay, trong một gia đình Do Thái nghèo. Năm 21 tuổi, ông tới St. Petersburg sống lang thang nghèo đói, trốn tránh cảnh sát của Sa hoàng vì không có giấy hộ khẩu mà dân Do Thái phải có. Gorky là người đầu tiên khuyến khích Babel bằng cách in hai truyện của ông trên tạp chí Letopis. Trong thời cách mạng và nội chiến, Babel giữ nhiều vai trò nhỏ, gia nhập kỵ binh, rồi điều hành một nhà in ở Odessa. Năm 1923, ông trở lại viết văn và gửi truyện đăng trên các báo định kỳ. Ông xuất bản hai cuốn Chuyện OdessaKỵ binh đỏ, và nhiều truyện và kịch bản. Ông bị bắt trong cuộc thanh trừng cuối thập niên 1930, và chết trong trại tập trung năm 1939 hay 1940, không rõ vì bệnh hay bị bắn.

 

Nguồn: “Lyubka the Cossack” (1924), bản dịch tiếng Anh của Walter Morison, trích trong Isaac Babel – The Collected Stories, do New American Library – Penguin Inc., New York, xuất bản tháng 5/1974. Bản dịch này có tham khảo bản tiếng Anh của Peter Constantine, đăng trên The Odessa Journal ngày 25/4/2021.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

bài đã đăng của Isaac Babel

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)