Trang chính » Câu chuyện Nghệ thuật, Hội Họa, Email bài này

Vịn tay hội hoạ

0 bình luận ♦ 14.10.2021

 

TD tự hí họa, 1980

 

 

Viết cho các cháu nội, ngoại
—Lincoln, Purnell và Zeke

Trong một dịp trao đổi với thằng cháu ngoại sau khi nghe cháu ghi danh lấy một lớp vẽ, tôi kể với cháu về việc có một dạo tôi cũng vẽ, và vẽ đã giúp tôi tìm được sự yên tĩnh cho tâm hồn, cháu ngạc nhiên vì chả bao giờ nhìn thấy bà vẽ. Tôi hứa sẽ tìm lại những bức vẽ còn giữ đâu đó trong mấy hộp banker’s giấy tờ cũ để chia sẻ với cháu. Lần lữa mãi tới gần đây, bị tràn ngập bởi các tin tức thời cuộc và thiên tai vào mùa hè năm nay, 2021, tôi lục trong mấy thùng tài liệu cũ tìm lại những bức vẽ xưa như một cách giúp cho đầu óc bận rộn với chút dĩ vãng để quên đi phần nào thực tại bất an.

Chỉ khi hoàn tất công trình này, tôi mới sực thấy, lại một lần nữa, tôi đã vịn tay nghệ thuật để giữ cho mình sự quân bình tinh thần. Như đã từng làm nhiều lần trong quá khứ.

Sau đây là bản lược dịch bài sưu tập những bức vẽ của một thời để chia sẻ với mấy đứa cháu nội ngoại. Cũng như một cách thu vén lại những mảnh vụn rơi rớt của một quãng đời tưởng đã trôi vào quên lãng.—TD

* * *

Vào mùa hè năm 1980, Ông Bà quyết định dọn khỏi Sacramento lên miếng đất mới mua gồm năm mẫu Anh còn hoang dã thuộc vùng chân đồi trong Quận El Dorado, nơi có những ngọn đồi thoai thoải đầy cây sồi và thông. Ông Bà muốn nuôi bố mẹ các cháu—lúc ấy ở tuổi 13, 7 và 4–giữa thiên nhiên, xa khỏi đời sống thị thành nặng phần tiêu thụ.

Ông Bà xây một ngôi nhà một tầng rưỡi gồm ba phòng ngủ, hai phòng tắm, trên một quả đồi đã san bằng một góc, ngó xuống thung lũng Coloma bên dòng sông American River. Tại thung lũng này, vào giữa thế kỷ thứ 18, một thỏi vàng tìm thấy đã dẫn tới phong trào Gold Rush, và đã thay đổi California hoàn toàn sau đó.

Vì không sẵn tiền để hoàn tất xây cất một lúc, phải mất mấy năm ngôi nhà mới tạm xong để gia đình dọn vào sau một thời gian sống trong một cái trailer dài 24 feet. Trên, bên trái, là bản vẽ các mặt đứng (elevations) của ngôi nhà do Bà vẽ; và hình bên phải, ngôi nhà sau khi hoàn tất.

Lúc ấy Ông làm việc cho chính phủ liên bang tại một căn cứ không quân ở Sacramento, mỗi ngày lái xe đi về khoảng 80 dặm. Bà ở nhà trông nom việc nội trợ và đưa đón con cái đi học cùng các sinh hoạt khác. Để giúp qua thì giờ những lúc rảnh rỗi, ngoài viết bài cho các báo Việt ngữ hải ngoại, Bà quay sang vẽ, một cái thú Bà vẫn khi làm khi ngưng, không hề có ý khai triển thành một nghề.

Bà thích vẽ từ nhỏ. Thời Bà còn nhỏ đi học tiểu học, có giờ dậy vẽ nhưng chỉ dành cho con trai, dù thích vẽ hay không; con gái phải học khâu thêu–một điều khiến Bà bất bình, nên tự học vẽ lấy. Bà thường làm những truyện bằng tranh dựa vào truyện đã đọc hay phim đã xem. Và thường chắt chiu những tờ chương trình phim hồi ấy các rạp hát thường phát kèm với vé, có kèm theo hình ảnh rút ra từ trong phim để dựa vào đó vẽ lại. Có lần, khoảng 7-8 tuổi, Bà trải chiếu trước cửa nhà bầy những tập truyện mỏng đó bán cho trẻ hàng xóm. Lý do, Bà cần tiền mua giấy, mực để tiếp tục vẽ truyện.

Niềm thích thú vẽ vời đó ở với Bà tới sau khi xong trung học. Bà quyết định dự thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật mà không tham khảo ý kiến với Ông Cố, có lẽ vì nghĩ từ hồi nào tới giờ Cụ không phản đối việc Bà ham vẽ, có khi còn khoe với bạn bè của Cụ nữa, nên chắc không sao. Vả lại Bà muốn dành một ngạc nhiên cho gia đình, nếu trúng tuyển. Sau ba ngày thi, trong đó môn quan trọng và cũng khó nhất, nhưng lại là thích thú đối với Bà, đó là môn vẽ truyền thần với người mẫu thật, kéo dài hai ngày, Bà được chọn đứng hạn 10 trong số 20 thí sinh trúng tuyển. Hí hửng, Bà về khoe với gia đình, nhưng không được Ông Cố công nhận. Là đứa con duy nhất trong gia đình 11 người con—Bà là thứ bẩy–lần đầu đậu hai phần Tú tài I (sau khi xong lớp 11) và II (sau khi học xong lớp 12) theo hệ thống giáo dục khá khe khắt còn ảnh hưởng Pháp hồi ấy, gia đình trông chờ ở Bà theo đuổi một ngành học thực tiễn hơn và có thể kiếm ra tiền. Hội hoạ trong xã hội Việt hồi ấy, và cả trước đó, vốn vẫn được nhìn như một trò giải trí, không thể coi là một nghề. Vả lại, Ông Cố nói, ngành đó “không thích hợp với con gái.”

Sau khi thi trượt vào đại học Sư phạm, Bà ghi danh học Luật. Được hai năm, nhân một bữa theo bạn qua thăm trường Kiến trúc ở sau lưng trường Luật, thấy hay hay, lại đọc sách thấy nói kiến trúc là “nghệ thuật của mọi ngành nghệ thuật tạo hình,” Bà xin ghi danh học, nhưng cũng chỉ được hai năm. Vì hoàn cảnh gia đình, Bà phải đi làm. Song vì có nhu cầu diễn tả tâm tình mình nên Bà bắt đầu viết truyện. Dần dà, viết trở thành một nghề.

Vào những năm đầu tị nạn rồi sau đó tái định cư ở vùng chân đồi, Bà vẽ lại. Vừa để giải toả mối sầu xa xứ vừa để dễ dàng chia sẻ với các con những mẩu chuyện cổ tích, lịch sử Việt, và kể cho các con nghe những gì đang xẩy ra tại Việt Nam sau khi bị Cộng sản độc tài chiếm đóng khiến hàng trăm ngàn người đổ ra biển tìm đường tới tự do và đã bị thiệt mạng ra sao.

Vào giữa thập niên 1980 thì Bà ngưng không vẽ nữa sau khi quyết định trở lại trường học toàn thời, về ngành báo chí và công quyền.

Sau đây là một số bức vẽ Bà còn giữ được, gom lại trình bầy theo thứ tự thời gian với ghi chú, cũng là chia sẻ với các cháu tâm sự của Bà trong thập niên đầu của trên bốn thập niên sinh sống tại quê hương thứ hai.

 

Tranh hí họa, chân dung

Trong nỗi nhớ quê và mơ ước một ngày nào đó sẽ có dịp hồi hương, bà nhớ tới cũng giấc hồi hương của bao người phải bỏ quê cha đất tổ ở miền Bắc di cư vào Nam lánh nạn cộng sản vào năm 1954, Bà vẽ bức hí hoạ trên vào năm 1976, tựa là “Giấc mơ hồi hương.”

Vào mùa thu 1975, vừa chân ướt chân ráo tới Sacramento, Bà may mắn được nhận vào chương trình thực tập sáu tháng tại tờ báo địa phương, The Sacramento Bee. Sự may mắn này là do sự giới thiệu của vị giáo sư đại học tiểu bang tại Sacramento nay đã quá cố, Ted Britton — người đã lặn lội tới Sài Gòn vào những ngày xáo trộn cuối tháng Tư 1975 trước khi Cộng quân tiến chiếm Sài Gòn để giúp đưa một số người ông từng làm việc với ra khỏi Việt Nam. Tại tờ Bee, bà có dịp trải qua hai tuần tại Art Department. Trên là một vài bức phác hoạ chân dung Bà thực hiện vào dịp này.

Dưới là bức vẽ bằng than dựa vào một bức hình chụp hai con gái nhỏ, bằng máy hình Polaroid có hình xem liền khá tân tiến hồi ấy.


Sisters, charcoal, 1978

 

Bìa sách, dàn trang

Trên là hai bìa sách bằng than, trái, và vừa than vừa bút và mực, phải, do một cơ sở giáo dục đặt.

Mẫu bìa cho một cuốn sách của một người bạn.

    

Trái là dàn trang cho tạp chí Việt Nam Hải Ngoại đăng nhiều kỳ vở kịch ba màn Bà viết, tựa là Các Con Tôi Đã Về; bên phải là phác hoạ cảnh sân khấu cho vở kịch. Tưởng cũng nên ghi lại vài chi tiết bối cảnh sáng tác vở kịch này. Vào những ngày hoang mang cùng tột vào tháng Tư năm 1975 ở Sài Gòn, và như một cách tìm trú ẩn trước những bất ổn và băn khoăn đi-hay-ở trước tin Miền Nam có thể bị mất vào tay Cộng sản, như một cách chống đỡ cho một tâm trạng hoang mang hỗn loạn, bà giải khuây bằng việc sắp xếp trong đầu một cốt chuyện và các nhân vật–về một bà mẹ chờ các con về từ hai chiến tuyến đối nghịch nhau trong bối cảnh những ngày cuối cùng ở Sài Gòn. Bà tiếp tục tìm vào “nơi trú ẩn” đó suốt thời gian ở trong các trại tị nạn từ Guam qua Camp Pendleton, tới trại tạm cư “Hope Village” ở Weimar ở Bắc Cali, một cách để tự chống đỡ cho tinh thần của một bà mẹ độc thân với hai đứa con nhỏ trên bước đường lưu lạc. Gần ba năm sau, sau khi quyết định viết thành kịch cho lẹ, qua việc tự hướng dẫn cách soạn kịch dựa vào một vở kịch đã có sẵn của một kịch tác gia Mỹ mượn của thư viện, Bà hoàn thành vở kịch. Chủ đích chỉ là ghi lại một giai đoạn lịch sử trong đó mình là một chứng nhân, chứ không có ý định trình diễn. Vở kịch đó vẫn còn trong dạng tiếng Việt, hiện lưu trữ tại đây.

Dưới là một bức Bà tự hí hoạ cho một bài viết tựa là “Ăn Trưa Tại Sở” thực hiện khoảng 1980, khi Bà còn làm hoạ viên kiến trúc. Thước tam giác tròng cổ, hoạ đồ cuộn dưới nách kẹp với thước T, người phụ nữ tuổi ngoài 30 nhiều ước mơ trố mắt nhìn đống sách vở, bản thảo, bàn máy chữ phủ mạng nhện với chuột len lách khe này xó nọ, nghe lòng mình ngổn ngang. Đó là vào thời kỳ nhiều bất ổn của đầu thập niên 1980, và đối với người tị nạn Việt dạo ấy, còn thêm mối ưu tư khắc khoải về đời cuộc sống đen tối ở quê nhà đã đẩy hàng trăm ngàn tìm đường ra biển đi tìm một đời sống có nhân phẩm bất chấp hiểm nguy tới tính mạng. Hàng ngàn người đã bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, giết hại; hàng vạn ngàn người khác đã biệt tăm giữa biển khơi. Hàng trăm ngàn người sống vất vưởng tại các trại tị nạn.

Dưới, các mẫu phác họa cho vài trang báo, 1985.


Phác họa cảnh trí, kiến trúc


Phác hoạ bằng bút chì cảnh sẻ đồi làm nền xây nhà, 1981. Góc phải, sau mấy cây thông là chiếc trailer dài 24 feet, là nơi gia đình đã sống mấy năm trong khi xây nhà. Phía xa là cái nhà dựng tạm để cất đồ.


Một trong những giai thoại của gia đình trong thời gian này là về một biến cố suýt thành tai hoạ. Sau khi lên khung tầng chệt của căn nhà một tầng rưỡi, Ông chợt nhận ra cần phải hạ cây thông ở sườn đồi sau lưng ngôi nhà tương lai. Với sự tiếp tay của hai người hàng xóm tốt bụng, Al và Randy, mọi người dùng giây cáp cột vào cây để hướng dẫn cây đổ về phía xa khỏi khung nhà. Khi cây bị chặt đổ chỉ cách góc của khung nhà có vài inches. Hú hồn. Ảnh do Bà chụp, cũng như phần lớn hàng trăm bức ảnh Bà chụp suốt thời gian xây nhà Bà sẽ kể trong một bài khác.

 

 

Trái, sườn nhà gần xong, chờ lợp ván ép và ngói cùng là lên tường. Trong khi chờ xây nhà, Bà thường đặt bàn vẽ ở bên gốc cây sồi cỡ đôi ba trăm tuổi, cạnh nhà kho xây tạm để chứa đồ. Bức hình, phải, do Ông chụp lúc nào Bà không hay, 1982.

Vài bức phác họa kiến trúc cho ngôi nhà dự tính, song quá mắc để thực hiện. Trong thời gian này, Bà cũng thỉnh thoảng nhận vẽ đồ án nhà đơn giản cho hàng xóm.

Vẽ minh họa, truyện bằng tranh

  

Bà vẽ hai bức tranh trên về Hai Bà Trưng và Bà Triệu, ba vị nữ lưu nổi lên chống lại quân Tầu ở thế kỷ thứ Nhất và thứ Ba, trong khi kể các con nghe về hai giai đoạn lịch sử hào hùng này. Bà lớn lên với các vị nữ anh hùng nay trong tâm khảm, nhận thấy rằng đã có một thời người nữ trong xã hội Việt được đối xử bình đẳng, có cơ hội học hành phát triển khả năng để giúp đời thay vì bị khuôn vào vai trò làm vợ làm mẹ mà thôi trong bốn bức tường gia đình trong khuôn thước giáo điều Khổng Tử, mà, bà tin là, quân Tầu khi đô hộ Việt Nam cả ngàn năm đã mang vào áp đặt lên xã hội Việt vì họ vốn sợ tinh thần quật khởi của người phụ nữ Việt. Vì không được học hành nên người phụ nữ không có khả năng kiếm sống ngoài việc buôn bán vặt vãnh, và phải sống nhờ vả vào chồng con. Do đấy, Bà coi trọng việc học vấn vì đó là cái chìa khoá mở cửa vào một đời sống không chỉ độc lập về kinh tế mà còn cả trí thức, tinh thần.

Ngoài các tranh lịch sử, Bà cũng minh hoạ một số chuyện thuộc loại cổ tích dân gian cho các con xem, đôi khi gửi đi chia sẻ với thân hữu và báo chí Việt ngữ. Trong đó có tích Sơn Tinh Thủy Tinh. Những tranh này Bà vẽ trên khổ giấy viết thư 8.5 in. x 11 in. hay lớn hơn một chút, bằng mực và cọ (ink & brush).

Hồi ấy, vào đầu thập niên 1980, có một nhóm người Việt tị nạn nung nấu khát vọng giải phóng Việt Nam khỏi nạn cộng sản chuyên chính độc tài. Trong đó, ngoài một số cựu quân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hoà còn có một số trí thức và nhà văn. Họ lập ra một tổ chức gọi là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, sau này là Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, dẫn đầu bởi một vị nguyên là một tướng lĩnh trong Hải quân của Quân lực VNCH tên Hoàng Cơ Minh. Họ lên đường tìm đường vượt biên giới vào Việt Nam để liên kết với các nhóm kháng chiến khác trong nước. Không may là nhóm này bị tử trận trong một cuộc bị phục kích vài năm sau đó. Nhưng không vì thế mà khát vọng giải phóng và canh tân Việt Nam khỏi nạn công sản độc tài đảng trị đã ngưng mà còn tiếp tục, dưới nhiều hình thức khác.

Dù vậy, hình ảnh những người vợ thay chồng gánh vác gia đình, nuôi dậy con cái đã xúc động Bà. Họ giống như những người vợ Việt từ lâu đời trong một đất nuớc nhiều loạn ly. Tình cảnh này đã khiến một thi sĩ trong cổ văn Việt, Đặng Trần Côn (1710-1745), viết nên một áng thơ dài bằng chữ Hán–loại chữ viết thông dụng trong giới học giả Việt hồi đó–gồm 467 câu, tựa là Chinh Phụ Ngâm, mô tả nỗi lòng của một phụ nữ có chồng đi đánh trận nơi phương xa. Bài thơ được Bà Đoàn Thị Điểm (1705-1748), một trong những phụ nữ hiếm hoi có may mắn được học hành dạo ấy, dịch ra tiếng Việt.

Cảm kích truớc cảnh những người vợ hiện đại có chồng đi kháng chiến, Bà đem tập Chinh Phụ Ngâm ra chọn một số câu thơ để minh hoạ.

Mẫu flyer quảng cáo bộ tranh

Bà vẽ ba bộ tranh cả thẩy, một bằng bút chì, một bằng bút ngòi sắt với mực, và một bằng than. Có người khuyên nên vẽ bán, nên Bà soạn cái brochure bên trên cho bộ bằng bút và mực. Vì không hài lòng với bộ này, sau khi vẽ xong bộ bằng than, bà soạn cái brochure bên duới. Dù vậy, vì không có khả năng thương mại và thấy vẽ thích hơn, Bà bỏ ý định in tranh bán. Có lẽ đó cũng là lý do Bà lâu nay vẽ như một trò giải trí.


Trong bộ tranh Chinh Phụ Ngâm ấn bản bằng bút chì, đây là bản nguyên thủy duy nhất Bà còn giữ được. Bức vẽ mô tả người vợ ôm con bên khung cửa nhìn chồng theo đoàn quân lên đường tòng chinh. Góc bên phải là một phần của cái cối xay lúa xưa mà Bà còn nhớ được nhờ lúc còn nhỏ, khi gia đình còn ở Bắc, được cho về quê chơi thăm Bà Cụ Cố nội.

Các bức vẽ phác cho bích chương, biểu ngữ

Như Bà đã kể ở trên, vào nửa thập niên 1970 và suốt thập niên 1980, hàng trăm ngàn người Việt đã tìm cách trốn khỏi Việt Nam đi tìm tự do, đại đa số bằng đường biển, bất chấp hiểm nguy và nạn hải tặc cướp bóc, hãm hại. Theo một thống kê, có từ 200,000 tới 400,000 người bỏ mạng hoặc mất tích trên đường đi tìm tự do. Hồi ấy, sau khi chiếm được Miền Nam, đảng Cộng sản VN vừa siết chặt đời sống chính trị qua chiến dịch cấm và cả đốt các sách báo xuất bản trong 20 năm qua tại Miền Nam mà họ cho là đồi trụy phản động vì không đúng với đường lối chủ trương của họ, bắt bớ bỏ tù các văn nghệ sĩ Miền Nam cùng với quân dân cán chính của chế độ Cộng hoà cũ. Về kinh tế, họ mở chiến dịch triệt hạ nền kinh tế thị trường tự do, đẩy Miền Nam tới chỗ gần với nạn đói. Nhiều gia đình sốnt sót nhờ vào nhưng thùng đồ những người Việt tị nạn sống tại các quốc gia tự do gửi về cứu trợ. Động lực thúc đẩy làn sóng thuyền nhân vào cuối thập niên 1970 còn vì nhiều cha mẹ không đành lòng thấy con cái phải tiếp thu một nền giáo dục nhồi sọ nhằm gây căm thù, thúc đẩy bạo lực, và con trai vị thành niên của họ bị chế độ động viên đẩy ra hai mặt trận Cao Miên ở phía tây và chống Trung Cộng ở phía Bắc ngày sau khi chấm dứt cuộc chiến nhằm chiếm lĩnh Miền Nam.

Trong bối cảnh Việt Nam như vậy, Bà không khỏi lo cho những người thân còn kẹt lại ở Việt Nam, trong đó có Ông Bà Cố đã lớn tuổi, không có khả năng tài chính, sống bằng việc đem bán dần những món đồ trong nhà, trong đó có nhiều sách báo Bà bỏ lại, vì sau khi Bà ra đi, Ông Bà Cố dọn vô nhà của Bà ở. Cũng cần nói thêm là những sách báo bà bỏ lại hồi ấy khá có giá trị đối với những người ở Miền Bắc vì họ sống dưới sự cai trị của Cộng sản lâu nay không được đọc những thứ sách vở do những người có tự do sáng tác viết ra, hoàn toàn không có tính cách tuyên truyền giáo điều khô khan như sách vở của Miền Bắc, mà chứa chan tình người.

Bên dưới là một số tranh Bà vẽ phác để làm bích chuơng và biểu ngữ trong các cuộc biểu tình chống Cộng hồi đó, hoặc để giải toả nỗi lòng của mình.


***

Cám ơn các cháu đã đọc tới đây. Đây cũng là một mảnh hồi ký của đời Bà chia sẻ với các cháu. Coi những tâm tình và hình ảnh này cũng là một phần di sản của chính các cháu vậy.

Mặc dù những thăng trầm và những lần đổi đời, nhìn lại quãng đời đã qua ở tuổi gần 80 này, Bà cảm thấy thực ra mình “giầu có” với các kiến thức và kinh nghiệm đã thâu lượm được, và nhờ thế cũng hiểu biết hơn. Bà hy vọng các cháu cũng sẽ cảm thấy như thế một ngày nào đó, khi nhìn lại thời khoảng bất ổn hiện nay với đại dịch Covid và biến thể Delta đã ngự trị đời sống của chúng gần hai năm nay; những thiên tai bão lụt, hạn hán, cháy rừng ngày trở nên ngày một bất thường và trầm trọng hơn do ảnh hưởng của hiện tượng khí hậu thay đổi đang diễn ra không chỉ tại nước Mỹ mà cả tại nhiều nơi trên thế giới; và những khó khăn do chia rẽ trong nội tình xã hội nước Mỹ trong vài năm qua.

Nguyện cầu cho chúng ta sớm qua được giai đoạn nhiều khó khăn này, cho tất cả chúng ta biết bao dung hơn, có tinh thần vị tha và chấp nhận lẫn nhau hơn mặc dù những khác biệt. Liệu khao khát đó có là lý tưởng quá chăng? Bà tin là không.

–Bà thương các cháu nhiều, ngày 31 tháng Tám, 2021,
ngày Hoa Kỳ rút khỏi Afghanistan sau 20 năm tham chiến tại đây,
 ngày Bà thấy mình như “trở lại” Sài Gòn của 46 năm về trước …

[TD2021/08]

bài đã đăng của Trùng Dương

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)