Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Nghiên Cứu, Nhận Định, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Bốn mươi lăm năm thi ca Việt Nam

Lời xin lỗi từ Ban Biên Tập – Cuối tháng 11 năm 1975, Ban Báo Chí Hội Sinh Viên Việt Nam Hải Ngoại tại Sydney, Úc Đại Lợi, xuất bản tập “Thi Ca Việt Nam, 1930-1975” sau hơn bốn tháng sưu tầm, chọn lọc và chuẩn bị ấn loát. Theo lời giới thiệu tập thơ, đây là “một công trình chọn lựa những bài thơ tiêu biểu, và nổi tiếng nhất, của hơn năm mươi thi sĩ Việt-nam” trong những năm 1930-1975. Bài khai từ “bốn mươi lăm năm thi ca Việt Nam”, đăng lại đây, được viết bởi anh Võ Phước Long, nguyên trưởng ban Báo Chí và cũng chủ biên tập thơ. Ban Biên Tập damau.org đã tìm cách liên lạc anh Võ Phước Long để xin phép anh cho in lại bài viết này, nhưng chẳng may không có chi tiết anh đang ở đâu. Biết anh vốn là người hào sảng, vui vẻ chuyện thi ca, chắc anh không màng sự đường đột này. Đây cũng như là một lời xin lỗi đến anh.


bốn mươi lăm năm thi ca Việt Nam

 

Ngõ ban sơ …
… Hạnh ngân dài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua.

Bùi Giáng (Hoa Ngõ Hạnh)

 

 

Trong văn chương Việt Nam, có lẽ thi ca là hình bóng người ta nhìn vào bằng cặp mắt ưu ái nồng nàn nhất. Sự trọng vọng này – nếu đó được gọi như thế – biểu hiệu cho tâm hồn gần gũi gắn bó của người mình, người Việt, với thi ca. Chưa dân tộc nào có thể, tỏ tình, thân thiết, trau chuốt, với thơ bằng dân mình. Ca dao chẳng hạn, đã là bước đi vững vàng nhất. Cái áo bỏ quên đâu đó cũng, và đã, có thể là đề tài một thứ tâm sự trong thi ca. Còn gì để người ta làm thơ dễ dàng hơn. Còn gì để người ta chuyển từ “thể” sang “tính” huyền diệu như vậy, trong thơ, và hơn vậy nữa, trong hồn người Việt? Con cò, nụ hoa đào, nỗi khổ anh chàng si tình, đêm cúng cuối năm của thiếu-phụ-Việt-vợ-người-khách. Cái gì chúng ta cũng cảm hứng làm thơ được. Mà chúng ta là ai vậy? Chúng ta là dân đồng quê nhìn trời nhìn mây mà vẽ ý thành lời. Chúng ta là quan liêu, quan liêu cấp cao, đọc truyện ngoại quốc buồn buồn viết hơn ba ngàn câu lục-bát, là Kiều. Chúng ta là đãng tử giang hồ, hận thê nhi bó buộc, sầu mây khóc gió, vẫn có thể làm thơ. Chúng ta là tất cả, năm tuổi mười tuổi đến khi gần về với đất. Chúng ta mặc áo rách, mặc áo lụa, và mặc áo gấm. Chúng ta hàng ngàn năm trước, làm thơ, và năm nay, 1975, lại vẫn tiếp tục làm thơ. Còn tập-thể-người nào trên thế giới hơn được chúng ta phong thái thi ca?

SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA XÃ HỘI VÀ THI CA

Huống nữa là xã hội Việt Nam trong bốn mươi lăm năm qua, không phải là xã hội ù lì trôi với thời gian. Từ 19301 đến nay người Việt sống trong bầu không khí ngạt thở vì chiến tranh và thay đổi liên miên vì tiếp xúc với tư tưởng ngoại quốc. Văn minh Tây phương, trước hết, thay đổi bộ mặt thơ mình. Rồi kháng chiến. Rồi chia đôi đất nước. Ba thời kỳ tang thương này, một là 1930-45, hai là 1945-54, ba là 1954-75, đánh những nét thẫm trầm trọng trong tâm hồn người Việt. Trầm trọng, dù tàn phá hay xây dựng thì ta để đó đã, nhưng cung cách trầm trọng này đã thay đổi ý tưởng người mình, từ đó, đổ xô lên chữ nghĩa, thay đổi luôn cách viết, cách kiến trúc bài thơ, cách diễn và dựng ý. Tình yêu ruộng đồng hồn hậu bình tĩnh ngày xưa trong ca dao cơ hồ hoàn toàn cách biệt tình quê Nguyễn Bính. Chiến tranh của Đặng Trần Côn / Phan Huy Ích không giống chút nào phong thái Quang Dũng. Và bậc điệu suy tư về thân-phận-người xa rời ngàn dặm tư tưởng Bùi Giáng. Chúng ta đã rời vòng tay tưởng rất rắn chắc vạm vỡ tiền nhân, mà tìm những hướng đi khác, dù rực rỡ dù tối tăm, dù hoa thơm dù bùn lầy, dù dục vọng dù thánh thiện, nhưng của riêng chúng ta. Không ai giốn chúng ta, bốn mươi lăm năm qua. Một sự thay đổi tận gốc tận tủy. Sự thay đổi tự nó, độc lập với những thời đại khác (trước và sau), mà cũng tự nó, thay đổi với chính mình. Trong 45 năm này, nửa thời gian đầu đã là bộ mặt lạ với nửa thời gian sau, tâm tình tiền chiến đã biền biệt xa cách tư thái suy tưởng hôm nay.

Điều đó, đối với những người ngoài thời đại chúng ta có thể bị nghi ngờ cật vấn. Thì hãy để họ sang một bên, một bên đã chết hoặc một bên sắp sinh. Còn chúng ta, chúng ta hãy hãnh diện đã ở trong một thời kỳ tuyệt diệu như thế. Bên Pháp, từ thơ lãng mạn kiểu-mẫu-và-sơ-khai Racine đến thơ siêu thực Prévert, họ mất gần ba trăm năm. Chúng ta khác, nồng nàn hơn, nhanh hơn, khắc khoải hơn vì đời sống hàng ngày. Đừng cho rằng tôi ca tụng nước Việt quá đáng. Nào tôi chỉ nói được điều đó. Hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp, Hoài Thanh, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng… đã nói trước tôi. Bốn mươi triệu người Việt sờ sờ đó, đã và đang chấp nhận điều này thay tiếng nói cá nhân bất cứ một người nào.

Nhưng thôi, ta hãy tạm gác sự tranh luận về giá trị thi ca thời đại vừa qua. Giá trị là điều tự có, không thể thêm bớt vào được. Bây giờ ta nói đến câu chuyện thực tế hơn: nguyên nhân bốn mươi lăm năm thơ Việt Nam vừa qua. Ở trên tôi viết xã hội thay đổi là yếu tố rõ rệt nhất. Thì thực như vậy. Chúng ta sống đời giả dụ bình thường thì ngày một ngày hai còn thay đổi trong lối suy nghĩ nữa là. Ông Nguyễn Công Trứ chẳng hạn. Hồi trẻ, ông làm thơ thế nào, chúng ta đã biết. Hồi già, vẫn ông, làm thơ thế nào, chúng ta cũng biết. Đó là chuyện một ông già thơ thời xưa, cách chúng ta đã hai thế kỷ. Thế thì mới đây thanh niên tiền chiến đụng chạm dữ dội với tư tưởng lối sống Tây phương, rõ nhất là Pháp, còn biến hóa thế nào nữa! Họ sinh trưởng trong môi trường Tây hóa. Học chữ Tây từ ngày biết ra đường không quên mặc quần, đọc sử Pháp từ ngày mơ hồ hiểu thế nào là một quốc gia, và, buồn rầu hơn, đọc thơ Pháp từ ngày mặt đỏ hừng hực khi đứng trước người khác phái cùng tuổi mình. Thế thì tâm tình họ thay đổi ra sao, lọ còn phải nói. Họ không như ông cha nữa, mười tuổi học ê a như vẹt Tam Tự Kinh, lớn hơn nữa, và vẹt hơn nữa, học Tư Thư Ngũ Kinh… Mười sáu tuổi mười tám tuổi ở trường trung học Bảo hộ đọc Beaudelaire ai mà chẳng động lòng. Tuổi thanh niên là tuổi thích nỉ non mơ mộng, tâm hồn cuồng nhiệt hung hăng. Có gì hợp với họ hơn là cùng một tư tưởng tự do lãng mạn xao động từ phương Tây vừa qua cuối thế kỷ 19. Con mắt đã đổi, tâm hồn họ còn đổi hơn. Con sông của thời xưa không còn ý vị bình lặng thuở trước, trong nó, và dưới mắt họ, là hàng trăm xao xuyến chia ly, sóng gió khắc khoải. Vẻ đẹp đàn bà không còn "làn thu thủy, nét xuân sơn"2 mơ hồ mẫu số cách đây hàng thế kỷ; ở đây, họ đã phân biệt thế nào là tóc đen quện trên má trắng, môi hồng cười với mắt trong như nước hồ thu. Con cò trên ruộng không bình dị như trước3, con cò đã biết xao xuyến, phân vân4. Những hình ảnh xưa cũ đều được bọc một làn nhung mới mẻ. Hình ảnh đã thế, tâm hồn còn biến dạng cơ man nào mà kể nữa. Người xưa yêu nhau thanh thoát, hiền lành, tử tế, đạo đức, vui vẻ. Chuyện đó xưa và giả tưởng quá rồi. Bây giờ, 1930-1945, người ta yêu mãnh liệt hơn, táo bạo nóng nảy hơn (và than ôi, chóng tàn hơn). Thúy Kiều nhìn trăng và ảo tượng quyện lên xẻ mảnh trăng làm đôi, "nửa treo gối chiếc, nửa trôi dặm trường". Đó là thơ Nguyễn Du ngày xưa. Với Hàn Mặc Tử, trăng vừa là bạn, tình nhân, vừa là kẻ thù, trăng đã biết ghen, biết đòi dục tình dù với một ý khác. Hai người thơ này không những cách nhau gần hai trăm năm. Họ xa nhau cả thời đại, cả chục thế kỷ. Biết nói làm sao hơn. Sự thay đổi lối sống, trong xã hội, sự thay đổi ý tưởng, bằng trung ý thi ca, là hai chuyện có thực và đi song song với nhau. Không sức mạnh nào, dù sức mạnh tinh thần ngàn năm thi ca thời cũ có thể cản bước tiến hay tách rời hai sự kiện ra hai bên. Không lý gì, Lưu Trọng Lư chẳng hạn, sống tự nhiên phóng khoáng như một họa sĩ ấn tượng Pháp bước ra đường là bạn bè tình nhân, bước vào nhà cũng lại là bạn bè tình nhân, cười đùa thân mật; Lưu Trọng Lư như thế mà làm thơ ý tứ xa xôi lời lẽ kín đáo như Bà Huyện Thanh Quan ngày xưa! Nhan sắc ngày xưa đến với nhà thơ bằng màn ngăn trướng rũ, bằng vẻ ẩn hiện đài các của Quỳnh Như với Phạm Thái5, đối với thanh niên tiền chiến, đã hết rồi. Nhan sắc bây giờ lồ lộ trước mắt người đọc thơ, hay ít nhất, nhà thơ. Những đôi mắt to và ngây thơ. Những má đào bầu bĩnh. Những má hồng khêu gợi. Những tay trần tròn trĩnh quyến rũ… Còn nói sao hơn được. Sự đụng chạm xã hội ồ ạt như vậy, thơ không biến thể cả ý lẫn lời sao được.

Và thơ, thơ mới, lúc ấy ra đời.

Sự thay đổi xã hội không hẳn chỉ biến đổi cấu thức thi ca như đã nói hơn một lần, mà còn xao động trọn tâm tình một lứa tuổi, lứa tuổi hai mươi ba mươi thời ấy. Bằng bước đầu với Thế Lữ và Lưu Trọng Lư, thơ tiền chiến từ đó liên miên tiến hóa trong bao nhiêu nhà thơ kế cận. Sự tiến hóa và sống mạnh là một chuyện dễ hiểu, bởi “thơ mới” đã có căn bản vững chắc. Nó tiến từ từ trong suốt mười lăm năm, mười lăm năm đầu một thời đại thi ca. Nhưng xã hội Việt Nam không chỉ đi vào thi ca đơn thuần như vậy. Người Pháp đô hộ nước mình khó lòng kéo dài lối sống thanh bình đầy vẻ giả tạo ngộp thơ uất ức. Nó phải khác. Và sụ biến dạng lần thứ hai, và vẫn ảnh hưởng mạnh trong thơ, là cuộc kháng chiến chín năm.

Đúng ra, câu “Chín năm đốt đuốc soi rừng” của Nguyễn Bính6 đã nói lên đầy đủ không khí thi ca kháng chiến. Thơ của thời đại vừa đau thương vừa hào sảng này, là thơ của những người nằm gai nếm mật. Những người vừa cầm súng vừa nhớ thời gian cũ và dõi về thời gian mới. Chiến đấu, cách mạng, tang thương, chết chóc. Chừng thứ ấy đem sức mạnh nóng bỏng đến thi ca chín năm này. Thời cuộc biến đổi thay hẳn bộ mặt lãng mạn mờ mịt cũ. Nhà thơ, và người đọc thơ, hết rồi khung cảnh lăn lộn rên xiết với tình yêu. Hình ảnh “Những xác già nua ngập cánh đồng” Quang Dũng7 đã thay thế “Hãy xích lại gần anh hơn, em hỡi!” Xuân Diệu. Thơ thời này là thơ lửa, lửa chiến tranh và lửa tình người. Bóng dáng Quang Dũng vừa cầm súng trong rừng tìm quân thù, vừa ngâm nga “Đêm mơ Hà nội dáng kiều thơm” là hình ảnh tuyệt thú, hình ảnh hào tráng nhất đời người có thể có. Và thời cuộc đã thay dạng tình yêu mất rồi. Hồi trước Nguyễn Bính thất tình vì người yêu đi lấy chồng8, lang thang rên rỉ, chuyện đó sao mà xa cách ủy mị quá. Chuyện bây giờ, chuyện của 1945-54, là chuyện của Hữu Loan: một người đàn bà thật trẻ chết vì bom đạn, chồng nàng đang kháng chiến nghe tin ngẩn người không ngờ. Chàng về và thấy bà mẹ gục bên mọ người vợ yêu9. Tình yêu kháng chiến là như thế. Là rừng rú, núi sông. Là ảo mộng và thực tế. Là ngồi bên mộ bạn vừa chết, nghiến răng thề trả thù10. Điều cần nói là hầu hết thi sĩ nổi tiếng tiền chiến đều theo kháng chiến. Họ đột ngột từ vùng troiừ quen thuộc an nhân (dù tạm bợ) sang nếp sống khác, khắc khổ, bực mình, chết chóc, mà tràn trề khĩ vị hào hùng. Thơ họ, dù không đổi thể, cũng đã đổi ý nhiều lắm.

Tuy vậy, chúng ta không nói gì nhiều về ảnh hưởng xã hội ở trong thi ca kháng chiến. Thơ thời này, dù được truyền tụng rộng rãi trong dân chúng và bộ đội, lại không dồi dào về lượng. Người ta còn bận đánh nhau, chạy trốn, lang thang. Nhà thơ khó lòng vừa sáng tác vừa băng suối vượt rừng tìm cừu địch. Bởi thế, có thể nói thơ kháng chiến chỉ là một gạch nối giữa tiền chiến và hôm nay. Điều đáng nói có thể là tâm tình thơ thời này, thì chúng ta sẽ nói đến một phần sau. Điều quan trọng hơn trong vấn đề tương quan xã hội thi ca ở đây, là miền Nam Việt Nam sau hiệp định Genève: sự biến chuyển của thơ hôm nay 1954-75 so với tiền chiến.11

Nhớ hồi 1941, trong cuốn “Thi Nhân Việt Nam”, ông Hoài Thanh đã hùng dũng viết “Tôi quyết rằng trong thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này” (tức là thi ca tiền chiến). Câu viết, dù có vẻ dũng cảm can đảm ghê lắm, dầu sao cũng chỉ đúng đến 1954. Sau đó, miền Nam Việt Nam, là một thời đại khác, đầy huy hoàng tráng lệ, đầy tính cách phá hủy và xây dựng, đầy hằng hà sa số những vẻ đẹp, vẻ khắc khoải, đầy những hướng đi mới và mãnh liệt, gọi là thời đại thi ca hôm nay. Nói cho công bình, thơ hôm nay đã vượt tất cả thời trước về sự phong phú, sự phong phú kỳ lạ và đẹp nhất trong tiêu chuẩn nghệ thuật, mà tâm hồn chung người Việt có được.

Phải nhìn ngược lại thời gian suốt hai mươi mốt năm về trước thì ngày nay chúng ta mới hiểu sự xô bồ ray rứt của những người làm văn chương thuở ấy. Chiến tranh kháng Pháp đặt những thi nhân trẻ tuổi vào một việc đã rồi, một việc cha anh họ chọn lựa và bắt buộc họ phải đón nhận. Chín năm chiến tranh qua, lần này chính họ quyết định đời sống và ngòi bút của mình. Từ giã quê hương Việt-Bắc điệp điệp sau lưng, vào Nam, đã là một điều đau đớn, đã là một đoạn đường chia ly. Nhưng lớn lao và ảnh hưởng lớn hơn cả là sự trống trải tâm hồn. Không còn giọt nước cội nguồn, trầm tư tiềm thức nào tồn lũy vững chãi trong tâm hồn thi sĩ Việt Nam từ 1954. Ngày hôm nay là mặt nạ với ngày hôm qua. Và tương lai, nếu còn sáng chói, than ôi, chỉ là ánh sáng từ tăm tối.

Đó là môi trường phát khởi thi ca miền Nam. Môi trường xây cất nhọc nhằn bằng chia ly, bằng đổ vỡ và mâu thuẫn trong tâm hồn, bằng bỡ ngỡ hoang mang trong hoàn cảnh nội-ngoại-vật mới. Vì vậy thơ miền Nam hôm nay đã bước vào những chân trời khác: xã hội, tuổi trẻ, chiến tranh, chính trị, suy tưởng về triết học. Thi ca thời này đã dẫm ra ngoài khung cảnh cũ người ta vốn ấn định sẵn tại nước mình: khung cảnh trưởng giả, đài các, mơ mộng, ảo tưởng. Thơ miền Nam từ 1954 đã có sắc thái biệt lập với tất cả thời kỳ khác, sắc thái thực tiễn và siêu hình.

Như tôi đã viết, những ý thơ mới nhất phát sinh từ sự đối diện hoàn cảnh xa quê hương và tuổi trẻ bơ vơ. Nguyên Sa có hai câu thơ:

Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt
Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư

Còn gì nói lên tâm trạng thanh niên Việt Nam hồi sau chia đôi đất nước hơn hai câu thơ này? Ưu tư, bơ vơ. Đó là hai vấn nạn buồn rầu nhất người ta luôn luôn tìm được trong văn chương tìm kiếm khắc khoải hồi đó. Mỗi bài thơ, dù vui dù buồn, dù tình yêu, dù không tình yêu, đều nói lên nỗi niềm tìm kiếm. Thi sĩ từ 1954 về sau không tìm những ý tứ cao kỳ rắc rối trong tình yêu như trong thời tiền chiến nữa. Họ không đủ thì giờ và buồn hơn, không đủ tâm hồn bình yên như cha anh họ (dù là những nỗi bình yên trụy lạc thời trước). Làm thế nào để sống, và sống để làm gì? Đó là những vấn đề mới. Vì thế thơ miền Nam, những trăng sao hoa tuyết diễm lệ đều nhường chỗ cho sự chết, hư vô. Hư vô không còn là bóng tối thanh bình của nhà thơ kia mỗi khi va chạm cuộc đời. Hư vô ở đây hiện hữu bằng muôn vạn cách méo mó, kỳ dị. Quách Thoại viết hai câu tuyệt hay:

Ngày mong manh
Anh sợ quá phút linh hồn anh tan vỡ

Đời sống đều là những mong manh ghê sợ như vậy. Không còn thanh bình, không còn tình yêu trong trắng. Thi sĩ vật lộn và hủy hoại chính mình. Đối với họ, thơ không là món hàng trang sức, là hương phấn lụa là đời người, thơ không còn là mục đích cao đẹp của đời sống. Thơ ở đây chỉ là điều bắt buộc phải có, như cơm ăn áo mặc. Thi sĩ tự giải thoát bằng thơ, bài tiết những ưu uất vô biên trong trí tuệ, ra ngoài, cũng bằng thơ nốt. Thơ vì thế mang tính chất đắng cay nhưng sống thực nhất của con người.

Những năm lăn lộn tìm kiếm mục đích đời sống đó bắt đầu từ 1954 đến 1960 với hai tạp chí nổi tiếng đưa những ý mới vào văn chương: Sáng Tạo và Sinh Lực, với các thi sĩ tiền phong: Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Thế Viên. Từ sau 1960, một biến cố mới làm nóng bỏng sinh khí thi ca vốn đã nóng bỏng: chiến tranh Việt Nam. Thơ từ đó càng không còn dấu tích hiền hòa của thiếu nữ ẩn mình sau chiếc lá trúc, những lệ vỡ tan nát người con gái sang ngang, đêm buồn canh vắng tỏ tình, trăng trên đầu hai kẻ yêu nhau. Đã hết. Đã trôi đi tăm tích hương lụa dặm trường. Thi ca từ 1960 là thi ca của bom đạn, người chết, máu lửa, thực trạng phi lý của xã hội, những mòn mỏi chờ đợi mùa xuân thanh bình, những khao khát nụ hôn tình đầu một ngày Tết, những khao khát hiền lành không bao giờ có thực. Chia rẽ. Xa cách. Phấn đấu. Thất bại. Đó là hằng hà tứ mới trong thơ Việt Nam vừa qua. Ở đây Huy Lực viết: “Mùa xuân run trên vai Việt Nam”, người đọc thơ không còn thấy mùa xuân ở đâu và Việt Nam sống sót nơi nào. Thay vào đó, là mịt mù nỗi thất vọng đắng cay của một người. Chỗ khác Thế Viên viết:

Cho anh làm tình nhân
để mỗi sáng anh đưa em đi nhà thờ
12

Đó là tình yêu thời chiến, thứ tình yêu mơ hồ bóng rát vẻ ngơ ngác mù lòa, thứ tình yêu không có thật. Người ta tham dự chiến tranh và nói lên bao nhiêu khao khát bi đát tàn tật. Tương lai sáng chói: không cần. Người lính chỉ cần đưa tình nhân ra nhà thờ buổi sáng. Thi sĩ chỉ muốn nhắn nhủ với bạn bè đã chết dưới mộ sâu13. Đây là những ý trong sáng nhất. Ngoài ra, người ta thấy gì hơn? Thanh Tâm Tuyền viết:

Trong thơ hôm nay, người ta lạc vào cái thế giới có những đêm tối nghẹn ngào, những ánh sáng của lộ liễu, những bệnh viện lạnh lẽo, những nấm mồ hoang vu, những thành phố đổ nát không chim muông…

… Trong thơ hôm nay hoặc là thiên nhiên không được nhắc đến nhường chỗ cho những vỉa hè, cột đèn, gạch ngói, khối sắt, khối thép, da thịt, tay chân, mặt mũi hoặc là hiện ra thản nhiên lạnh lùng khó chịu nếu không muốn nhập với một ý thức…

(Nỗi Buồn Trong Thơ Hôm Nay)

Đó là hầu hết ý tứ trong thơ Huy Lực, Mai Trung Tĩnh, Tuệ Mai, Viên Linh, Du Tử Lê, Trần Dạ Từ, Kim Tuấn…Họ lẫn lộn trong vũng lầy hoàn cảnh. Tiếng kêu họ đầy uất ức đau thương. Năm 1967, trong một bài thơ tặng John Steinbeck, văn sĩ đoạt giải Nobel nổi tiếng Hoa Kỳ, nhà thơ Nguyễn Quang Hiện đã khẩn thức trình bày bộ mặt thực xã hội Việt Nam, bộ mặt có những vết nhơ ngõ hẻm, máu me trong những khách sạn tồi tàn tỉnh nhỏ, những ánh đèn xảo trá ban đêm. Đó là Việt Nam, miền Nam. Đó là quê hương vật vã gào thét trong thi ca.

Tình trạng chiến tranh còn đưa thi ca đi thêm một đoạn nữa, đoạn chót: triết học bất phân giải. Bằng Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Tuấn Kiệt, người đọc thơ lạc vào cùng huyễn hoặc triết học. Thơ vốn không phân giải. Triết lý trong thơ, vì thế, vừa giản dị vừa sâu kín. Khí vị này khác xa loại “thơ triết” ngây ngơ của Minh Tuyền tiền chiến hay đầy vẻ bệnh hoạn của Hàn Mặc Tử. Nhà thơ bây giờ nhìn lại trung ý mình. Bên ngoài là tang thương vô vị cuộc đời. Và nhà thơ viết được gì? Có được như Trần Tuấn Kiệt không:

Mượn bước tiều phu vào núi ẩn
Tiều phu đã vắng núi bơ vơ
14

Phong vị ngạo mạn của Tản Đà, một lần được đặt ngồi với Vũ Hoàng Chương.15 Lần thứ hai, các nhà thơ sau này tìm kiếm lại và càng thấy trống trải hơn. Khi Bùi Giáng viết:

Mẹ về ngõ vắng vườn hoang
Thừa thiên sông lạnh kéo sang sông rừng
.16

hẳn là nhà thơ hoang mang tìm một lối thoát hiện tại ghê gớm lắm. Lối thoát vốn đã nằm trong đời sống. Thi ca chỉ là để khơi dậy, trình bày, thêm thắt. Vấn đề là thi ca có quyền tạo ra lối thoát mới hay không? Và nữa, thi ca tạo nên được bộ mặt nào trong xã hội? Chúng ta diện kiến khuôn mặt tình yêu, tuổi trẻ tiền chiến. Chúng ta gặp được khí độ hiên ngang yêu nước kháng chiến. Rồi miền Nam, chúng ta nói chuyện với nhau vẫn chừng ấy bộ mặt, nhưng sao chằng chịt nếp nhăn thương tích. Từ tuổi trẻ tình yêu bằng bao nhiêu quái đản hình thù, chúng ta đi tìm chiến tranh xã hội triết lý trong thơ. Chúng ta đi nhiều, bị hủy hoại và thăng hoa nhiều, nhưng rồi thi ca sẽ nói gì cho ta biết nỗi liên quan trừu tượng giữa người và thơ?

TÂM TÌNH THI CA VIỆT NAM …

Phần trên, chúng ta nhìn qua về nguyên nhân tổng quát cho mỗi thời kỳ thi ca trong bốn mươi lăm năm qua. Nói đến hai chữ “nguyên nhân” quả tình gượng quá. Trong thơ, nguyên nhân hậu quả đều không nói lên điều gì rõ rệt. Thơ là cả một mơ hồ và cảm nhận. Cái tinh thần thơ trong suốt bốn mươi lăm năm qua có lẽ đã ngấm dần trong xương tủy người Việt. Tinh thần ấy là sự đối kháng dịu dàng giữa chân trời mới và hình thức cũ. Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Tú Xương gần chúng ta biết bao so với những cổ thụ văn đàn ngày trước. Bài “Tống Biệt” bài “Dì Gió”[17] của Tản Đà đâu xa lạ gì tâm hồn thơ đa số thanh niên sau này. Vì thế, thay cho nguyên nhân phát sinh mỗi thời kỳ, điều quan trọng nhất chính là tâm tình dụ-hoặc của thi ca. Vừa mở sáng mà vừa khép kín, vừa mời chào mà vừa từ chối, đó là tất cả trung-ý thi ca bốn mươi lăm năm qua.

Một điều rõ nhất để phân biệt tâm tình thơ thời đại 1930-75 với các thời đại trước là sự phát triển và tôn phụng tinh thần cá nhân. Tinh thần cá nhân? Bốn chữ nghe thân thiết mến thương làm sao. Chúng ta vui sướng khi được đọc thơ một người, một người đầy đủ suy nghĩ cảm quan hệt chúng ta đặt chữ nghĩa lên giấy mực. Mà dù khác nhau thì đã sao! Thơ không còn những lời hàm hồ ẩn sau bức bình phong số-đông để nói những lời vu vơ như Bà Huyện Thanh Quan ngày trước nữa. Thơ không còn là sáo ngữ nói tướng nói tá rồi chung quy khoe cái ta tự tôn như kiểu khẩu khí Lê Thánh Tôn. Ngày xưa thi sĩ dùng tập thể làm bình phong múa bút. Điều này trông vừa giả tạo vừa hạn hẹp. Cứ như Thế Lữ thì hay biết bao: “Tôi chỉ là một khách tình si. Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể”. Như vậy thực thà tự nhiên hơn. Thi sĩ có thể nói thẳng với chúng ta: Tâm hồn tôi đây, xin bước vào và đừng hủy hoại. Chúng ta nhận lời thi sĩ và lạ lùng khám phá bao nhiêu màu sắc hương vị trong ấy. Mà toàn những vị đâu xa xôi gì? Là của bạn ta đấy thôi! Là của ta đấy thôi! Nó bị thành kiến vùi dập, nó bị xã hội bịp bợm. Hôm nay ta nhận diện. Và nỗi niềm sung sướng còn gì lớn hơn?

Nhưng đừng tưởng lúc nào thi sĩ cũng thố lộ tâm tình riêng tư cho chúng ta. Bài “Tương tư … Chiều” của Xuân Diệu là khúc ca tình yêu giữa hai người không ăn nhập gì ta cả. Có đọc, ta chỉ đọc lén thôi. Vừa thưởng thức, ta vừa ghê thay tính liều lĩnh của nhà thơ. Chừng một trăm năm trước thôi – mà có thực cần con số một-trăm này không? – bài thơ trên đã có thể là quái thai kỳ dị bị đàm tiếu còn nhiều lần hơn thơ Hồ Xuân Hương. Thế ra, sự nảy nở thi ca thời vừa qua đã thúc đẩy chúng ta tìm và hiểu được nhau nhiều lắm. Sự vật lộn con người đời sống trong “Làm Thơ Không Biết Mệt” của Trần Dạ Từ là vấn đề của ai vậy? Của thi sĩ? Đã đành rồi. Nhưng cũng của chúng ta đấy. Chúng ta, nào khác gì thi sĩ, chúng ta hàng ngày đối diện bao nhiêu món nợ siêu hình khủng khiếp trên đầu trên cổ. Quả đât méo mó dị dạng trên đình màn thi sĩ[18], quả đất ấy đang ngạo mạn diễu cợt chúng ta đây. Nỗi thất vọng sợ hãi nào cay nghiệt hơn? Hóa ra thi sĩ là hình bóng cá nhân độc đáo, mà cũng là tấm gương phản chiếu bộ mặt muôn thuở, hay ít ra, hôm nay, của loài người lận đận đấy ư?

Vẻ cá nhân độc đáo của nhà thơ thời đại vừa qua chính là khuynh hướng thúc đẩy thi ca tiến bộ hơn (tiến bộ, hiểu theo nghĩa thông thường). Nhà thơ càng ngày càng cô đơn, càng ngày càng khắc khoải trong vạn mối suy tư được đặt ra, từ đó nhà thơ càng nhả tơ kiến trúc sự nghiệp mình. Mỗi thi sĩ đều có một bước đi độc đáo riêng. Không người nào dẫm chân người nào. Mà phải có vài ba người chi cho cam. Bốn mươi lăm năm, và xấp xỉ con số đó những thi sĩ lớn. Dù không một đức tin, một bực thánh, một sức mạnh vô hình để nương tựa, nhà thơ Việt Nam cũng có thể tự hào về mình. Rằng mình đã kiến tạo lấy căn phòng nội-tâm-và-thơ riêng biệt. Nỗi cô đơn, dù có, chính là nỗi niềm đầy vẻ riêng tư. Trong lãnh vực khác, chia rẽ cách biệt là điều tự hại. Trong thi ca, việc ấy ngược lại. Vũ Hoàng Chương ngán đời làm thơ[19] khác với thơ-ngán-đời của Trần Tuấn Kiệt sau này[20]. Hồ Dzếnh mong nhớ người yêu khác tư thái Nguyên Sa. Hoàng Lộc kháng chiến khóc bạn chết vì chiến tranh không giống “Chiều Nay Tôi Đi” Mai Trung Tĩnh. Mọi tâm tình, mọi hoàn cảnh đều nói lên những ý thức mới. Khóc bạn, Hoàng Lộc chỉ biết đau lòng và thề trả thù. Hai mươi năm sau, Mai Trung Tĩnh khóc bạn và ngẩn người suy nghĩ về cái chết đã qua, của bạn, và cái chết sắp đến, của mình. Tất cả nỗi niềm đó, trộn với nhau góp phần dị biệt cho thi ca Việt Nam.

Một điều nữa, nhà thơ Việt Nam thời này không hề làm lớn nhiệm vụ và những đứa con tinh thần của mình. Họ thật hiền lành dung dị. Làm thơ với họ là điều cần thiết như đứa trẻ đòi bú, thanh niên cần yêu. Câu thơ của Hồ Dzếnh “Tôi nguyền sau lớn làm thơ suốt đời” nói lên mộng ước giản dị dễ thương biết bao. Giấc mộng làm thơ kia, bằng câu trên, chẳng khác một người trong chúng ta nói: “tôi nguyện sau lớn làm … kỹ sư suốt đời”. Thi ca, từ đó, nồng đượm tính chất chân thật, dễ mến. Trong xấp sỉ năm mươi thi sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam thời vừa qua, chỉ Vũ Hoàng Chương và Bùi Giáng mới ngạo nghễ tự đặt lại giá trị ngai vàng thi ca và chức vụ thơ của mình. Những người khác bình thường cả. Không khí kiêu căng của Lý Bạch, Cao Bá Quát thời xưa đã hết. Ngày nay chúng ta nhìn nhà thơ dù vẫn bằng cặp mắt trọng vọng nhưng thân tình hơn. Nhà thơ không hề muốn lập ngôn bằng thơ họ. Dù Huy Lực, Kim Tuấn, Viên Linh có gào thét đau đớn với quê hương dân tộc trong thơ, thì đó vẫn là những lời lẽ riêng của họ. Dù nó cũng là những khát vọng chúng ta, nhưng trước hết và sau hết, nó là của thi sĩ; không như Tú Xương ngày xưa mơ hồ viết bài “Lạc Đường” tỏ vẻ đại diện sĩ phu ưu quốc. Tóm lại, thơ 1930-75 chính là thơ cá nhân.

Tuy thế, tính cách cá nhân chỉ tổng quát. Mỗi thời kỳ, mỗi nhà thơ, đều có những giống nhau khác nhau ngoài bộ mặt “cá nhân” ấy. Thi sĩ tiền chiến chẳng hạn, trên khía cạnh nào đó (tình yêu?) thường có khuynh hướng lãng mạn. Gần hai mươi nhà thơ nổi tiếng tiền chiến đều viết về tình yêu. Có lẽ tình yêu là một mode thời trang, nói nôm na, của thi ca thời này. Đây là điều kỳ lạ thích thú mà vừa bất nhẫn. Giới làm thơ, và giới đọc thơ, đều có học, không dư dả tiền bạc thì cũng không phải giam mình ở thôn quê lạy lục cường hào ác bá kiếm cơm. Nói rõ hơn, tầng lớp làm và đọc thơ tiền chiến thường thuộc hạng trung lưu (hoặc tinh thần hoặc vật chất hoặc cả hai). Hoài Thanh đã viết: “Ở cái xứ vô sự này, câu chuyện văn thơ cơ hồ là câu chuyện độc nhất của số đông thanh niên nam nữ” [21]. Thật sự Việt Nam mình ngày ấy không những “không-vô-sự” mà còn “nhiễu-sự” là khác. Phần đông thanh niên nam nữ Hoài Thanh nhắc tới, chúng ta cần hiểu là con số tính ở các thành phố hay nhà giàu thôn quê. Điều này không những dễ thấy mà còn giúp ta tìm được nhanh hơn tâm tình thơ tiền chiến. Thanh niên thành phố được giáo dục trường Tây (đa số thi sĩ đều có bằng Tú Tài Pháp trở lên), sống an nhàn khi làm việc với nhà nước bảo hộ. Vậy thì họ không yêu nhau, không phát triển sức mạnh lãng mạn mơ mộng (mà lạ, chỉ lãng mạn mơ mộng về tình yêu!) thì biết làm gì bây giờ. Thế là đủ lắm, cả thi sĩ lẫn độc giả đều hợp tâm đầu, đều du dương nói với nhau bằng những tiếng nỉ non than khóc nức nở tình yêu. Trong thơ tiền chiến, ái tình đành là có trăm vẻ nghìn sắc độc đáo riêng biệt, nhưng cùng nhau (dù tương đối) một điểm: yếu đuối và tối tăm. Từ Xuân Diệu với “Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ” [22] diễn tả nỗi xa lạ kỳ dị giữa đôi tình nhân (sự xa lạ có vẻ ảo giác và bịa đặt); cho đến J. Leiba với “Để phụ cho nhau một mối tình” [23], hàng chục hàng trăm mối tình đau thương (quái! phần lớn đều rầu rĩ đau thương, trừ Nguyễn Nhược Pháp. Vậy dễ không có cặp vợ chồng nào trên đời à?). Tình yêu xảy ra đủ nơi đủ cách. Chút hương thừa trên đường cũng mơ tưởng được, là tình (Huy Cận). Xem tiểu thuyết rồi buồn rầu nhớ trai, là tình (T.T.Kh.). Đọc thơ người khác rồi yêu quơ quàng, là tình (Thâm Tâm). Vì chuyện thiên hạ mà đòi yêu bạn trai mình, cũng là tình (bài “Tình Trai” của Xuân Diệu). Tình yêu trùm kín không khí thi ca tiền chiến. Mới biết yêu, đã yêu lâu, chưa yêu, yêu nhiều, ghen, hờn, giận, nhớ, không lấy nhau, sắp lấy nhau, gần nhau, xa nhau … Tất cả đều là tình yêu. Một không khí lãng mạn đến ngộp thở u uất. Một loại tháp ngà lạnh buốt như Mai Thảo từng viết. Người ta hoàn toàn không thấy sinh khí và tính chất phóng khoáng tình yêu trong thơ tiền chiến. Từ những thứ tình che dấu lờ lững Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ đến tình trần truồng lộ liễu Xuân Diệu, Thái Can rồi tình bí hiểm (?) cao siêu Hàn Mặc Tử, Bích Khê, chúng ta khó lòng thấy gì khác nữa. Nói một cách đứng đắn thì những tiếng sau là mẫu số thi ca tiền chiến: anh, em, yêu, tình, nàng, chàng. Sáu chữ này tha hồ cai trị tâm tình thi ca tiền chiến. Những điểm khác, ở đâu?

Những điều khác là đời sống xã hội, là hướng đi cuộc đời, sự sống. Những điều khác là sự suy nghĩ về cá nhân và tập thể; hầu như vắng bóng trong thơ 1930-45. Thật kỳ lạ và đáng buồn. Ngoài đôi chút cảnh quê Đoàn văn Cừ, đôi chút đời sống thảnh thơi Hồ Dzếnh, Lưu Trọng Lư, đôi chút ngạo nghễ Vũ Hoàng Chương; còn lại, thơ tiền chiến, toàn thị là tình yêu. Thật là một mối tình to lớn vĩ đại bí hiểm kinh khủng. Nói không sợ sai lầm, thơ tiền chiến không mang dấu vết sống thực bao nhiêu. Điều này có vẻ đáng trách nhưng dù sao cũng cần được thông cảm. Thử xem thơ Việt Nam hàng trăm năm trước, họ viết những gì? Toàn thị mơ mộng, đài các trưởng giả rởm. Toàn thị quan liêu vua tôi. Chẳng một chút chi khác. Một vài tác phẩm xuất sắc như Kiều, Chinh Phụ; một vài tác giả độc đáo như Cao Bá Quát Hồ Xuân Hương không đủ biện minh cho vấn đề. Thơ nước mình trước 1930 đều bệnh hoạn một kiểu như thế. Nào ai than trách gì đâu.

Tóm lại, dù thơ tiền chiến có tiến hóa về thể và ý, sự tiến hóa này chưa hoàn thành con đường đi của nó. Để đánh dấu chấm hết cho một thời đại thi ca, chúng ta cần thời gian và không gian khác.

Và dấu mốc thứ hai, dấu mốc chín năm kháng chiến, dù sao cũng đã cởi được lốt tình yêu bệnh hoạn tiền chiến. Thơ kháng chiến nói tới những điều gần gũi hơn cùng người: cuộc hành quân, chết chóc vì đánh nhau, viếng mộ bạn, nhớ người yêu khi đang chinh chiến. Mọi người đều có thể hòa mình với thi sĩ để suy nghĩ, trầm tư. Hình ảnh “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới [24] kích động biết bao nhiêu tâm hồn tuổi trẻ.

Nỗi hào sảng thi ca trở thành một điều có thật. Nỗi buồn dằng dặc mười lăm năm trước đã trở chiều, mãnh liệt và rõ rệt. Thi sĩ kháng chiến không vơ vẩn u sầu vô duyên cớ kiểu Xuân Diệu trong “Chiều”: Hôm nay trời nhẹ lên cao, Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn. Mọi người đều có đối tượng để buồn và nhìn rõ tâm trạng chiến đấu hơn. Và tình yêu nữa, tình yêu tự nó đã có đôi vóc dáng rực rỡ, nhờ chín năm đoạn trường này trở nên đẹp và lộng lẫy đến rạt rào. Mà nào tình yêu xa lạ đâu đâu! Tình yêu ở đây bằng thơ Quang Dũng và lời lời tâm sự thiết tha người lính nhớ về tình nhân:

Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như nói chuyện một đêm mơ
[25]

Còn gì buồn hơn tuổi hai mươi ôm súng ngồi góc núi. Còn gì xúc động hơn đôi mắt ảo giác đàn bà dưới đáy ly. Nói khác đi, mối tình kháng chiến chính là hương hoa trên nhạc súng nhạc tấu trong lòng và hàng hàng quan san thơ bay.

Tuy vậy, như đã nói, thơ thời này chỉ là một khúc nối. Con đường đã lập nhưng chưa được nở hoa. Giấy đã mở nhưng chưa nói hết lời. Phải cần vóc dáng bước đi thứ ba, miền Nam từ 1954, ta mới đưa thi ca Việt Nam đến đỉnh cao nghệ thuật.

Chính ra, hai mươi mốt năm miền Nam sau này, người ta làm thơ về bất cứ những gì liên lạc với con người. Vui buồn, tình ái, tranh đấu, cá nhân, triết lý … Nhiều vấn đề mới, tứ mới mở ra cho họ thi hứng. Thi ca dần dần trở nên một trách nhiệm, một cung cách để sống. Nó không còn là chuyện ngẫu hứng mấy mươi năm trước người ta vui hoặc buồn viết ra giấy dăm bài thơ đăng báo hay xuất bản thành sách… xem chơi. Nó không còn là điều nảy sinh từ những đám hội hè thuốc phiện, buổi hò hẹn, trận mây mưa. Nó không còn là sáng-vật trong vài mươi phút. Cái thời người ta trọng thơ, quá đáng, đồng thời, coi thơ như là một trò chơi; thời ấy đã qua rồi. Thơ hôm nay chính là tiếng nói thống thiết của khát vọng từng cá nhân, nói hẹp, và cả một thế hệ , nói rộng, là thế hệ bơ vơ lạc hướng từ sau 1954. Tâm tình hùng vĩ lớn lao này, cộng với chiến tranh đè nặng từng cá thể, đã là trọng trách của thi ca. Như con người bình thường tin vào tín ngưỡng, bậc vĩ nhân tin vào tài năng, thi sĩ miền Nam, họ đã tin vào sức mạnh thi ca như thế.

Và sự tin tưởng mãnh liệt, cái tiếng nói bằng thơ ấy, nó bị dồn nén, thăng hoa bột phát. Những tâm tình ý vị cũ đều thay bằng một lốt mới, một lốt trong trẻo mạnh mẽ hoàn toàn xa rời không khí ủy mị ngày trước. Ái tình chẳng hạn. Tính chất u uẩn phi lý trong tình yêu tiền chiến hết rồi. Hết thực rồi. Thơ hôm nay, tình yêu thực hơn, mạnh hơn và sống động hơn (dù xót xa hơn). Từ tình yêu tươi vui trong Đinh Hùng[26], thơ mộng mà gần gũi trong Nguyên Sa[27], cho đến ý vị náo nức van lơn trong Thế Viên[28], buồn bực phẫn nộ trong Du Tử Lê, mọi sắc thái đều khác nhau và hiện diện trong đời sống này. Nỗi tươi vui Đinh Hùng thật ra chỉ là bóng dáng khao khát của người luôn luôn sợ bị mất hạnh phúc. Câu chuyện tình Nguyên Sa nói lên sự quay về tế bào thầm kín và nhẹ nhàng nhất một người truân chuyên. Còn mối tình của Du Tử Lê và Thế Uyên phải chăng chỉ là vật lấp đầy khoảng trống thê lương của thanh niên Việt Nam trước xã hội loạn luân và hỗn độn của những năm sáu mươi – bảy mươi. Chiến tranh xã hội nhòa lẫn tâm tình riêng tư nhất của con người, quyện thành keo sơn. Mỗi lần va chạm là mỗi lần chua xót. Trong bài Buổi Chiều ở Pleiku của Kim Tuấn

Buổi chiều ở Pleiku …
Tiếng phi cơ và tiếng súng
Anh còn tiếng nào để nói yêu em

Chiến tranh làm tan ra đôi cảm tình ngày xưa, nhưng chính nó, làm sống dậy những suy tư mới. Mai Trung Tĩnh có thể thảng thốt nhìn chiến tranh bằng con mắt xót xa ghê tởm. Mà Thanh Tâm Tuyền lại xem đó như nốt ghẻ tâm hồn, chịu được thì nhà thơ sống, không được thì chết, và nốt ghẻ bẩn thỉu ấy không thể hủy hoại những phần người còn lại nhà thơ. Trần Tuấn Kiệt xem đời này – và mọi cuộc đời? – là đám lầy rối ra rối rắm, sống với mình theo phong cách Lão-tử xem thế sự là trò chơi. Thì Bùi Giáng tiến thêm bước nữa, lôi lại ra bao nhiêu ẩn ức sâu kín nhất từ tâm hồn ra ngoài ánh sáng chữ nghĩa để theo dõi, đối chọi. Ai ngờ chiến tranh còn tạo nên tác năng hiếm có như vậy: tác năng thúc đẩy nhà thơ quay về cõi huyền nhiệm uyên nguyên của mình, lục vấn tra hỏi. Bầu trời sáng tạo của thi ca, từ xã hội đến chiến tranh, mặc tình lan rộng. Lệ sương trong trắng nhường chỗ máu xương tanh tưởi; những đường viền núi buổi sáng những cánh cung xanh buổi chiều, mãi mãi, hết hết, biến mất cho cây trụi, đại lộ vắng người, đồi trọc ngơ ngác, súng đạn lẻ loi.

Tuy thế sác thái dịu dàng thân mật ngàn đời người Việt vẫn còn tồn tại và rào rạt sống. Trong mỗi nọc độc bưng mủ chiến su, là mỗi nụ hoa tình người. Người ta thấy Tuệ Mai làm thơ thật dịu mà thật sâu sắc, Hoàng Anh Tuấn mơ mộng mà tươi tắn, Viên Linh chán nản nhưng tàng ẩn nhụy non yêu đời[29], Trần Lê Nguyễn xót xa rồi vẫn cảm sống. Chúng ta đòi gì nữa. Miền Nam, không phải tôi nhiều lời, miền Nam là nơi ươm và nuôi tất cả mầm sống từ tiền nhân để lại không chỉ mới vài mươi năm trước, mà trăm năm ngàn năm; không chỉ chữ nghĩa trên giấy, mà hằng hà trăng sao hoa gấm ý tình trong hồn quê hương, một lần nữa, bằng thi ca.

Bốn mươi lăm năm qua, những người tuổi trẻ ngày đầu nay vai nặng dưới thời gian, những kẻ sinh sau đang ngơ ngác tìm đường đi mới. Phấn hương một thời dần dà qua và ý tình thuở trước lần hồi đổ vỡ toang hoang. Năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm, chúng ta nhìn lại đoạn đời tráng lệ buồn rầu trôi, lòng ngậm ngùi. Tro tàn, và hơi ấm cuối cùng còn âm ỷ được bao lâu?

Tháng mười một, 1975
Võ-phước Long


Ghi Chú:

1 Con số 1930 chọn ra vì giai đoạn lịch sử thi ca, không phải lịch sử thuần túy

2 Thơ Vương Bột (Trung hoa)

3 Thơ Xuân Diệu: Con cò trên ruộng cánh phân vân

4 Trong “Sơ Kính Tân Trang” của Phạm Thái

5 Kiều, Nguyễn Du tả nhan sắc Kiều

6 Bài “Tỉnh Giấc Chiêm Bao”

7 Bài “Đôi Mắt Người Sơn Tây”

8 Bài “Giấc Mơ Anh Lái Đò”

9 Bài “Đồi Tím Hoa Sim”, nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”

10 Một phần trong bài “Viếng Bạn” của Hoàng Lộc:

Hôm qua còn theo anh
Đi theo đường quốc lộ
Hôm nay đã nhặt cành
Đắp cho người dưới mộ

Đứa nào bắn anh đó?
Súng nào nhắm trúng anh
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra, anh.

11 Chữ “hôm nay” tôi dùng, thật ra rất gượng. Năm nay là 1975, thì thời gian hai mươi mốt năm qua, đã được lịch sử đóng lại, là hôm nay thế nào được. Chữ “hậu chiến” càng sai hơn, chữ đúng có thể là “giai đoạn 54-75”.

12 Bài “Cho Anh Làm Tình Nhân”

13 Bài “Chiều Nay Tôi Đi”

14 Bài “Xuân Thái Bình”

15 So sánh thái độ ngạo nghễ và chán nản của Vũ Hoàng Chương trong “Đời Tàn Gác Hẹp” với Trần Tuấn Kiệt trong “Tự Tả” và Bùi Giáng, “Cuộc Chơi”

16 “Mẹ Phùng Khánh” trong “Mùa Thu Trong Thi Ca”

[17]Hai câu đầu bài hát nói “Dì Gió”: “Gió hỡi gió phong trần ta đã chán, Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong” có khí vị hào hùng và tân kỳ đặc biệt

[18]Từ thơ Trần Dạ Từ

[19] “Bài Ca Thời Loạn”, Vũ Hoàng Chương

[20] “Tâm Thanh Dao”, Trần Tuấn Kiệt

[21] Khảo luận “Một Thời Đại Trong Thi Ca”, phần đầu cuốn “Thi Nhân Việt Nam”, tái bản tại Sài Gòn, 1968

[22] Bài “Trăng” (Thơ Thơ)

[23] Bài “Năm Qua”

[24] “Tây Tiến”, Quang Dũng

[25] “Đôi Bờ”, Quang Dũng

[26] “Xuân Ấm Hương Rừng”

[27] “Áo Lụa Hà Đông”

[28] “Cho Anh Làm Tình Nhân”

[29] “Thơ Cổ”

bài đã đăng của Võ Phước Long


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)