- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Nằm trong phòng cấp cứu, nghĩ về chị

Cậu em rể thả tôi xuống trước cửa vào khu cấp cứu. Lúc ấy khoảng 6 giờ sáng. Tôi bảo cậu về nhà vì chưa biết tình trạng ra sao, liệu có sẽ phải nhập viện. Khoảng 4 giờ sáng, tôi thức giấc thấy tức ngực bên trái, đo áp huyết, thấy vẫn cao một cách khác thường như hai ngày qua, mặc dù không còn chóng mặt và nôn mửa. Tôi quyết định gọi số y tá trực 24/7, kể tình trạng của mình hai ngày qua. Được khuyên nên đến phòng cấp cứu ngay–một việc lẽ ra tôi nên làm từ hai ngày trước. Như nhiều người may mắn ít khi bị bệnh và do đấy ít ra vô nhà thương, tôi có tật trì hoãn. Cô em thấy tôi lục đục nên cũng đã thức dậy nghe ngóng. Rồi cô đánh thức chồng dậy nhờ chở tôi đi.

Cô nhân viên trực có mang khẩu trang gọi hồ sơ bệnh lý của tôi trên máy vi tính đặt bên cửa ra vào, trước một hành lang xếp hàng chục cái ghế còn trống. Cô hỏi tôi tự nhắc lại tên tuổi ngày sinh cho chắc ăn, xong in tên tuổi tôi vô một cái giải mầu trắng tròng quanh cổ tay trái của tôi, kèm với một cái vòng mầu đỏ báo tôi bị dị ứng một thứ thuốc, và thêm một cái vòng mầu vàng có chữ “Risk” mà tôi không biết ý nghĩa nhưng cũng không hỏi. Một nhân viên khác chờ dẫn tôi vào một căn phòng còn trống gần đó, đưa cho tôi chiếc áo choàng bệnh nhân mầu xám nhạt nhàu nhò bảo tôi thay, rồi đi ra kéo hai cánh màn ngăn với hành lang bên ngoài. Tôi hơi ngần ngại nhìn chiếc khăn phủ giường bằng vải có in những cánh hoa nhỏ mầu xám cũ kỹ, thay vì một lớp khăn phủ bằng giấy có thể vứt bỏ sau đó, khác với những phòng khám bệnh tôi đã trải qua. Nhưng không thể đòi hỏi khác, tôi thay đồ xong leo lên nằm chờ trong ánh đèn trắng bệnh hoạn của nhà thương.

Hình ảnh chị nằm mê man trong một căn phòng cấp cứu nào đó cách nay ba tháng cũng ở vùng này, nơi tôi đang viếng, đến trong đầu tôi.

Hôm ấy, thấy chị không tới chỗ hẹn và sau khoảng nửa tiếng chờ, gọi điện thoại cũng không thấy trả lời, một người bạn tìm tới nhà chị. Gọi chuông cũng không thấy mở cửa, người bạn đi vòng ra cửa bếp nhòm vào thì thấy cánh cửa chiếc tủ lạnh đối diện với cửa sổ mở toang. Linh tính có chuyện không hay, chị bạn gọi cho cô thuê phòng. Cô này vội vàng về mở cửa vào thì thấy chị nằm sóng xoài trên sàn nhà. Chị mê man suốt mấy ngày sau đó.

*

Vào một tối gần nửa khuya cách đây trên 10 năm, lúc ấy tôi chưa thân với chị lắm, chị tới gặp tôi tại nhà một chị bạn chung trong căn phòng share của chị bạn này, nơi tôi tá túc nhân một chuyến ghé Quận Cam, Nam Cali.

Lúc ấy chị đang họp bàn với một số thân hữu ra một tờ nhật báo, mặc dù Quận Cam đã có một số nhật báo đang lưu hành. Tôi vừa về hưu được đôi ba năm. Chị muốn mời tôi cộng tác giữ một chân trong ban chủ biên.Vốn quen với lề lối làm việc tại các toà báo Mỹ và mặc dù hãnh diện được chị tới mời cộng tác, nhưng tôi thành thực nói với chị là tôi không đủ khả năng và cả bản lãnh đảm nhận vai trò là một thành viên trong ban chủ biên, nhưng nói sẽ thỉnh thoảng đóng góp bài vở. Chị có vẻ không vui lắm.

Trước khi chị ra về, tôi có hỏi chị tại sao chị ra tờ nhật báo. Tôi nghĩ chứ không nói ra, rằng báo chí đâu phải là sở trường của chị. Chị thành thực trả lời: “Để cho anh em họ có việc làm.”

Tờ báo, do chị đứng tên chủ nhiệm, ra được vài tháng thì đóng cửa. Nghe nói chị mất một số tiền lớn. Chị cũng chịu nhiều điều tiếng. Có người nói với tôi là chị háo danh. Tôi nghĩ họ không hiểu chị đấy thôi.

Để cho anh em họ có việc làm. Câu nói đeo đẳng tôi. Chị như vậy đó. Luôn nghĩ tới người khác. Tôi còn được nghe vài lần câu nói tương tự đó từ chị ở vài cảnh huống khác sau đó. Khiến có lúc tôi nghĩ chị đã từng bị lợi dụng. Có bảo thẳng với chị như thế thì chị chỉ cuời, nói thì đã sao, miễn là người khác vui là chị vui rồi. Như thể chị có nhu cầu được người khác cần tới mình. Như nhiều phụ nữ Việt truyền thống mà tôi biết, coi việc người-khác-cần-mình là ý nghĩa, gần như là một thứ sứ mệnh của đời mình.

Sau khi chị gặp hạn với tờ nhật báo, tôi đến chơi với chị thường hơn. Tôi nghĩ đây có thể là lúc chị cần tới bạn hơn. Dù vậy, tôi ngưỡng mộ và quý chị hơn, ở chỗ chị đã tự vực mình đứng dậy và tiếp tục cuộc hành trình. Dạo ấy, chị không chỉ bị thất bại với tờ nhật báo, mà cả với một đài phát thanh mà chị đã mua lại, vun sới gầy dựng, bỏ nhiều công của vào đó, để rồi thấy công trình của mình lọt vào tay người khác. Cái đặc điểm ở chị là chị không hề tỏ lộ cay đắng, không trách móc ai, ít ra theo nhận xét của tôi. Có lúc tôi nghĩ hoặc chị tự trọng, hoặc do tính kiêu hãnh, nên không chấp nhận làm một nạn nhân. Không chịu thua cuộc, chị lại gầy dựng một đài phát thanh khác, trong khi tiếp tục làm một tờ tuần báo dành cho phụ nữ. Tôi cũng có dịp tiếp tay tích cực hơn qua việc đóng góp bài vở cho tờ tạp chí này.

Chị và tôi trở nên thân nhau hơn từ đấy. Mặc dù tôi có vài anh chị em cũng cư trú ở Quận Cam, nhưng mỗi lần xuống đấy chơi, giống như Trần Mộng Tú vốn thân với chị trước tôi nhiều, tôi thường lê la ăn ngủ ở nhà chị phần lớn thời gian. Đôi khi nhằm lúc Tú và tôi cùng xuống chơi, bộ ba chị em đi chơi chung, ăn uống hàn huyên thật vui, như thể chị em ruột. Chị hay xưng chị và gọi Tú bằng em, nhưng lại chỉ gọi tôi bằng tên cúng cơm của tôi và xưng mình, mặc dù tôi thua chị tới sáu, bẩy tuổi. Thỉnh thoảng chị “lỡ” xưng chị với tôi, nhận ra, chị xin lỗi, tất nhiên là không cần thiết. Nhưng chị như vậy đó – ý tứ chi ly trong lời nói và sắc bén trong cái nhìn, nhiều khi chỉ là qua một cái liếc mắt. Có điều là một khi chị đã khuôn một cái nhìn về ai hay vấn đề gì như thế nào rồi thì nó trở thành một thứ định kiến, khó thay đổi. Giáo dục gia đình và nhiều năm làm cô giáo đã để lại nơi chị nhiều dấu ấn.

Ở chơi với chị, tôi có dịp biết nhiều hơn nữa về chị, và thêm cảm mến chị hơn. Chị sinh trưởng tại Huế, trong một gia đình gốc Bắc, nên chị nói được cả hai giọng Bắc và Huế trôi chảy. Chị có giọng nói trong, rõ ràng và mạch lạc, tiếng nôm na gọi là “ăn micro,” dễ nhận ra. Nhiều người ở Quận Cam đã từng nghe chương trình của chị khi nghe tiếng chị ở ngoài chợ, trong tiệm ăn hay trên đường phố thường nhận ra giọng chị ngay, chạy tới hỏi thăm, thấy chị vui lắm. Chẳng thế mà khi chị còn đang học trung học, nghe bạn bè rủ rê, đi thi xướng ngôn viên cho đài phát thanh ở Huế, được nhận vào liền, nhưng không dám nhận việc vì bố cấm.

*

Người y tá vén màn vào phòng, nối tôi vào máy tự động đo áp huyết và dưỡng khí. Anh tự giới thiệu tên là Rene, và là người trực ca bệnh của tôi. Tôi hỏi sẽ phải ở đây bao lâu để còn tiện cho vợ chồng cô em biết. Anh ta nói còn phải chờ kết quả của các thử nghiệm, nếu không có gì thì sẽ xong trong khoảng bốn tiếng. Ngay sau đó, một chuyên viên đo EKG đẩy xe khay trên đựng chiếc máy đo nhịp đập của tim vào phòng. Anh ta chào tôi, rồi xin lỗi, xong bắt đầu gắn khoảng chục miếng electrode trên ngực, cánh tay và ống chân tôi, rồi nối giây từ máy vào các miếng đó. Tiếng máy rè rất nhỏ khi in bản vẽ đường đo nhịp tim. Chưa đầy năm phút, anh chuyên viên EKG gỡ giây nhợ khỏi các miếng electrode nhưng vẫn để chúng lại trên người tôi, thu dọn đồ nghề rồi lẳng lặng đẩy xe ra khỏi phòng. Tôi biết có hỏi anh thấy gì trên bản in cũng vô ích, nên chỉ ngỏ lời cám ơn.

Tôi tiếp tục nằm chờ một lát thì một anh y tá đeo bảng tên Daniel RN mang vào một khay những ống và kim với bông gòn, nói cần lấy máu để thử nghiệm. Thường tôi muốn họ lấy máu bên tay trái, nhưng rất khó tìm ra mạch đủ lớn bên cánh tay trái, nên đành chìa tay phải ra. Ba, bốn ống máu đường kính bằng ngón tay dài 5 inches sẽ được thử nghiệm xem mọi bộ phận trong cơ thể tôi có hoạt động gì bất bình thường. Xong, Daniel dán băng keo xung quanh ống rút máu trên cánh tay bên phải, nói sẽ cần rút máu nữa. Tới phiên cô y tá Camelia RN vào, trao cho tôi một túi ny lông trong đựng lọ lấy nước tiểu để thử nghiệm. Rồi tới phiên anh chuyên viên Dennis chụp X-ray với một cái xe kềnh càng, nhưng ít ra bệnh nhân không phải tới phòng chụp như trước — truớc? chắc là lâu lắm rồi vì suốt cuộc đời trên ba phần tư thế kỷ tôi có cái may mắn không phải đặt chân tới nhà thương thường. Một đôi lần phải vô phòng cấp cứu vì nhịp tim bất thường, thử nghiệm này khác, rồi được cho về. Mẹ tôi qua đời trong khi ngủ, có lẽ vì tim, một năm sau ngày Miền Nam mất, ngập những thương nhớ sầu muộn về một nửa đám con cháu đã phiêu bạt nuớc ngoài và cả một nửa còn lại điêu đứng trước cuộc đổi đời. Nên tôi cứ lo xa, mặc dù nghĩ cứ như bà ra đi lặng lẽ như vậy lại hay, đỡ phải lay lứt, phiền hà tới con cái.

Còn lại một mình, tôi lại nghĩ tới chị. Lẽ ra lần này xuống Quận Cam tôi ở chơi với chị như mọi lần trước. Rồi hai chị em rủ nhau đi ăn sau khi dự Việt Film Fest vào tháng 10 như mọi năm. Nhưng vì đại dịch Covid, năm nay hội phim này chỉ có vài buổi chiếu drive-in, còn phần lớn là xem trực tuyến. Xem phim drive-in sẽ là một kinh nghiệm mới, mặc dù đây là một sinh hoạt đã lỗi thời từ lâu tại Mỹ, song nhờ đại dịch Covid-19, nó đang được làm sống lại ở vài nơi, kể cả một chương trình drive-in để xem Hoà Nhập Cùng Van Gogh/Immersive Van Gogh hồi tháng Năm năm ngoái ở Toronto. Tôi nghĩ chắc chị sẽ thích kinh nghiệm ngồi trong xe xem phim trên màn ảnh lớn ngoài trời. Chị vẫn thích trải nghiệm cái mới, mặc dù ở chị là “những miếu đền.”

*

Chị có một thân thế khá đặc biệt, nghe như chuyện tiểu thuyết. Mẹ chị nguyên là một cô gái quê giúp việc trong một trong những đồn đỉền của bố chị. Bố chị, một thương gia khá uy tín, có hai vợ, cả hai bà cùng không sinh được đứa con nào. Nhưng khi thử mẹ chị thì bà sinh cho ông ba người, duy có người thứ hai là con trai, nên được bà Cả đem về nuôi như thể con mình. Người con gái đầu chết sớm sao đó, chị kể mà tôi không nhớ chi tiết. Khi chị ra đời không ai buồn để ý, và mẹ chị do đấy được quyền nuôi chị, nhưng không được phép nhận là con. Chị gọi mẹ là chị, ăn ngủ với và quanh quẩn cả ngày bên mẹ, mãi tới năm bẩy, tám tuổi mới biết đó là mẹ mình. Cũng vậy là người anh của chị. Cậu ấm được nuông chiều, đâm hư, hống hách. Một bữa tức giận vì mâm cơm “chị người làm” dọn không vừa lòng, cậu hất nguyên mâm cơm xuống đất. Ông quản gia nhìn thấy, gọi cậu ra một chỗ, cho cậu biết là chị người làm chính là mẹ cậu. Sự thật quá phũ phàng khiến cậu ấm giận bỏ nhà ra đi và nhập ngũ, thề không nhìn lại những người đã nói dối cậu. Mãi nhiều năm sau anh mới quay lại nhìn nhận mẹ ruột, nhưng không nhìn bà mẹ Cả.

Chị kể với tôi, mấy lần, hồi chị còn học trung học, chị bắt đầu làm thơ viết truyện. Có lần nghe bạn bè rủ rê, chị gửi một truyện ngắn dự thi tới một tờ tạp chí ở Sài Gòn. Chẳng dè trúng giải nhất. Hai nhà văn Thanh Nam và Tô Kiều Ngân mang giải thưởng ra tận Huế trao. Họ được ông bố chị tiếp đãi rất trịnh trọng, và nhận giải thưởng hộ chị. Khi khách về rồi, ông cụ mới gọi chị ra nhận phần thưởng, gồm những gì chị nói mà tôi quên rồi. Rồi cụ nói, “Viết thế đủ rồi, nghe con. Lo mà học hành đi.” Chị nghe lời, gác bút sang một bên từ đấy.

Tuy thế, ông cụ chị rất quan tâm tới việc học của con gái, khuyên chị học để cho có một nghề, để sau này lỡ có gì thì có cái để nuôi con, không phải đi bước nữa như nhiều người đàn bà thất học khác, vì cần nơi nuơng tựa do thiếu học và khả năng kiếm sống. Nhờ vậy mà chị học xong sư phạm môn Pháp văn. Rồi có người hỏi cưới, bị mẹ áp lực, cho rằng đàn bà con gái không có chồng là “bất túc,” thế nên, thương mẹ, chị lấy chồng, một ông luật sư. Họ vào Nam sinh sống, rồi cuối cùng lập nghiệp ở Sài Gòn.

Cuộc hôn nhân kiểu chồng chúa vợ tôi không hạnh phúc ấy kéo dài đuợc khoảng chục năm. Sau khi chị sanh cô út, tổng cộng trước sau là bốn cô, sau đôi ba lần sẩy thai và một cậu con trai không nuôi được, ông chồng chị một bữa bảo chị “trả lại tự do” cho ông. Chị kể là chị “mừng hết lớn,” bèn xúc tiến đơn xin ly dị ngay lập tức, mặc dù những can ngăn của vài nguời bạn của chồng cùng trong ngành luật. Chị tiếp tục đi dậy nuôi con.

Rồi biến cố 30 tháng Tư, 1975 xẩy ra. Gia đình chị kẹt lại. Không thể cộng tác với chính thể mới, và nhờ ông anh đã sinh sống ở Mỹ từ trước 1975 gửi đồ về, chị mang bán bớt để nuôi mẹ và các con. Chị xoay sở gửi được cô con thứ hai đi vuợt biển và thoát. Đến khi gửi tiếp cô con lớn thì không may thuyền cháu bị lật ngay khi còn trong sông, cô bị chết đuối cùng với nhiều người khác. Chị phải lặn lội đi tìm xác con và chôn đỡ ở một nghĩa trang gần đó, chờ khi nào có cơ hội sẽ về cải táng hốt cốt (một việc chị đã hoàn tất nhiều năm sau đó). Nghe chị kể cô rất thiêng, không chỉ thỉnh thoảng về “thì thầm” với mẹ, mà còn “giúp” vài người địa phương, nên họ đã lập miếu thờ cô.

Sau tai nạn của cô lớn, theo lời khuyên của ông anh, chị chờ ông xin đoàn tụ để đi theo ngả chính thức. Vào giữa thập niên 1980, chị được gọi đi phỏng vấn. Ông chồng cũ lúc ấy đang tá túc ở nhà chị vì sau khi đi tù cải tạo về, ông không có chỗ ở, nên chị thấy tội nghiệp cho ở nhờ. Khi biết chị sẽ được đi Mỹ, ông năn nỉ cho đi theo. Chị kể là hai người ban đêm bàn chuyện nhỏ to với nhau, bà mẹ sợ chị trở lại với ông, nên đã lên tiếng can ngăn, sợ lửa gần rơm, mặc dù xưa chính bà là nguời thúc đẩy chị lấy ông ta. Chị nói cho mẹ an tâm, là mặc dù chị có xin với nhân viên phỏng vấn Mỹ cho ông ta cùng đi theo, lý luận là mặc dù đã ly dị nhưng con chị cần có cha, sang Mỹ rồi thì ông ta sẽ phải đi đường ông, và đã được bên Mỹ chấp thuận. Và chị lo được cho ông chồng cũ đi theo sang Mỹ.

*

Viên bác sĩ trẻ gốc Á châu bước vào phòng, mang khẩu trang như mọi người, nên tôi chỉ thấy được đôi mắt sáng và mái tóc ngắn đen, dáng nhỏ và gọn trong bộ đồng phục mầu xanh nước biển của bệnh viện. Ông kéo ghế ngồi xuống bên giường, tự giới thiệu là bác sĩ trực ca bệnh của tôi. Ông dùng ống nghe nghe ngực và lưng tôi. Ông nói đã xem qua các kết quả thử nghiệm, nhận thấy tôi thiếu potassium, đã bảo y tá lấy thuốc đó, cũng như thuốc cho chứng thyroid. Ông hỏi tôi có dùng aspirine 81 mỗi ngày, tôi đáp không vì tôi bị dị ứng với thứ này. Ông nói sẽ cho tôi thuốc uống kèm để không bị dị ứng. Ngoài ra, ông nói ông không thấy có gì khác thường, kể cả kết quả thử máu xem có bị đau tim. Tuy nhiên, tôi vẫn cần chờ hai tiếng nữa và cần thử lại vài thứ cho chắc ăn.

Tôi nhìn bảng tên Viet Tran MD trên ngực áo viên bác sĩ, đọc thành tiếng. Ánh mắt nhìn tôi cười: “Bác là người Việt hả?” Bác sĩ Việt hỏi tôi qua khẩu trang. “Thấy tên bác nên không nghĩ bác là người Việt.” Chúng tôi bắt chuyện. Sang đây hồi nào? Còn nói được tiếng Việt không? Dạ, con HO, sang với bố lúc 12 tuổi. Tôi nghĩ bụng: thêm một thành quả tốt đẹp cho chương trình di dân HO của Mỹ. Tôi nghe biết nhiều con cái tù cải tạo diện HO sang đây nhiều người đã thành đạt, nên danh nên phận, và tôi không khỏi hãnh diện. Tôi bảo còn nói được tiếng Việt là giỏi. Viên bác sĩ, trên đường rời phòng, dừng lại vui vẻ khoe, “Còn làm cả thơ nữa cơ ạ!” Tôi trố mắt: “Wow! Vậy sao!?”

*

Sang Mỹ năm 1985, chị cặm cụi đi làm nuôi mẹ và ba con. Các cô đều học hành thành đạt. Cô lớn thành dược sĩ, cô thứ hai làm y tá, cả hai đều đã có gia đình, được chị giúp tiền cọc mua nhà riêng. Riêng cô út học luật xong, ra hành nghề đâu được 10 năm. Một hôm, sau khi đi hành hương cuốc bộ 500 miles dọc theo The Camino de Santiago ở bắc Tây Ban Nha, cô mang về tặng mẹ bức bản đồ nổi có núi non trùng điệp của phần đất mà cô đã đi qua, tuyên bố cô sẽ sang Ấn Độ tìm đường đi tu. Chị không cản, nhưng hai người chị của cô út không có vẻ hưởng ứng. Chị kể với tôi bằng giọng bình thản, nhưng vẫn chứa lo âu tự nhiên của một người mẹ. Tôi nói với chị là tôi thực tâm thán phục quyết định của cô út, khen cô không đi theo con đường mòn của xã hội, của những lễ nghi ràng buộc xã hội, hoặc của thứ tình cảm cá nhân vốn chi phối đời mỗi chúng ta khi còn trẻ, khiến ta mất đi khả năng làm chủ chính đời mình. Với tôi, tên cô là Camino, tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là con đường, là đạo. Lần nào thăm chị, tôi cũng hỏi thăm cô Camino. Tôi nhớ một bữa chở chị tới một tiệm có dịch vụ gửi tiền qua Western Union để gửi mấy trăm Mỹ kim cho cô để cô chữa cái lưng đau vì một lần bị té sao đó tại thiền viện. Trở lại xe, chị chui vào ngồi lặng im. Tôi cảm được chị đang nghĩ tới con gái ở một chốn xa xôi đau đớn một mình. Gần đây tôi nghe biết sau một thời gian tu tập sự, cô Camino đã được nhận vào tu chính thức.

Con cái khôn lớn, có đời sống riêng, chị về hưu và bắt đầu sống toàn thời cho giấc mộng đầu đời: đó là viết. Chị viết miệt mài, đủ loại, phần lớn tùy bút, truyện ngắn, loại tâm tình. Văn của chị bóng bẩy, văn hoa. Chị còn gỡ rối tơ lòng cho nhiều người nữa, đã hẳn là dựa vào các kinh nghiệm cá nhân. Trần Mộng Tú thì cứ khuyên chị viết về bà mẹ của chị. Chị lần lữa, nói rồi sẽ làm. Dù vậy, chị cũng kể nhiều chuyện về đời mình và có liên quan tới mẹ trong một số bài viết. Và về ông anh hơn chị mấy tuổi mà chị săn sóc như săn sóc một cậu em. Lần đầu tiên và duy nhất tôi nghe chị khóc thành tiếng qua điện thoại trong một cuộc điện đàm với tôi. Chị thương lo cho ông anh ở xa lớn tuổi, bị bệnh và không được chăm lo chu đáo lắm.

Tôi nghĩ giá chị cứ chuyên chú vào viết lách thì hay hơn. Khổ nỗi chị luôn muốn làm cái gì mà chị có thể qua đó giúp “cho anh em họ có việc làm” nữa cơ. Và giúp cộng đồng nữa. Có lẽ do gốc nhà giáo, chị có một quan tâm đặc biệt đối với thế hệ trẻ gốc Việt, luôn muốn làm cái gì đó để giúp họ không quên nguồn gốc. Một lần vào cuối năm đầu của đại dịch Covid, sau khi xem một phim thực hiện khá công phu của Ai Cập về buổi lễ khá hùng vĩ, rầm rộ và tốn kém, đầy mầu sắc cổ xưa, chỉ để di chuyển trên 100 cỗ xác ướp của các vua chúa từ cả trên 3000 năm trước Tây lịch sang viện bảo tàng mới xây, thấy hay nên tôi chuyển cho chị xem cho vui.

Cuốn phim có vẻ đã gây xúc động nơi chị. Chị gọi tôi cám ơn, nói cảm nghĩ của chị về cuốn phim, xong hỏi tôi, đại ý, là lịch sử Việt Nam cũng hào hùng lắm, mình có nên làm một phim đại khái như vậy để cho con cháu mình biết tới nguồn cội đó. Tôi bật cuời, hỏi lại chị là ai sẽ làm, lấy tiền đâu ra, và mấy ai sẽ xem. Lẽ ra tôi đã không nên nói thêm, nhưng đã lỡ nói. Tôi bảo chị phim đó Ai Cập họ làm để quảng cáo cho kỹ nghệ du lịch đang bị ảnh hưởng trầm trọng bởi đại dịch Covid-19 đấy thôi. Song tôi rất vui thấy chị thích. Chỉ sau khi chuyện trò với chị xong tôi mới thực thấm mối quan tâm tới tiền đồ dân tộc của chị. Và hơi ân hận đã để cái nhìn thực tế của mình có lẽ đã làm chị cụt hứng.

Tôi sẽ nhớ mãi những buổi tối ở nhà chị, chị đi làm phát thanh, tôi nằm nhà đọc sách. Có khi tôi thức tới khi chị về vào lúc đã thật khuya, để cùng đi bộ quanh cư xá với chị hồi chị còn cư ngụ trong một khu cư xá. Có khi tôi ngủ mất đất. Chừng thức dậy sau nửa đêm để vào thăm phòng tắm, thấy chị lui cui ngồi truớc máy computer nơi phòng ăn, lóc cóc đánh máy dịch bài vở cho tờ báo phụ nữ. Tối nào cũng vậy, tới hai, ba giờ sáng. Tú và tôi giục chị buông tờ tạp chí vì thấy chị đã lớn tuổi và cực quá, mà chị không chịu. Mãi sau có người muốn mua, trả 2,000 Mỹ kim, tôi bảo chị nhận giá tượng trưng là $1, để tờ báo không bị tiếng là chỉ đáng giá $2,000. Chị nghe lời, nhưng vẫn ái ngại về việc vài người bị mất ít lợi tức từ tờ tạp chí, như huê hồng quảng cáo, gói gửi báo, chẳng hạn. Chị cũng tiếc một số độc giả mua báo dài hạn, có người ở tận bên Âu châu.

Người mua tờ tạp chí ra báo được đâu đúng một số thì buông, vì không kham nổi chuyện bài vở, làm chị tiếc hùi hụi, đôi khi nói xa xôi như ngầm trách Tú và tôi xúi chị buông tờ báo. Chị vẫn tiếp tục các chương trình phát thanh của chị. Chị còn nhận dịch tài liệu, thông cáo, vv. cho cơ quan Cảnh sát Quận, nói không có nhu cầu tiền bạc song “để chia việc cho những người cần.” Chị còn làm phát thanh tuần một lần, mà chị nói là miễn phí, cho một vị giám sát quận trẻ gốc Việt mà chị cho là đã làm nhiều việc hữu ích cho cộng đồng, “nên mình cần phải tiếp tay.”

*

Người y tá trở lại rút máu thêm lần nữa, nói để thử xem có dấu vết bị đau tim. Tiếp theo là anh chuyên viên EKG vào đo nhịp đập của tim thêm một lần nữa.

Tôi ở trong phòng cấp cứu như vậy đã khoảng ba tiếng. Dù vậy, chị vẫn kiên nhẫn đâu đó trong phòng với tôi.

*

Tình bạn giữa chị và tôi ấm áp, tốt đẹp cho tới đôi ba năm trở lại đây, khi chị trở thành người nhiệt thành ủng hộ ông Donald Trump, và có vẻ chịu ảnh hưởng đậm bởi các thuyết âm mưu. Chúng tôi vẫn liên lạc, thăm nom nhau, chia sẻ những chuyện văn học nghệ thuật và các vấn đề giáo dục, xã hội, song rất gượng nhẹ ý tứ đối với nhau, tránh để không đụng chạm nhau. Một lần, chị đang làm dở một chương trình hội thoại trên radio qua iPhone với một nhóm bạn ở Miền Đông khi chị chui vào xe tôi lúc ấy đã mở máy chờ để cùng đi tiệm ăn tối. Tôi nghe một giọng đàn ông nói trong điện thoại khen đài Fox News là đài phát thanh tường trình tin tức mà theo ông là trung thực nhất, chị ý tứ ngắt lời người đó, nói qua chuyện khác, rồi kết thúc chuơng trình hội thoại, chào tạm biệt thính giả, và tắt máy.

Trong chuyến xuống San Diego thăm nom bà chị vừa goá chồng sau trên 60 năm chung sống vào tháng Hai năm 2021, tôi ghé thăm chị vài ngày. Tôi nhận thấy chị gầy hơn và có nét buồn, kể cả khi chị đã trang điểm. Có người hỏi tôi, vì biết tôi thân với chị, là tại sao chị vẫn cuồng nhiệt ủng hộ ông Trump, nhất là sau biến cố các phần tử cực đoan tấn công Điện Capitol hôm 6 tháng Giêng năm rồi. Tôi nói tôi không biết. Tên ông không hề được nhắc tới trong các cuộc chuyện trò giữa chúng tôi. Chị có nói trong một điện thư là chị đứng ngoài hành động nổi loạn đó, nhưng vẫn có vẻ tin là chuyện đó không dính dáng gì tới ông Trump. Tôi ước gì tôi có đủ can đảm để hỏi chị tại sao ông Trump lại chiếm được lòng yêu mến ấy của chị. Tôi ước gì tôi có đủ khả năng để thuyết phục chị là chính trị Mỹ thay đổi giới cầm quyền mỗi bốn hay tám năm, kể cả chính sách và đường lối, nhưng tôi tin chắc chị cũng đã dư biết như thế. Thực tình là tôi không dám hỏi.

Biết chị quan tâm tới các vấn đề phụ nữ, tôi mua tặng chị cuốn hồi ký của Melinda Gates, “The Moment of Lift: How Empowering Women Changes the World” (2019). Định là khi chị đọc xong thì sẽ cùng nhau thảo luận. Nhưng rồi thấy chị im. Gần đây, nhân trò chuyện về việc chia tay giữa bà Melinda và chồng, tỉ phú Bill Gates, tôi tỏ ý thất vọng khi chị cho biết đã vất cuốn sách đang đọc vào thùng rác sau khi nghe, qua một trong những thuyết âm mưu, là Bill và Melinda, đã dùng công ty Bill & Melinda Gates Foundation của họ tiếng là làm việc từ thiện song là để khống chế việc sản xuất thuốc ngừa dịch toàn cầu nhằm làm lợi cho công ty của họ. Dù vậy, tôi bảo chị là bà Melinda tuy vậy đã từ lâu đứng ra thiết lập vài công ty riêng và sẽ vẫn tiếp tục theo đuổi các công trình giúp phụ nữ tại các quốc gia chậm phát triển có đời sống tự lập; và cuộc chia tay của hai vợ chồng tỉ phú này có lẽ sẽ không gây cảnh hưởng tiêu cực nơi công trình của bà Melinda. Chị viết trong điện thư ngỏ ý xin lỗi về “hành động [vất sách] nông nổi” và tỏ ý an tâm là bà Melinda vẫn sẽ tiếp tục các công trình giúp đỡ phụ nữ.

Lần cuối chị gọi tôi là hồi giữa tháng Sáu năm ngoái — hiếm khi chúng tôi gọi nhau để chỉ nói chuyện vu vơ. Chị khoe là tối hôm trước chị đã vào được Netflix và mở xem phim “The Kindergarten Teacher” mà tôi giới thiệu với chị. Chị nói chị cảm được tâm trạng cô đơn của cô giáo không có ai hiểu cô, và cô tìm thấy ở cậu bé thi sĩ thần đồng một tri kỷ, một người mà cô cần phải cứu giúp để giữ cho nguồn thơ tiếp tục tuôn chảy và cô giữ việc chép và lưu lại những vần thơ hồn nhiên dung dị và cũng bí ẩn đó. Và cô đã vuợt khỏi cả khuôn khổ luật lệ để làm cái việc bất thường là “bắc cóc” cậu bé. Để rồi cuối cùng cô đành đầu hàng, trả lại cậu bé cho gia đình và để cảnh sát dẫn độ cô về tội bắt cóc trẻ con. Ngồi ở băng sau của xe cảnh sát ở cảnh cuối cùng, cậu bé bất chợt kêu lên: “Em có một bài thơ…” Nhưng cô giáo tri kỷ của cậu bé không còn ở bên để giúp chép lại hộ cậu bài thơ đó. Chị kể lại cảnh cuối đó trong phim với giọng xúc cảm, như chính đó là tâm trạng của chị. Chị tâm sự lâu nay chị sống trong khuôn khổ đặt định của lễ giáo, và cho người khác, không thực sự cho mình, như vậy đã thành nếp. Tôi nhân cơ hội nói đời chúng mình đứa nào cũng chỉ còn lại vài năm, ráng sống cho mình, thoát ra khỏi những ràng buộc lề thói xã hội, tôn giáo, đảng phái, và chỉ nên dùng tính nhân bản, tinh thần tôn trọng sự thực làm nền móng để nhìn các vấn đề.

Tôi có hẹn với chị tháng Mười sẽ xuống để cùng đi dự Việt Film Fest, mà năm trước vì đại dịch Covid nên đại hội phải hủy bỏ. Hẹn nhau đi xem Hội Phim Việt đã thành cái hẹn hàng năm của chúng tôi từ nhiều năm nay. Cũng thành nếp là cơ hội cùng sau đó chiêm nghiệm về những mảnh đời Việt trong nước cũng như ở khắp nơi trên thế giới qua các tác phẩm điện ảnh, đặc biệt là loại phim tài liệu. Và cũng đồng thời “Để yểm trợ các em trẻ,” như chị vẫn nói.

Chị nói chị chờ tôi xuống. Vài tháng qua mau lắm, chị cười ròn rã bảo tôi.

*

Bác sĩ Việt vào phòng cho tôi biết là các thử nghiệm lần thứ hai đều cho thấy không có vấn đề gì, và kết qua thử máu cho thấy không có dấu vết của một cơn động tim. Ông trao cho tôi bản tóm tắt ca bệnh của tôi. Tôi liếc thấy áp huyết đã trở lại bình thường đối với một nguời đã lớn tuổi, 132/66. Bác sị Việt cho biết tôi có thể về. Tôi ngỏ lời cám ơn ông bác sĩ con-HO-vẫn-nói-được-tiếng-Việt-mà-còn-làm-thơ-nữa. Tôi vẫn chỉ thấy cặp mắt của anh ta.

Tôi thay đồ, nhìn quanh truớc khi rời phòng cấp cứu. Không thấy chị đâu hết.

*

Được biết chị bị hôn mê, ít hy vọng khỏi và trở lại bình thường tại bệnh viện, sau vỏn vẹn chưa tới một tuần kể từ ngày chị bị đột quỵ. Sau, bác sĩ còn cho biết thêm chị cũng bị động tim nữa. Mặc dù lớn tuổi, chị đã không hề phải dùng một trong những thứ thuốc mà hầu như mỗi người ở tuổi chúng tôi đều thế nào cũng phải cần tới, để trị đôi ba chứng trong “ba cao, một thấp.” Tin chị bị hôn mê làm các bạn chị bàng hoàng, hụt hẫng, sững sờ.

Trần Mộng Tú, trong lúc chờ giờ lên đường ra phi trường để đáp chuyến bay xuống Quận Cam thăm chị lần cuối, viết điện thư cho vài thân hữu:

“Con gái chị Hà, tối qua gọi nói là Bệnh Viện chỉ cho: con/chồng vào thăm và chỉ có 2 người được vào 2hrs/1 ngày.

Các cháu ghi tên cô mà họ không cho vào.

BS nói chỉ trong 1,2 hôm nữa là chị Hà sẽ tự đi, […] nên các cháu sẽ đợi 2 ngày nữa.

Tang gia sẽ không có Cáo Phó. Trước khi thiêu chỉ có các con cháu, anh ruột chị Hà và cô Tú viếng, không có bạn hữu, báo chí, truyền thông gì cả. Tro sẽ mang ra biển. Xin cầu nguyện cho chị Hà đi an bình.”

Tang gia sẽ không có cáo phó. Không có gì hết, như xã hội đòi hỏi phải như vậy mới đúng lề thói. Chị muốn và chọn như vậy – ra đi lặng lẽ, không ồn ào, phiền toái tới ai hết.

Tự dưng tôi mỉm cuời. Kể từ ngày bố chị, sau khi nhận giùm chị giải thưởng hạng nhất cho một bài chị viết từ các nhà văn Thanh Nam và Tô Kiều Ngân đã cất công mang ra từ Sàigòn, đã gọi chị ra và trao lại cho chị, và nói: “Viết như thế đủ rồi, nghe con.” Từ đấy chị khép mình vào khuôn khổ xã hội đặt định. Khi trò chuyện trên điện thoại với nhau lần chót, chị cũng đã lại kể lại giai thoại ấy. Cả đời chị, chị đã khép mình vào khuôn khổ, nề nếp, sống cho người khác, thân và nhiều lúc cả sơ. Chỉ trước cái chết chị dứt khoát chọn ngay cho mình: không cáo phó, không có trò viếng quan tài, không đưa đám, không bất cứ mọi thủ tục thói thường. Không gì hết. Thân hữu nhiều người sững sờ. Vài người gọi giây nói cho tôi. Tại sao lại thế? Nhưng tôi biết chị đang mỉm cuời mãn nguyện truớc sự lựa chọn duy nhất và cuối cùng cho mình.

Chị Bùi Bích Hà đã thênh thang ra đi vào giữa ngày 14 tháng 7, 2021, hưởng thọ 84 tuổi.

[TD2021]

bbh

Chị Bùi Bích Hà tại cửa vào rừng cổ thụ gỗ đỏ Calaveras Big Trees, Bắc Cali, ngày 10 tháng Mười Một, 2015. Tuyết rơi đêm trước, nắng lên sáng hôm sau biến tuyết thành đá, đường đi trở nên trơn trượt, nên chuyến thăm rừng của đám cao niên chúng tôi hôm ấy phải bãi bỏ, chỉ biết đứng ở cửa rừng nhìn vào. Bây giờ thì anh linh chị thênh thang tha hồ thăm viếng bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. (Ảnh Trùng Dương, 2015)

_______________________

Nghe chính chị kể chuyện đời mình:

Oral History of Bui Bich H
Narrator: Bui, Bich-Ha
Interviewer: Vo Dang, Thuy
Date of Interview: 2012-07-23
Permanent Link To This Item: http://hdl.handle.net/10575/3273

bài đã đăng của Trùng Dương

1 Comment (Open | Close)

1 Comment To "Nằm trong phòng cấp cứu, nghĩ về chị"

#1 Comment By Cao Đắc Vinh On 17/01/2022 @ 9:43 chiều

Buồn vì câu chuyện của cô Hà nhưng vui vì chị Thái mạnh khỏe. Rất thú vị đọc lại những kỷ niệm một thời đã qua. Cảm ơn chị Thái