- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Một thời điêu linh (kỳ 4/4): Đồi Dó – Núi Dài

Đồi Dó – Núi Dài

Hậu thức giấc với ký ức nguyên vẹn một khoảng đời kỳ lạ vừa trải qua. Thời gian ấy cũng chỉ tương đương một giấc mộng bảy ngày tại bệnh viện huyện. Trấn và anh được đám người Dao cứu khỏi cơn lũ vì vướng vào một rào chắn kẽm gai cạnh con suối A Mai. Tuy không chết, nhưng hai người đều bất tỉnh. Trấn tỉnh dậy ngay sau khi được cứu. Trong khi đó, Hậu bị thương nơi đầu và chìm vào cơn coma mất một tuần lễ. Bác sĩ và y tá bệnh viện không tin rằng Hậu có thể sống, và nếu may mắn sống, trí nhớ sẽ không được bình thường sau khi đã hồi phục.

Trấn chăm sóc Hậu như một người anh của mình, dù Trấn vẫn có bổn phận phải giám sát anh, trước khi trả anh về trại lao động kế tiếp. Khi Hậu kể chuyện mình sống với bộ tộc Khỉ với mọi người, lúc bấy giờ, bác sĩ và y tá lén lút cười với nhau rồi kết luận, “Đầu óc Hậu có vấn đề!” Vấn đề này, anh đã bị chấn thương sọ não và may mắn sống sót. Hậu được đưa lên bệnh viện tỉnh để chụp X Ray, nhưng kết quả bình thường, không hề có máu đọng trong vỏ não. Tuy nhiên, trong não của anh, người ta có thể thấy được những điểm đen như hạt mè. Khoảng chừng chục hạt. Sự hiện diện của các điểm đen, có vẻ là một thứ sẹo vô hại không biết có từ lúc nào? Hậu được đưa trở về với lời phê của các bác sĩ chuyên môn thần kinh là bình thường. Hậu nhìn bộ quần áo mình đang mặt rất mới, bèn hỏi hai y tá chăm sóc anh về bộ quần áo vải đay của mình. Cô y tá cười bảo, “Bộ quần áo cũ của anh rách nát sau cơn lũ đã vứt đi rồi, anh lưu luyến làm gì!”

Sau khi suy nghĩ mãi, Hậu giải thích giấc mộng như là một khoảng thời gian mình đi xa. Anh phủ nhận mình bị vong kiện[1] do chấn thương đầu, mà hoàn toàn làm chủ chính mình với những sự kiện nối tiếp nhau sau khi bị cơn lũ cuốn đi. Chỉ với việc sống ba năm trời ở bộ tộc khỉ, anh có thể cho rằng mình đi vào một không gian khác, với một chiều kích thời gian tương ứng. Tuy nhiên, điều làm Hậu buồn bã là khi anh nhớ đến Vàng và ánh mắt của cô trước khi đưa anh vào thư viện. Đôi mắt ấy dường như là lời vĩnh biệt, vì cô biết rằng, một khi Hậu vào thư viện, chính là con đường đưa Hậu trở về khung không thời gian của riêng anh. Tuy nhiên, khi cố nhớ lại, Hậu cảm giác mình đã trải qua một giấc mộng dài. Anh nhớ được điểm thiếu sót mà anh phân vân khi bước vào thư viện là bộ tộc đã cứu anh không hề có chữ viết hay sách vở gì liên hệ. Thư viện là một cách nói về một bảo tàng lịch sử được vẽ hay điêu khắc trên đá của tiền nhân. Đối với thế giới hiện hành, bộ tộc kia chỉ là biểu tượng, tổng hòa giữa hai yếu tố ảo và thực. Lúc này, Hậu nhớ lại điển tích “Giấc Hòe” hay “Giấc Kê Vàng” mà anh đã học từ những năm trung học rồi tự hỏi, “Ngay lúc này đây, có thực hay cũng chỉ là ảo đối với một chiều kích không thời gian khác?”

Nhưng điều anh tin chắc, thực tại này là thế giới điêu linh của mình. Ba tháng nằm an dưỡng trong bệnh viện, Hậu vẫn nhận thư của gia đình do chị anh viết. Tuy nhiên anh vẫn phải đi tiếp con đường của mình vì hợp đồng chưa hết hạn. Trấn chuyển anh về đồi Dó, cách bệnh viện Huyện sáu mươi cây số đường núi. Lần này, Trấn và Hậu đi bằng xe vận tải chở gạo đến trại Dó. Trại nằm trên một ngọn đồi cao, trồng rất nhiều cây Dó nên có tên là trại Dó. Dó là loại cây có thân cao cứng, vỏ dày, dùng để làm giấy. Giấy làm bằng vỏ cây Dó có phẩm chất cao, nên giá đắt. Thế nên, nghề trồng Dó được khuyến khích bởi tính chất thương mại của nó.

Hậu về trại Dó, tiếp tục điều dưỡng thêm hai tuần lễ rồi tham gia lao động. Trại có tám mươi người, gốc gác như anh. Họ đã từng tham gia cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt và đang sống ở đây. Hôm ngồi nghe một diễn giả thuyết trình về lịch sử dân tộc, Hậu thấy lại trong đầu mình từng tấm tranh trong thư viện của bộ tộc Khỉ và người diễn giả chỉ là người thuyết minh về những hình ảnh ấy. Ông ta thực sự là người cổ xúy cho truyền thống và vinh danh truyền thống bằng vào những chiến công của quá khứ. Lúc ông nói đến một khúc quanh lịch sử dân tộc, Hậu nhắm mắt lại, tự dưng anh thấy lại các bức phù điêu bằng đá và còn thấy cả mình đang bắn giết kẻ thù. Anh giật mình khi người bạn đang ngồi bên cạnh, đập vào vai anh.

Anh đã ngủ gục và thấy lại một chút quá khứ. Khi vị diễn giả đến gần, hỏi cảm nghĩ của anh về đề tài ông ta thuyết trình, Hậu trả lời:

“Tôi không thấy gì mới lạ về truyền thống dân tộc dù ông nói rất hay!”

“Thế anh muốn cái gì mới hơn truyền thống?”

“Tôi không biết, nhưng điều ông nói chỉ là sự lập lại những điều mà bao nhiêu thế hệ đã nói. Có gì mới lạ về niềm tự hào kiêu hãnh được nhai đi nhai lại, để rồi đất nước cứ mãi chịu tới chịu lui nỗi điêu linh chiến tranh. Tôi cứ nghĩ, tại sao chúng ta không từ nỗi đau thương điêu linh của quá khứ mà có một định hướng mới cho tương lai có tính đột phá, cách mạng?”

“Không phải chúng ta đang sống dưới sự lãnh đạo cách mạng hay sao? Ngày hôm nay, chúng ta đang xây dựng một xã hội mới từ đống tro tàn cũ, từng bước đưa dân tộc vào kỷ nguyên mới. Với tôi đây cũng là tính đột phá.”

“Điều này là ông nói, các vị lãnh đạo nói, chứ không phải nhân dân nói. Tôi cũng hy vọng điều ông nói là điều mới lạ, chứ không phải những điều lập lại cái cũ qua cách thức ngụy biện của mình.”

Vị diễn giả tròn mắt nhìn Hậu. Ông ta không tin rằng, anh lại có thể phát biểu những câu như thế. Hậu thản nhiên nói tiếp:

“Điều tôi nói, có thể ông không hiểu ngay, nhưng dần dần sẽ hiểu. Tôi không hề phủ nhận truyền thống, vì nếu phủ nhận nó, đồng nghĩa với phủ nhận gốc rễ của mình. Nhưng tôi không chấp nhận việc lợi dụng truyền thống để che dấu lợi ích phe nhóm. Điều này dường như đã xảy ra liên tục trên thân thể của dân tộc, để rồi trở thành căn bệnh mãn tính. Nếu muốn nói tính cách mạng đột phá, hãy chữa khỏi căn bệnh mãn tính ấy, bằng cách bỏ truyền thống vào viện bảo tàng và hướng tới tương lai bằng tính thực tiễn cách mạng. Hãy tận dụng những điều tốt đẹp nhất mà nhân loại đã gặt hái đến ngày hôm nay, áp dụng những điều tốt đẹp ấy vào đất nước chúng ta. Có nghĩa là, chúng ta đã nối tiếp truyền thống bằng phương tiện hữu hiệu nhất. Đấy mới là cuộc cách mạng thực sự.”

Vị diễn giả lại lấy quyển sổ con ra ghi chép. Dường như những điều phát biểu của Hậu làm ông ta thích thú. Điều này, đối với Nam lại khác. Buổi tối trước khi đi ngủ, Nam nói nho nhỏ với Hậu:

“Anh phát biểu nghịch tai. Không cần biết anh đúng hay sai, nhưng chê bai truyền thống, đúng là tự anh đã đưa mình vào ngõ cụt.”

“Tôi chỉ nói đúng điều mình nghĩ và không quen nói dối.”

“Tôi chỉ sợ anh không ở đây lâu. Nơi này sống khá yên ổn và bình lặng. Chúng ta biết sống thì sớm được về với gia đình. Anh có vợ con chứ?”

“Cám ơn anh, tôi còn độc thân và tôi phải biết tự kiềm chế mình hơn!”

Nam nói không sai. Bốn ngày sau, Hậu được ban giám thị trại gọi lên nói chuyện. Anh được khuyên viết kiểm điểm thời gian qua, và thu hoạch được gì sau bốn năm lên rừng. Hậu ngoan ngoãn về lán trại với tập giấy dày cộm trên tay. Anh nhớ, mình đã viết những gì về bốn năm trước và tự thấy không có gì mới lạ hơn như đã từng viết trước đây. Đến đoạn bị lũ cuốn, Hậu mô tả đầy đủ những gì anh trải qua trong bộ tộc khỉ sau khi được họ cứu. Viết đến đâu, anh nộp đến đấy cho cán bộ lúc năm giờ chiều mỗi ngày.

Buổi sáng ngồi uống nước trà, nghe chim hót. Lòng Hậu thanh thản, anh nhìn những cụm mây trắng bay ngang đồi Dó, như bóng dáng ước mơ thời trẻ. Bên ngoài lán trại, một đoàn người rồng rắn ra đồng làm việc, khiến anh nhớ những ngày lênh đênh trong xứ khỉ.

Hôm qua có một người nào đó bảo, “Người ta yêu thương anh bằng lòng độc ác của mình!” thì Hậu mới nhớ đến Tánh, vào một buổi tối ngồi trong hầm đá, ăn khoai nướng nói với anh, người chỉ là sói với người[2].

Đêm ấy, Hậu ôn lại quãng đường mình đã đi qua. Sáng hôm sau, anh chấm dứt bản thu hoạch với câu, “Tôi không còn nhớ gì nữa để viết thêm!”

Hai ngày tiếp theo, Hậu được chuyển sang phân trại cách đồi Dó nửa cây số và được phân công nuôi cá trắm cỏ. Mỗi sáng, Hậu đi cắt cỏ hoặc hái lá sắn, đem về rải xuống ao. Buổi trưa, Hậu đến khu cán bộ làm tạp dịch như dọn kho, bửa củi hoặc cân khoai cho vào kho dự trữ. Thường thường, cuối buổi tạp dịch, anh được các bà vợ cán bộ đưa cho gói trà, túi thuốc lào hoặc cân đường mật. Một hôm, Mùi, cô con gái vị trại phó đang học lớp 12, nhờ anh giải dùm một bài toán đại số. Hậu hỏi Mùi, “Làm sao em biết được tôi có thể giải được bài toán này?”

“Bố em bảo đọc hồ sơ, anh từng là thầy giáo dạy toán cấp ba.”

“Em liệu nếu tôi dạy em, có ảnh hưởng gì đến quá trình làm việc của tôi hay không?”

“Không có gì phải lo! Em đã xin bố em và em cũng tin rằng, hết chiến tranh thì không còn gì để mà nghi kỵ lẫn nhau.”

“Làm sao em hiểu được! Bài toán hòa bình khó giải hơn bài toán đại số này nhiều!”

Mùi cho rằng Hậu đùa. Tuy nhiên, anh vẫn dạy cho Mùi cách giải bài toán bằng nhiều cách. Buổi chiều hôm ấy về trại ngủ, Mùi có cho người mang đến cho Hậu hai quả trứng gà luộc. Anh đưa cho người bạn nằm bên cạnh, đang làm tạp dịch cho ban giám thị trại, ăn một quả. Sơn làm việc ở phân trại này hơn sáu năm. Anh ta chỉ ở một trại và cho Hậu biết, mùa thu này anh sẽ về với gia đình. Sau khi ăn trứng xong, hút một điếu thuốc lào, Sơn nói với Hậu:

“Tôi lên rừng là cố gắng bơi qua một dòng sông. Bên kia bờ là gia đình. Cho đến hôm nay, tôi biết mình sắp gần đến đích. Tôi cố gắng, dù biết mình không khéo, nước sẽ cuốn ra biển.”

Hậu im lặng nghe Sơn nói xong, thở dài bảo:

“Tôi không khác chi anh. Chỉ tội dòng cuồng lưu đưa tôi đi mỗi lúc một xa nguồn. Tôi cũng cố gắng, nhưng ngặt nỗi, một quê hương lại có nhiều phân giải lịch sử. Do đó, đôi lúc tôi có cảm giác mình bị ruồng bỏ.”

“Anh nói đúng. Từ khi chiến tranh chấm dứt, tôi luôn có mặc cảm bị quê hương xua đuổi.”

Sơn im lặng một lúc rồi đọc:

Quê hương đó chưa một lần về lại

Dòng sông xưa giờ chắc đã xa nguồn

Một lần hẹn để rồi ra đi mãi

Ở phương này sương gió giục mưa tuôn[3]

Nghe Sơn đọc thơ, Hậu nhớ lại những bài thơ anh đã chôn phía sau nhà. Dĩ vãng khơi lại một thời xáo trộn tuổi trẻ, đồng thời lại miêu tả ốc đảo thực tại cũng không kém phần điêu linh. Đêm ấy, Hậu ngủ với những giấc mơ chập chờn trên nền đất quê hương, mơ hồ lẫn lộn một quê nhà đã bị xua đuổi và một xứ sở có những con người lông vàng óng ả mở rộng vòng tay đón anh.

Khi gặp Mùi lần thứ hai tại nhà của viên phó giám thị, Hậu có dịp quan sát cô ta. Da trắng, mũi thẳng, mắt hơi xếch, cằm vuông, Mùi có nét đẹp rắn rỏi của những cô gái miền núi. Nhìn Mùi, Hậu nhận ra, anh dường như quên mình là đàn ông đã lâu. Hậu giải bài toán cho Mùi, theo cách anh thường dạy cho những học trò không giỏi toán. Tuy nhiên, Mùi cũng tiếp thu được và dành cho Hậu sự kính trọng hơn bình thường của một học trò đối với một người đang trong tình trạng thử thách công dân. Giúp Mùi một tháng, viên phó giám thị gọi Hậu lên văn phòng, đề nghị anh kèm toán cho Mùi trong suốt niên học. Hậu từ chối, vì hình dung rất nhiều điều phức tạp sẽ xảy ra nếu anh nhận lời. Viên phó giám thị như ngạc nhiên khi thấy Hậu lấy cớ mình quên quá nhiều nguyên lý toán học bởi bị thương ở đầu, ông ta bảo:

“Đây là cơ hội tốt cho anh về nhiều mặt. Tuy nhiên, tôi cho anh suy nghĩ ba ngày, sau đócho tôi biết quyết định của mình.”

Hậu về lán, không thèm suy nghĩ vì anh đã có quyết định dứt khoát. Anh cũng không cho ai biết vì sợ họ lại trách anh không biết nắm lấy thời cơ. Ba ngày sau, khi mời tách trà, nghe Hậu kiên quyết từ chối dạy Mùi học, viên phó giám thị nghiêm mặt hỏi:

“Anh không muốn trau dồi lại trí óc để không bị mất đi bao vốn liếng kiến thức đã gặt hái được hay sao?”

“Tôi lại mong mình quên hết để làm lại từ đầu.”

Dường như viên phó giám thị hiểu ý của Hậu. Ông ta gật đầu và Hậu ra về. Lúc anh đi ngang qua sân bóng đá, thấy Mùi lấp ló sau gốc xoan đưa tay vẫy, Hậu tiến đến gần. Mùi nói ngay:

“Hình như anh ghét em lắm phải không?”

“Tôi ghét em làm gì?”

“Thế sao anh không thể chọn việc dạy học? Vừa giúp cho em và cả anh nữa?”

“Tôi quyết định như thế là vừa giúp cho cả tôi và em đấy. Tự em không hiểu mà thôi. Tuy nhiên, tôi tin rồi sau này em sẽ hiểu.”

Mùi lắc đầu vùng vằng bỏ đi. Hậu về lán, nằm gác tay lên trán, cho rằng mình sáng suốt khi không chọn giải pháp lệ thuộc. Với anh, lệ thuộc sẽ dẫn tới việc đánh mất mình, cũng như bắt đầu của việc tự hủy diệt mình.

Một tháng sau, Hậu nhận giấy chuyển trại. Anh chuyển đến Núi Dài, nơi mà trước kia, anh đã được chỉ định để rồi chưa đến nơi, đã bị cơn lũ cuốn trôi với Trấn. Lần này, không phải đi bộ mà Hậu được xe đưa đến nơi.

Trại núi Dài nằm lưng chừng núi và dãy núi đúng như gọi, dài khoảng hai trăm cây số, hết sức hiểm trở. Cùng đến trại với Hậu, có Quang, tình nguyện đến núi Dài, vì anh ta giỏi nghề mộc. Tại núi Dài, có một xưởng đóng đồ gỗ cao cấp. Gỗ quí trên núi Dài bạt ngàn và nguồn lợi của ngành gỗ đã đem đến cho trại sự thịnh vượng. Tuy nhiên, vị trí của trại quá hiểm trở, nên dường như xa cách dân chúng. Hằng tháng, chỉ có những chuyến xe đến trại chở sản phẩm về xuôi theo hợp đồng mua bán.

Đến trại, Quang về khu trại mộc, Hậu về lán giữa ở và chưa được phân công nhiệm vụ gì. Trại núi Dài có tất cả 350 người. Trại viên 270 người và ban giám thị cùng nhân viên quản giáo 80 người. Ba ngày sau, Hậu được đưa vào làm việc trong thư viện. Ngày làm tám giờ, lo sắp xếp sách theo thứ tự và cho trại viên cũng như nhân viên ban giám thị mượn sách. Quản thủ thư viện là một nhân viên thuộc ban quản lý trại, phụ tá quản lý là một trại viên tên Hồng. Hậu được phân công giúp việc cho Hồng. Cả thư viện có 700 quyển sách, đa số rách nát, có lẽ do cho mượn quá nhiều lần. Sách rách phần lớn là tiểu thuyết. Sách nghiên cứu chừng 100 quyển, còn mới, vì chả có ai mượn đọc.

Hậu thỉnh thoảng lấy sách ra đọc. Chưa đến mươi dòng, anh gấp sách lại, trả về kệ. Thực ra, những quyển sách sau chiến tranh không có gì đáng đọc. Hậu hiểu những quyển sách ấy muốn nói gì. Ngày còn bé, anh rất mê sách cho đến khi chiến tranh bùng nổ. Sách đã một thời định hướng tuổi trẻ và cũng một thời làm cho tuổi trẻ vong thân. Có rất nhiều bạn bè anh sau khi đọc sách, nhân cách thay đổi và anh cũng nhận ra chiến tranh là thủ phạm chính. Nối kết những dữ kiện hình thành cuộc chiến tranh, Hậu khám phá người ta có thể sử dụng tham vọng, và kết hợp tham vọng với truyền thống mà không đếm xỉa gì đến nổi khổ đau lập đi lập lại trên thân thể của dân tộc.

Niềm kiêu hãnh đã che lấp nỗi bất hạnh. Thực ra chính sự mâu thuẫn tiềm tàng ấy không làm cho dân tộc tiến lên mà chỉ làm dầy thêm quá khứ một cách mù quáng. Hậu nói với Hồng điều ấy, anh ta nghiêm mặt lên giọng bảo, “Anh chỉ lôi thôi vớ vẩn. Bổn phận của anh là cố gắng làm tốt chính mình để sớm hòa mình với dòng sống dân tộc.”

Cách nói của Hồng không khác gì một cán bộ quản giáo sau chiến tranh. Hậu gật đầu đồng ý và trở về các kệ sách tiếp tục công việc hằng ngày của mình.

Sáng ngày hôm sau, lúc bước vào thư viện làm việc, Khánh là quản thủ thư viện gọi Hậu đến bàn làm việc của anh ta bảo, “Anh phải thay đổi cách suy nghĩ, không khéo công lao lên rừng đổ sông, đổ biển hết! Ráng đọc sách nhiều để thấm nhuần chính sách.” Cách nói của Khánh hàm ý đe dọa.

Hậu biết Hồng báo cáo với Khánh. Anh tự bảo mình nên cẩn thận và cách tốt nhất là tìm cách rời khỏi thư viện. Yêu cầu của anh được thỏa mãn. Hậu chuyển sang lán trại 3 ở cùng Thịnh, một trại viên gốc sĩ quan trinh sát cũ hàng ngày vào rừng lấy củi, nứa hoặc giang về cho trại. Mỗi buổi sáng, sau tiếng kẻng dài, Hậu cùng Thịnh vác dao quắm vào rừng đốn củi. Đến chiều, bốn giờ rưỡi, về trại. Thịnh quen việc, hướng dẫn Hậu dần quen với công việc mới. Hai người làm việc trong phạm vi bốn cây số vuông và được khuyên không nên đi xa, bởi có thể gặp thú dữ ở khu vực xung quanh.

Có rất nhiều khỉ trong rừng. Nhìn chúng chạy nhảy, đu trên các tán cây, làm Hậu nhớ đến bộ tộc Khỉ. Dẫu là cơn mơ đi nữa, thế giới ấy vẫn cho anh một ấn tượng lưu luyến sâu đậm. Hậu theo Thịnh vào sâu trong rừng chặt giang. Giang kết với nhau thành từng lớp dày như loại dây leo. Đứng trên lớp giang dày cheo leo trên cao, Hậu nhìn núi non hiểm trở chung quanh vùng núi Dài, anh chợt nghĩ đến những trận đánh chống quân xâm lược phương Bắc của tiền nhân. Đất nước chỉ có một, mà con người tự chia phe nhóm để theo đuổi thứ lịch sử của riêng mình!

Buổi trưa, Thịnh và Hậu ăn cơm dưới tàng sấu già trong rừng. Ăn vắt cơm mang theo với cá khô xong, Thịnh và Hậu uống trà rồi hút thuốc lào. Thịnh cho biết, anh sống ở núi Dài đã bốn năm và sẽ trở về nhà vào năm tới. Trong thời kỳ chiến tranh, Thịnh là trinh sát của một đơn vị bộ binh miền Trung, cấp bậc trung úy. Anh có gia đình, một vợ, một con trai. Vợ con đã đi nước ngoài ngay những ngày đầu chấm dứt chiến tranh. Anh có bị tù, nhưng một thời gian, chuyển sang diện lao động phục hồi sau chiến tranh và được đưa về núi Dài từ bốn năm trước. Hậu hỏi:

“Anh bị tù ở đâu?”

“Ở vùng cực Nam, nhưng một thời gian ngắn chuyển về Trung và ra đến đây.”

“Không phải bây giờ anh hưởng qui chế khác trước sao?”

“Tù hay phục hồi có khác gì đâu! Chỉ là cách nói. Vấn đề không ở chỗ này.”

Hậu thầm nhận ra, Thịnh cũng khá hiểu biết. Tuy nhiên, anh tự bảo mình cẩn thận. Hậu hỏi:

“Anh có nhận tin tức vợ con?”

“Thỉnh thoảng qua thư từ gia đình chuyển. Tuy nhiên, tôi không quan tâm. Nhiều việc ngoài tầm tay của mình.”

Hậu tiếp tục làm việc với Thịnh hai tuần thì công việc quen dần. Thời gian từng bước làm nhạt nhòa những hình ảnh một thời nơi xứ khỉ. Nhiều đêm, dù tiếng kẻng báo ngủ đã đánh từ lâu, trong bóng đêm, Hậu vẫn cố nhớ lại một vài chi tiết khi anh sống trong bộ tộc khỉ, nhưng càng ngày anh càng bất lực.

Hai năm sau, Hậu chỉ còn nhớ Vàng và ánh mắt của nàng trước tảng đá thư viện. Ngoài ra, Hậu không còn nhớ gì nữa. Nhưng điều đặc biệt trong trí óc của Hậu không mất hẳn những hình ảnh ấy, một khi anh lập lại một công việc gì có nét tương tự thì hồi ức liền trở lại với anh.

Năm thứ ba tại núi Dài, Hậu chuẩn bị đón Tết với Thịnh. Thịnh bảo, anh đón cái Tết cuối cùng ở đây. Sang tháng Ba, Thịnh về với gia đình. Hậu vui vẻ vác từng bó nứa lớn về lán trang trí căn phòng của mình và Thịnh. Hai bàn tay anh chai cứng, khuôn mặt đen đủi vì những ngày phơi nắng trên vạt rừng giang.

Năm nay, Thịnh và Hậu mang về trại rất nhiều măng cây giang. Măng giang ngon không kém măng lưỡi lợn. Nhưng lấy được măng giang rất khó và ra Giêng, Hậu cố gắng phát quang một vạt giang bên dưới thung lũng. Anh định phơi một mớ măng giang khô làm quà cho gia đình Thịnh.

Cố gắng của Hậu làm anh ngã từ trên cao xuống bờ vực. Anh may mắn níu lại được những bện giang đan chằng chịt phía trên bờ. Hậu bị gãy ống chân trái và được đưa về bệnh viện huyện để băng bột. Một tuần lễ sau anh về trại tịnh dưỡng. Suốt thời gian này, Thịnh thường thăm Hậu, bởi anh ta đang chuẩn bị về với gia đình.

Một buổi chiều, Hậu có khách thăm. Trấn đến trại núi Dài, mang theo tờ giấy chuyển trại của Hậu về lại đồi Dó. Tại đấy, Hậu sẽ làm thủ tục trở về gia đình trong vòng sáu tháng. Trấn giải thích cho Hậu nghe như thế. Tuy nhiên, Hậu chưa thể đi được; và Trấn phải chờ mười ngày sau, Hậu mới có thể lên xe để trở về trại đồi Dó.

Trước khi rời trại núi Dài, Hậu đến nghĩa trang trại viên trên đồi trà phía sau trại, thắp hương từ giã. Anh đứng rất lâu trước năm mươi sáu ngôi mộ. Những người này, một thời cùng chung một chiến tuyến với anh. Tuy vậy, anh đã giải thích với Thịnh, “Tôi dị ứng, nếu không muốn nói là thù ghét với những chữ như, chung chiến hào, chiến tuyến, đồng đội, đồng chí, chiến hữu… Nó không chỉ làm cho tôi khó chịu, thậm chí đau đớn. Bởi vì nó mà dân tộc mãi điêu linh.

Về Trại Đồi Dó, Hậu nghỉ một tuần lễ, làm giấy tờ và trong thời gian này, anh đi thăm Mùi. Mùi lúc này làm cô giáo cấp hai của một trường huyện. Hôm gặp Mùi tại nhà, cô ta tỏ vẻ mừng rỡ đến nắm tay anh thân mật bảo:

“Anh Hậu sao đen quá vậy, râu tóc như dã nhân.”

Hậu cười nhận ra Mùi đẹp hơn xưa. Anh khen:

“Cô Mùi thật xinh xắn. Bây giờ có bài toán nào cần giải hay không?”

Mùi lắc đầu cười bảo:

“Thật ra cũng nhờ phương pháp giải toán mà anh dạy, em mới đậu được vào trường sư phạm. Hôm nào em mời anh một bữa cơm đền ơn. Anh về lại đây chắc sắp về với gia đình rồi phải không?”

“Đúng như thế, theo giấy tờ, có lẽ tháng Tám, tôi sẽ ra trại.”

“Anh có dự định gì không? Hay là ở quách lại đây, lấy vợ lập nghiệp luôn.”

“Tôi lấy vợ rồi! Ở trại núi Dài đấy.”

Hậu đùa nhưng Mùi ngạc nhiên tưởng thật:

“Thế anh có mang chị ấy về đây không?”

“Không. Cô ta còn ở trên rừng.”

“ Sao? Tại sao chị ở trên rừng?”

“Vì tôi là dã nhân nên vợ tôi là khỉ.”

Mùi cười, đến đấm vào lưng Hậu. Anh im lặng nhưng lòng tự bảo, nếu còn ở xứ Khỉ, không phải anh đã lấy Vàng làm vợ rồi hay sao?

Hậu về lán trại Đồi Dó, Nam và một số người quen đã chuyển sang phân trại 1, xa hơn ba cây số phía Bắc làm việc. Trại còn bốn mươi tám người. Không khí không khác năm Hậu chuyển về. Buổi sáng vẫn chim hót, mây vẫn bay ngoài cửa sổ. Mùa hè nắng chói chang và gió thổi ngang rừng Dó rì rào không ngớt những làn âm thanh bất tận.

Hậu về trại chừng mươi ngày, trại lại nhận thêm ba mươi trại viên. Những con người cần phục hồi sau chiến tranh. Tính ra, hòa bình đã tám năm mà vẫn còn những người cần phục hồi. Những hợp đồng ra đi phục hồi mang ý nghĩa chữa căn bệnh lịch sử. Hậu nghĩ như thế suốt tám năm trên rừng. Sau khi ký hợp đồng, những con người như Hậu bị cô lập, đưa đến một môi trường sống khác biệt để cải tạo bản thân. Bên thua cuộc phải được phục hồi, như chiếc xe bị hư cần sửa chữa mới có thể xử dụng lại được. Lịch sử cũng vậy, lịch sử là trái bóng bị rách do chiến tranh, phải vá lại mới có thể đá tiếp. Trái bóng lịch sử mỗi ngày một dày thêm và nhiều màu sắc. Cho đến hôm nay, nó quá nặng nề vì đã được vá và sơn sửa nhiều lần. Cứ như thế, trên sân bóng quê hương, biết bao lần quả bóng lịch sử dày cộm truyền thống kia được đem ra đá tới đá lui, và kết quả cuối cùng, bên thắng cuộc dọn sân, để chờ một cuộc chơi mới.

***

Hậu thức giấc nhiều lần vì bên tai, anh vẫn nghe vang tiếng bóng đá bình bịch. Hình như người ta đang có trận đấu mới? Hậu tức giận thét lên, “Tôi không muốn trận đấu nào nữa cả. Điều tôi cần là một quá bóng nguyên vẹn và một sân chơi mới.”

Sân bóng quê hương chỉ dùng để tranh hơn thua với kẻ thù xâm lược. Không bao giờ anh em sát phạt với nhau để có phe thắng phe thua, dẫn đến việc sơn sửa quả bóng lịch sử. Được như thế, dân tộc mới thực sự kiêu hãnh với nụ cười vì đã chấm dứt được sự nghi kỵ, hận thù, chia rẽ, đã từng bao lần làm đất nước khốn khổ điêu linh…

Hết


[1] Amnesia

[2] Homo homini lupus

[3] Thơ Dương Hoài

bài đã đăng của Lê Lạc Giao