Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Phỏng vấn, Tiểu luận, Tư Liệu, Văn Chương Thiếu Nhi Email bài này

văn chương thiếu nhi/thiếu niên- phần 2: chiếc áo màu thời gian & tổng kết chuyên đề

 

 

1.

Tôi muốn bắt đầu bằng một lời cám ơn trân trọng dành cho những nhà văn đã tham gia phỏng vấn và trả lời những câu hỏi của Da Màu do Đinh Từ Bích Thuý soạn. Những câu hỏi của chuyên đề vừa tổng quát hành trình đọc, vừa giúp chúng ta đi sâu vào từng tác phẩm đã tạo dấu ấn riêng trên mỗi cá nhân, và một cách nào đó đã hình thành chúng ta là những người viết hôm nay. Viết về văn chương thiếu nhi là đào bới, là khai quật lại tuổi thơ. Những câu hỏi súc tích đã gợi cảm hứng cho anh Nguyễn Đức Tùng viết hẳn một tiểu luận văn học “Khi Còn Bé Tôi Đọc Sách” hoặc đã cho chúng ta cơ hội tìm lại những cái ”tôi” thời nhỏ, và đối thoại với chính mình về những chặng đời đã qua được đánh dấu bằng những gì đã đọc.

Có nhiều điều chung giữa những người đọc cùng một thế hệ, cùng sống và lớn lên trong một thời đại, cùng là những con mọt sách yêu thích văn chương. Có những cuốn sách và những tác giả chúng ta nhớ mãi “vì họ ngẫu nhiên định hình cho mình một khuynh hướng đọc và một khuynh hướng nghĩ, thành ra họ trở nên khó quên” (Trần Thị NgH.). Đọc những bài trả lời phỏng vấn cho Chuyên đề Văn Chương Thiếu Nhi/Thiếu Niên, tôi xúc động nhớ lại những cuốn sách đã đọc ngày nhỏ, những tờ báo thiếu nhi của quãng đời niên thiếu tươi đẹp mà rất tiếc quá ngắn ngủi trước 1975. Tôi sống lại những cảm xúc của trẻ thơ, của tuổi mới lớn, qua ký ức của thế hệ các anh chị Nguyễn Thị Minh Ngọc, Trần Thị NgH., Nguyễn Đức Tùng, Vi Lãng, Cung Tích Biền, Thu Phong, Nguyễn Lệ Uyên; và của thế hệ chúng tôi Trần Vũ, Thanh Mai, Bích Thuý, Trần C. Trí, Phạm Hạ Mỵ Châu.

Phần lớn những gì họ đã đọc thời nhỏ thì tôi cũng được đọc. Những cuốn được các tác giả nhắc đến nhiều nhất là Sách Hồng (Khái Hưng), Tâm Hồn Cao Thượng (Edmondo De Amicis), Vô Gia Đình (Hector Malot), Chim Hót Trong Lồng (Nhật Tiến), Thằng Người Gỗ Pinocchio (Carlo Collodi), Những Giọt Mực (Lê Tất Điều), Hoa Thiên Lý & Con Sáo Của Em Tôi, Thằng Vũ, Con Thuý (Duyên Anh), Anh Phải Sống của Khái Hưng-Nhất Linh.

Tôi cũng tìm thấy những cuốn sách được đọc ở cả hai miền Bắc-Nam trước 1975, tuy không nhiều, và phần lớn là dịch phẩm, với tựa đề hơi khác nhau: Những Tấm Lòng Cao Cả/ Tâm Hồn Cao Thượng (E. D. Amicis), Không Gia Đình/ Vô Gia Đình (H. Malot), Đảo Châu Báu/ Đảo Giấu Vàng (Robert Louis Stevenson), Hoàng Tử Bé (A. D. Saint-Exupéry), Những Người Khốn Khổ/ Những Kẻ Khốn Nạn (Victor Hugo) Dế Mèn Phiêu Lưu Ký (Tô Hoài), Gió Đầu Mùa (Thạch Lam). Tôn Ngộ Không/Tây Du Ký, sách có hình vẽ của hoạ sĩ  Mạnh Quỳnh..

Ngoài ra, qua trích đoạn Tháng ngày ê a của Lê Minh Hà, tôi “học” được một điều mới: Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, một kiệt tác văn học cổ điển lại từng bị coi là sách cấm kỵ ở miền Bắc, vì sợ phản tuyên truyền, có hại cho tâm lý chung thời chiến. Qua anh Cung Tích Biền và Nguyễn Lệ Uyên tôi biết được tình trạng thiếu thốn sách vở khi không may phải sống trong vùng xôi đậu hay những năm 1945-1954 ở những vùng bị Việt Minh kiểm soát: “Văn chương thi phú có trước 1945, thời Pháp thuộc, không chỉ quốc văn mà cả sách Hán tự, Pháp ngữ, đều bị quy là sản phẩm văn hóa của chế độ Phong kiến, của đế quốc thực dân, cần triệt để tiêu trừ” (Cung Tích Biền).

Chính những khác biệt của từng “ca” đọc trong số 17 nhà văn tham gia phỏng vấn đã tạo nên những bất ngờ thú vị của chuyên đề:
– Phạm Hạ Mỵ Châu thèm sách đến độ đọc và thuộc cả Tướng Mệnh Khảo Luận và Người đàn bà trong tướng mệnh học của Vũ Tài Lục.
– Trần C. Trí với sáng kiến “Việt hoá” bộ truyện tranh tiếng Pháp hình màu là cả một kỳ công phải nói là độc nhất vô nhị (giá lúc đó tôi và Trần Vũ quen Trần C. Trí thì hay biết mấy: khỏi phải mỏi cổ nhìn tranh sách Pháp rồi quay sang đọc chữ sách Việt).

Người đọc sách ngược đời nhất là Cung Tích Biền: bắt đầu đọc truyện thiếu nhi khi lên 19!

– Chỉ có hai người đọc sách đúng độ tuổi là Cao Thanh Phương Nghi và Trần C. Trí, xứng đáng được trao giải Thiếu Nhi trong sáng. Còn lại tất cả đều vượt rào, đọc lén sách truyện người lớn. Trần Vũ nhờ u già giấu truyện vào cạp quần mang lên phòng ngủ cùng ly sữa mỗi tối! Đinh Từ Bích Thuý có được chìa khoá tủ sách nhờ “thương lượng” với chị Hai giúp việc trong nhà. Tru Sa đọc Những Người Khốn Khổ trong nhà vệ sinh. Ngoài ra, có một “thiếu nhi”, cũng tham gia chuyên đề này, đã dùng tờ báo Thiếu Nhi khổ lớn che bên ngoài cuốn Trai Tơ Gái Goá, không may đang ngồi đọc thì bị chị bắt gặp!

Một số người đã nêu những truyện hoặc đã gây ấn tượng sâu đậm, hoặc thể loại yêu thích nhất khi còn nhỏ:

Tâm Hồn Cao Thượng, Vô Gia Đình, Chim Hót Trong Lồng (Nguyễn Lệ Uyên)
Dracula và truyện tranh Manga (Tru Sa)
Ngàn Lẻ Một Đêm (Cao Thanh Phương Nghi)
Kiếm Hiệp của Kim Dung và Chiến Hữu của Eric Maria Remarque (Vũ Thị Thanh Mai)
Các sách về Chiến Tranh (Trần Vũ)
Chinh Phụ Ngâm (Lê Minh Hà)
Chiếc Xe Thổ Mộ Vườn Cau Nước Dâng trong tù sách Hoa Xanh (Trần C. Trí)
Truyện ngắn “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” của Doãn Quốc Sỹ và Con Sáo của Em tôi của Duyên Anh (Phạm Hạ Mỵ Châu)
Truyện tranh Tôn Ngộ Không (Lê Anh Hoài)
Truyện cổ tích, ngụ ngôn, thần thoại về thời những vua Hùng, dã sử, cận sử (Vi Lãng)

Những Giọt Mực
của Lê Tất Điều và Tâm Cảnh của André Maurois (Đinh Từ Bích Thuý)
Con Chim Trốn Tuyết (The Snow Goose) của Paul Gallico (Thu Phong)
Không có tác phẩm nào thật sự gây ấn tượng (Đỗ Quyên)
– Khó chọn vì đọc quá nhiều, đủ loại, và cũng không dễ phân định ranh giới, ví dụ “Một số truyện của Andersen và Oscar Wilde dường như được viết ra dành cho người lớn chớ không phải chỉ dành cho trẻ nhỏ như nhiều người tưởng. (Nguyễn Thị Minh Ngọc)
– Những tác phẩm có “liên quan đến khủng hoảng nội tâm, khắc khoải siêu hình, nghịch cảnh gia đình, tình tan nát, bất công xã hội…được viết với một văn phong không uốn éo, không sứ mệnh, không rao giảng giáo điều, không tô hồng bản thân; chữ nghĩa không bôi son trét phấn xịt nước hoa, không lấp lánh kim tuyến hoặc tráng men.” (Trần Thị NgH.)
– Và Nguyễn Đức Tùng, người đã phân loại những ‘cuốn sách nhất’ của anh: “Cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc: Anh phải sống. Cuốn sách bất ngờ nhất mà tôi đọc: Thằng người gỗ Pinocchio. Cuốn sách đáng nhớ nhất: Thằng Thuộc con nhà nông. Cuốn sách buồn bã nhất: Chim hót trong lồng. Cuốn sách đáng yêu nhất: Tâm hồn cao thượng. Cuốn sách sâu thẳm nhất: Cõi người ta. Cuốn sách điên rồ nhất: Zorba người Hy lạp. Cuốn sách làm tôi bàng hoàng: Chùa đàn. Cuốn sách dở nhất mà tôi đọc: Bắt trẻ đồng xanh. Cuốn sách dũng cảm nhất: Đêm dài một đời

2.

Thời nhỏ tôi không đọc truyện tranh. Vừa mới biết đọc là bố tôi đã mua Sách Hồng, truyện cổ tích Hans Christian Andersen, Ngàn Lẻ Một Đêm, và những cuốn truyện thần tiên mong mỏng có minh hoạ thật đẹp. Tôi thích Sách Hồng hơn những truyện cổ tích: Sách Hồng hay và trong sáng, còn truyện cổ tích có nhiều chi tiết thật đáng kinh sợ đối với trẻ thơ. Đôi Giày Đỏ là một truyện rất ma quái khiến tôi khiếp hãi, chỉ vì thích mang đôi giày màu đỏ mà một cô bé bị trừng phạt thật bất công! Trong bài “Cổ Tích Thời Mới Lớn”, chị Nguyễn Thị Minh Ngọc nhắc đến một truyện cổ tích khác mà tôi đã đọc thời nhỏ: Công Chúa Da Lừa. Cuốn truyện thuộc loại sách làm bằng giấy cứng, lật từng trang thì có hình ảnh bà tiên, lâu đài, xe ngựa dựng lên. Công chúa trong truyện cứ thay áo luôn: áo màu da trời, màu ánh trăng, và màu thời gian. Một điều kỳ lạ là tôi chỉ nhớ những chi tiết về màu áo, còn cốt truyện và lý do khiến công chúa phải bỏ đi trốn thì tôi quên bẵng, cứ như là bị ai lấy tay xoá đi vậy.

Trong trí tưởng, tôi hình dung một chiếc áo màu ánh trăng trong vắt và lấp lánh, hễ công chúa khoác áo này thì trời xụp tối. Khi công chúa thức dậy và thay áo màu da trời thì bình minh mới ló dạng. Đây là những tưởng tượng do tôi tự “viết thêm”, chứ trong truyện không có. Nhưng còn màu thời gian? Khái niệm thời gian sao trừu tượng quá! Tôi suy nghĩ rất lâu về cái màu này, tôi đọc đi đọc lại cuốn truyện, nhưng không tìm ra giải đáp. Tôi muốn nhìn thấy thời gian để biết nó màu sắc ra sao! Tôi hỏi mẹ, và được mẹ đọc cho nghe bốn câu thơ của Đoàn Phú Tứ:

Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh…

Lúc đó mới 6 tuổi, nhưng tôi cũng đã cảm được cái hay của đoạn thơ; tuy nhiên tôi không hài lòng mấy với “vụ” thời gian màu tím ngát! Tôi hỏi nhiều người lớn khác trong nhà xem họ nghĩ màu thời gian là màu như thế nào. Mỗi người cho một màu khác nhau. Có người nói màu thời gian là màu xanh lá cây. Có người giải thích đó là “chiếc áo đã ngả màu thời gian”, tức đã vàng ố, như áo trắng bị đổ nước trà lên. Tôi càng bất mãn hơn, công chúa không thể mặc áo như thế được. Tôi tin rằng màu thời gian phải là một thứ gì bao trùm và mênh mang hơn tất cả các màu hiện hữu. Màu thời gian luôn luôn là một thách đố trí tưởng của trẻ thơ, người lớn, mọi người đọc ở mọi lứa tuổi.

Văn chương thiếu nhi phải là như thế, một chiếc áo màu thời gian.

3.

So với bạn bè cùng tuổi thì việc đọc của tôi rất thuận lợi. Bố mẹ cho tôi tự do đọc rất sớm những sách truyện của người lớn. Năm tôi 7 tuổi đang học lớp hai trường dòng Thiên Ca ở Gia Định thì bị một trận ốm nặng, tái đi tái lại, khiến tôi phải nghỉ học gần hai tháng. Bố mua cho tôi cuốn Thằng Người Gỗ Pinocchio và Tâm Hồn Cao Thượng để đọc trong lúc bệnh, tôi đọc vèo một tuần là xong. Rồi bố vào thư viện trường Chu Văn An mượn về cho tôi một chồng sách Tự Lực Văn Đoàn. Đợt đầu là những cuốn Anh Phải Sống, Đoạn Tuyệt, Hồn Bướm Mơ Tiên, Tiếng Suối Reo, Nửa Chừng Xuân, Gió Đầu Mùa….. Tất nhiên tôi không hiểu hết, nhưng mà đọc vẫn thấy hay, vì đọc theo trình độ 7 tuổi, tức là thích những truyện nhiều đối thoại và sinh hoạt, không thích tả tình tả cảnh nhiều quá. Vì vậy nghe bố khen Đôi Bạn nhưng tôi thích Đoạn Tuyệt hơn nhiều. Lúc đọc Đoạn Tuyệt tôi ngờ ngợ thấy nội dung giống vở Cải Lương chiếu trên TV, hình như do đoàn Kim Chung diễn; tôi tưởng ông Nhất Linh đã “ăn cắp” ý của vở cải lương! Trong cuốn Nửa Chừng Xuân thì tôi hay đọc đi đọc lại đoạn Bà Án đến nhà chì chiết Mai, hay chỗ cậu bé Ái đối đáp lại với Bà Án. Hầu như truyện nào của Khái Hưng tôi cũng thích vì có những nhân vật sống động, cách kể chuyện và miêu tả tâm lý lôi cuốn có duyên. Khi bố tôi mang đợt sách thứ ba về thì tôi đã khỏi bệnh, nhưng vẫn làm ra vẻ còn yếu để được nghỉ ở nhà thêm hai tuần nữa. Hậu quả là tháng ấy tôi bị xếp hạng chót 31/31, cô Thái có vẻ buồn vì tôi vốn là học trò cưng của cô. Nhưng nhờ luyện TLVĐ mà tôi tiến bộ “vượt bực” trong môn Tập Làm Văn. Bài tập chính tả và đặt câu với các chữ cho sẵn tôi luôn được 10/10. Một hôm phát bài, cô Thái nói với cả lớp: “Chắc lớn lên Thơ Thơ nó viết văn cho cô đọc quá!” Tôi nhớ bài tập đặt câu ấy có chữ “chán” và tôi đã thuổng ý trong truyện Khái Hưng và Hoàng Đạo để viết: “Hôm nay trông bố tôi có vẻ chán chường và mẹ chán ngán nhìn mâm cơm chỉ có rau muống chấm tương.”

Mẹ là người hay đọc chung truyện với tôi. Kỷ niệm đáng nhớ với mẹ là cuốn Anh Phải Sống, hễ mẹ thích truyện nào thì tôi cũng thích theo, và thích nhất phải là “Tình Điên” với “Tình Tuyệt Vọng” với bài thơ dịch của Khái Hưng. Vì đọc đi đọc lại nên tôi thuộc lòng bài thơ ấy. Tất nhiên là mẹ tôi tự hào quá sức: “Con mình mới lớp hai mà đã thuộc thơ Sonnet d’Arvers!” Từ đó mỗi lần có khách đến chơi, tôi lại bị mẹ hay cô Từ Dung gọi ra để đọc thơ Tình Tuyệt Vọng. Trước những cặp mắt ngạc nhiên của khách, tôi sẽ nói vài lời về tình yêu của Văn Châu với vợ Tống Thiện, mà Tống Thiện là bạn thân của Văn Châu, và Văn Châu đã đọc bài thơ này trong bữa tiệc Noel có gà quay và rượu sâm-banh. Xong, nhìn vẻ mặt hãnh diện của mẹ, tôi bắt đầu trả bài:

“Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu…”

20201022_142845 hình học bạ năm lớp 2

3.

Sau khi đọc hết TLVĐ thì bố tôi mang về truyện Nhật Tiến. Tôi đọc Nhật Tiến rất hệ thống, từ truyện đầu tay Những Người Áo Trắng, qua Những Vì Sao Lạc, Thềm Hoang liên tiếp đến những tác phẩm về sau Chim Hót Trong Lồng và Tay Ngọc (hai truyện này có liên quan đến nhau, trong Tay Ngọc thì Hạnh đã lớn và tham gia các sinh hoạt xã hội). Tôi đặc biệt thích Chuyện Bé Phượng là một khai triển từ Những Người Áo Trắng, nhưng có nhiều nhân vật cùng lứa tuổi với tôi. Vì đọc Nhật Tiến rất nhiều nên khi đó tôi tự coi mình có “thẩm quyền” để tuyên bố (với bố mẹ) rằng Chuyện Bé Phượng là truyện hay nhất của Nhật Tiến! Tôi yêu mến các chị Quỳnh, Hương, Giang, Đan Thanh và các bạn nhỏ Thu Thu, Alice, Cúc, Phượng trong viện mồ côi. Ngày nào tôi cũng nghĩ về họ như là gia đình của tôi. Những thân phận trong đó ám ảnh tôi nhiều hơn nhân vật TLVĐ vì họ gần gũi với thời đại của tôi hơn. Bác Nhật Tiến là thần tượng văn chương của tôi. Hai năm sau, khi báo Thiếu Nhi ra đời năm 1970, thì tôi lại thần tượng thêm chị Đỗ Phương Khanh nữa. Cũng như anh Trần C. Trí, tôi là độc giả trung thành của tờ Thiếu Nhi, thích truyện dài đăng nhiều kỳ Thuở Mơ Làm Văn Sĩ của bác Nhật Tiến và rất thán phục các anh chị đã có bài viết đăng báo. Tôi nhớ có một người viết ký tên là Thơ Thơ trên Thiếu Nhi và đặc biệt theo dõi người này. Tôi cũng đã đọc những mẩu chuyện cười và một bài thơ, hình như có tựa đề “Bốn Mùa” của anh Trí nữa.

Thời gian đó tôi cũng bắt đầu tập viết truyện ngắn, truyện đầu tiên nói về hai chị em học trường dòng Thiên Ca (tức là tôi và em trai), khi tan học bị mẹ mìn dụ dỗ, cho ăn kẹo có tẩm thuốc mê và bắt cóc đi để đòi tiền chuộc. Tôi đưa cho mấy người em họ ngang tuổi đọc, mấy đứa con trai này chê đủ thứ rồi còn phê bình là truyện phải có hình vẽ mới hay và khuyên tôi nên viết truyện tranh thì họ sẽ đọc. Tức mình, tôi bỏ sự nghiệp viết cho thiếu nhi, và nhẩy sang viết truyện người lớn! Truyện này bị ảnh hưởng “Đợi Chờ” của Khái Hưng:  nàng Phụng đi ngang đồn điền cam của chàng Linh, hai người trò chuyện rồi nàng ăn mấy quả cam trong vườn, rồi chàng thấy yêu mến nàng, rồi hai người từ giã, chàng mong nàng quay lại, ngày ngày ra cổng ngóng nhưng chỉ thấy “trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại…” Truyện của tôi khác một chút: nhân vật chính của tôi tên Diễm Thu (hay hơn tên Phụng ông Khái Hưng đặt); trái cây trong truyện là nhãn vì tôi không mấy thích cam; và tôi cho Diễm Thu quay lại vườn nhãn thăm ông chủ vườn mỗi năm vào mùa nhãn chín, như thế hoàn toàn ngược với đoạn kết của Khái Hưng, và không ai có thể nói là ăn cắp ý của Khái Hưng được! Tôi viết đã gần xong, đã cất giấu rất kỹ “bản thảo”, mà vẫn bị cô Từ Dung moi ra. Rồi cô đem rêu rao khắp nhà, đọc ầm lên cho mọi người nghe: “Ôi giời ơi! Con Tí Thơ nó viết truyện có tên là Chờ Đợi này!” Tôi giận cô lắm và thề là sẽ không viết nữa, chừng nào còn ở chung một nhà với cô.

Sự nghiệp văn chương của tôi năm 1970 đã gặp một trở ngại ghê gớm ngay từ bước đầu, không được hanh thông như anh Trần C. Trí vừa có bài đăng Thiếu Nhi vừa làm báo viết tay; thua xa Phạm Hạ Mỵ Châu có bài gửi Mai Bê Bi, chứ truyện của tôi chưa viết xong đã bị vứt vào sọt rác! Lúc đó chị Nguyễn Thị Minh Ngọc đã hiển hách trên tạp chí Văn và Tuổi Ngọc; chị Trần Thị NgH. có thơ đăng trên trang Các Em Viết của báo Sống và một ngày nọ “cầm truyện ngắn xông vào toà soạn tạp chí Văn”; anh Thu Phong có bài đăng trên báo Tuổi Hoa năm 18, anh Nguyễn Lệ Uyên in báo học trò quay roneo và có truyện ngắn trên Văn, hay anh Đỗ Quyên viết cho Tuần báo Thiếu Niên Tiền Phong ở ngoài Bắc… Sau 1975 không còn “đội” chung một nhà với cô Từ Dung nữa nhưng tôi cũng đã từ bỏ ý định “làm văn sĩ” vì bị dị ứng với những thứ “văn học cách mạng” trong chương trình trung học. Cũng như Vũ Thị Thanh Mai và Trần Vũ, tôi nhất quyết không đọc truyện của miền Bắc, mãi cho đến khi văn nghệ sĩ được cỏi trói thời Đổi Mới tôi mới biết đến Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…

4.

Năm lớp 3 và 4, 1969-1970, sau khi đã đọc hết truyện Việt trong thư viện trường Chu Văn An, bố tôi mang truyện dịch về, phần lớn là những dịch phẩm của Đỗ Khánh Hoan, Lê Bá Kông, Lê Bá Khanh. Tôi đã đọc một tuyển tập truyện ngắn có truyện “Giấc Mơ Mùa Đông”, dịch từ “Winter Dreams” của F. Scott Fitzgerald, “Người Mẹ Ở Mân Vinh (“A Mother in Mannville”) của Marjorie Rawlings, “Ghềnh Đá” (không nhớ tựa đề tiếng Anh) của D. H. Lawrence, và những truyện khác của Katherine Mansfield, Jack London, Hemingway… Một mở đầu vào văn chương thế giới với mỹ quan mới, nhiều khi khiến tôi bỡ ngỡ vì không hiểu hết; và nhiều khi còn khó chịu, không thích, không đồng ý với cách viết (!) vì chưa đủ sức hiểu; nhưng các dịch phẩm này đã cho tôi lờ mờ thấy thế giới văn chương Âu Mỹ khác với văn chương Việt Nam ra sao. Tôi thích Đất Lành và Nạn Nhân Buổi Giao Thời của Pearl S. Buck, Kiều Giang/Jane Eyre của Charlotte Brontë do Hoàng Hải Thuỷ dịch. Trong số sách dịch có một truyện dài dành cho thiếu nhi: Ngày Mai Ra Sao, về đời sống thôn quê ở Mỹ. Tôi không nhớ tên tác giả lẫn dịch giả nữa, hy vọng một độc giả nào đọc bài này có thể mách giúp tôi chăng? Đó là truyện dịch tôi rất thích, vì tìm được “đồng cảm” với cô gái trong truyện có nhiều điểm giống tôi, chẳng hạn như không hoạt bát, không khéo tay, không có tài năng gì đặc biệt, nhút nhát, thiếu tự tin vì hơi mập (thời đó tôi ít dám ra đường vì sợ bị gọi là Bé Bự). Nhưng từ từ cô ta tìm ra ưu điểm của mình, cô bé nuôi heo và đưa heo đi dự thi, đoạt giải nhất Nơ Xanh toàn vùng. Cũng qua truyện đó tôi học hỏi về văn hoá Mỹ, những món ăn, những ngày lễ, và truyền thống đám cưới bạc, đám cưới vàng, những cuộc thi nông phẩm và thú vật của họ. Tôi nói với bố hãy tìm những truyện giống như vậy cho tôi đọc tiếp. Bố là người thương con nhất trên đời, hễ thấy tôi thích gì là đi tìm ngay, thấy con đọc xong một chồng sách là lại mang đi trả, rồi khuân một chồng mới về.

Tôi lên lớp 5 là bước vào thời kỳ truyện chưởng Kim Dung và Quỳnh Dao tung hoành thị trường sách thuê. Lúc này tôi đã được phát tiền ăn sáng nên bắt đầu đi thuê truyện. Nghe bố tôi bàn luận Cô Gái “Đầu” Long với các bác trong gia đình, tôi tưởng truyện nói về một nhân vật bị chém bay đầu, bèn nhịn ăn sáng để dành tiền thuê truyện đọc. Còn bà ngoại thích đọc Quỳnh Dao nên tôi được giao nhiệm vụ đi mướn sách, vừa có tiền để đặt cọc sách vừa được đọc ké. Lúc dịch giả Liêu Quốc Nhĩ dịch cuốn Băng Điểm (氷点; Hyōten) của Ayako Miura gây xôn xao dư luận Sài Gòn, nghe nói cuốn này được giải thưởng 10 triệu Yen, chiếm kỷ lục về tiền bản quyền và được quay phim lẫn chiếu nhiều kỳ trên truyền hình, tôi cũng đi mướn cho bà đọc. Bà đọc xong đưa cho tôi đọc. Tôi còn nhớ bà nói: “Bà có nhiều điểm giống Hạ Chi” (nhân vật chính). Câu nói này làm tôi bị sốc. Vì Hạ Chi là một nhân vật theo tôi rất đáng ghét! Một người phụ nữ đẹp và chỉ thích quyến rũ người khác dù đã có chồng; một con người phản trắc, bất công, giả dối. Người đàn bà này đã gián tiếp gây ra cái chết của đứa con gái Tiểu Lệ, đã hành hạ con gái nuôi Dương Tử, đã âm mưu quyến rũ người yêu của con gái nuôi, vả khiến cô cuối cùng phải tự tử. Tại sao bà lại có thể giống Hạ Chi? Bà giống Hạ Chi ở điểm nào, tôi thắc mắc nhưng không dám hỏi. Cho đến giờ tôi vẫn không hiểu vì sao bà lại nói với tôi câu đó. Truyện Băng Điểm theo tôi chẳng có gì hay, một thế giới đáng sợ toàn những con người dối trá, đầy thù hận, và tâm địa khó lường. Tôi thấy kinh khiếp thế giới ấy và quay lại với sách báo thiếu nhi.

Cả mấy tháng liền tôi chỉ đọc mấy bộ Thiếu Nhi đóng thành tập. Cơ thể đã có những biến chuyển của dậy thì nhưng tâm hồn tôi lại muốn quay về trẻ thơ, tôi đọc báo Thằng Bờm, Hoạ Mi, truyện Tuổi Hoa Xanh/Đỏ. Tôi bắt đầu đọc truyện tranh Lucky Luke và Xì-Trum mà trước đó tôi coi là sách trẻ con. Tôi muốn tin vào những thứ đơn giản và tươi đẹp bằng cách đọc đi đọc lại cuốn Tâm Hồn Cao Thượng mà bố mua để giáo dục con gái. Tôi tìm thấy sự bình yên khi gặp lại những nhân vật can đảm, hướng thượng, biết tranh đấu cho lẽ phải, biết hy sinh. Tôi muốn noi gương họ. Nếu thấy ai bị hiếp đáp, tôi sẽ lên tiếng bênh vực. Nếu thấy cụ già nào chống gậy quờ quạng, tôi sẽ nắm tay dẫn qua đường. Tôi sẽ đứng ra nhận lỗi thay cho bạn như cậu bé trong truyện Cái Lọ Mực. Tôi xin mẹ cho đi học bơi để có thể “cứu người” như một nhân vật trong Tâm Hồn Cao Thượng. Nếu lúc đó có người sắp chết đuối, chắc là tôi đầy hào khí sẽ nhảy ùm xuống nước, để cứu vớt họ (hay may ra thì được họ cứu lại cũng nên!)

Nhưng người ta không thể chỉ đọc mãi một quyển sách, nên dần dần tôi lân la đọc Lều Chõng của Ngô Tất Tố, Bút Nghiên của Chu Thiên, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân. Trên căn gác gỗ nhà bà ngoại có rất nhiều truyện của văn học miền Nam, có lẽ là tủ sách của cô Từ Dung. Có một mùa hè, hình như năm lớp 6, tôi đã đọc lại cuốn Yêu của Chu Tử (lần đầu đọc khi học lớp 3 và bị bà ngoại tịch thu), Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng, Tóc Mây của Lệ Hằng, Đêm Nghe Tiếng Đại Bác của Nhã Ca, Trong Móc Mưa Hạt Huyển của Tuý Hồng, và một truyện nữa cũng của Tuý Hồng nói về hai anh em họ tên Trân và Huyền yêu nhau, rồi cô Huyền có bầu và chết vì phá thai. Tôi cũng đọc bộ tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Đời của Hoàng Hải Thuỷ về thế giới ăn chơi, phòng trà, giang hồ du đãng…; gặp chữ “điếm hạng sang” không hiểu rõ nên phải hỏi mẹ. Cũng như Bích Thuý, năm lớp 6 tôi tò mò đọc bộ Văn Học Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan và cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm. Cũng như Lê Minh Hà, tôi thích âm điệu của thể song thất lục bát trong Chinh Phụ Ngâm, và từ đó mê mẩn khung cảnh vừa não nùng vừa huy hoàng trong hai câu mở đầu của Cung Oán Ngâm Khúc: “Trải vách quế gió vàng hiu hắt, Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng.”

Thấy tôi đọc Cung Oán Ngâm Khúc, mẹ đố tôi những câu hóc búa, chẳng hạn: Con có biết “Bóng dương lồng bóng đồ my chập trùng” là gì không? Với vốn liếng tiếng Hán vừa thu thập được qua Lều Chõng và Bút Nghiên, tôi đoán câu này tả cảnh mặt trời chiếu vào bụi hoa trà mi. Rồi mẹ giải thích nghĩa thật, nghĩa bóng, nghĩa đen câu này cho tôi hiểu, giải thích rất tỉ mỉ và chi tiết nữa! Mẹ tôi là người có tính trào lộng, thích đùa bỡn kiểu Hồ Xuân Hương, đã giảng giải cả những bài thơ “ghê gớm” như Đèo Ba Dội hay Vịnh Quả Mít. Tôi vẫn nghe mẹ và cô Từ Dung nói với nhau rất tự nhiên về những chuyện như thế. Mẹ tôi còn đặt ra những tiếng lóng về các bộ phận kín, mà người ngoài nghe sẽ không hiểu là đang nói gì. Bà ngoại hay nói về mẹ: “Chị ấy tính trẻ con lắm!”

Cũng vào thời gian đó tôi hay sang chơi nhà Cúc, cô bạn hàng xóm cùng tuổi. Cúc có hai người anh khoảng 12, 13 và một cô em gái 9 tuổi. Một hôm bố mẹ Cúc đi vắng, bọn chúng tôi bật TV lên xem và tình cờ thấy cảnh một cặp tình nhân hôn nhau trong một cuốn phim Mỹ. Thế là bốn anh em Cúc cùng rú lên, quay mặt đi, và lấy tay che mắt. Tôi ngạc nhiên ngẩn người ra. Thì ra họ được dạy dỗ rất kỹ, là không được nhìn cảnh nam nữ hôn nhau, vì đó là tội lỗi (gia đình Cúc đạo Công Giáo). Tuy đang che mắt nhưng họ vẫn nhìn được qua kẽ tay, thấy tôi vẫn mở mắt nhìn trân vào màn hình, họ cũng ngạc nhiên không kém, rồi hối thúc tôi: “Nhắm mắt lại! Nhắm mắt lại đi!”

Tình dục là cánh cửa ngăn giữa thế giới văn chương thiếu nhi và người lớn. Văn chương thiếu nhi chỉ có tình cảm mà không có tình dục. Khi người lớn kiểm duyệt sách, họ thường chỉ chú trọng đến nội dung, xem có tình dục không, hoặc tình dục mà viết bóng bẩy thì cũng cho qua (tôi được đọc Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng nhưng bị cấm đọc Yêu của Chu Tử, Chết Cho Tình Yêu của Lệ Hằng và những truyện tình cảm xã hội của Nghiêm Lệ Quân mà chị Thanh người giúp việc hay đọc). Vì trong đầu của những người làm cha mẹ, họ phải bảo vệ sự trong trắng cho con mình. Nhưng bảo vệ đến bao giờ?

Sau này khi làm việc trong ngành giáo dục và dịch thuật, mỗi lần dịch những thứ liên quan đến Sex Education trong chương trình lớp 6-8 (bộ phận sinh dục và chuyện sinh sản, cách ngừa thai và các bệnh truyền nhiễm, HIV và AIDS), tôi lại nhớ đến câu chuyện anh em nhà Cúc và Cung Oán Ngâm Khúc. Có lẽ mẹ tôi muốn áp dụng lối giáo dục của Mỹ khi giảng giải chi tiết về cảnh làm tình giữa ông vua và nàng cung nữ? Có lẽ mẹ nghĩ tôi đã đủ lớn để nói về đề tài này? Có lẽ mẹ muốn tôi lớn nhanh để nghe mẹ tâm sự, để mẹ có thể nói mọi thứ với tôi, tất cả những thứ trong đầu mẹ? Những lúc đó trông mẹ thật giống “trẻ con”, vì cách mẹ nói về những thứ tính dục/tình dục như là nói về trò chơi, với một vẻ nghịch ngợm, như đùa giỡn, tán nhảm, chứ không phải đề cao tình dục, mà cũng chẳng phải để giáo dục về luân lý hay đạo đức gì hết.


5.

Như con thú nhỏ cần ăn nhiều để mau trưởng thành, tôi đọc để chờ ngày lớn lên, đọc để chuẩn bị tham gia vào thế giới người lớn. Trong khi thân thể trẻ con phải chờ từng tháng từng năm để dần tăng trưởng, trí óc tôi muốn mở ra, cấp tốc, vượt khỏi giới hạn của gia đình và nhà trường. Tuổi thơ tôi đọc hổ lốn, không chọn lựa, đọc như một nhu cầu phải có, có gì đọc nấy: sách thư viện, sách thuê, sách trong tủ không bao giờ khoá, truyện tình cảm xã hội của các chị người làm cho mượn. Rất nhiều thứ sách tôi đọc giống như món ăn có chất độc, nhưng dù có bị độc hại thì vẫn phải ăn để sống. Những gì học được từ mẹ, cô, dì, những chị giúp việc, những người phụ nữ, đã làm tôi hiểu biết sớm. Đến một lúc nào đó ranh giới trẻ con-người lớn không còn rõ nữa. Tôi thấy mẹ là một người lớn (mà) trẻ con, còn tôi lúc đó là một đứa trẻ con-người lớn (bây giờ thì ngược lại). Đinh Từ Bích Thuý đã viết rất đúng với những gì tôi cảm nhận thời bé: “tôi là một con người chỉ bé về hình dáng, hơn là một đứa trẻ theo đúng nghĩa dưới ánh mắt bố mẹ tôi.” Thời gian sau 1975, thời thế buộc tôi phải lớn nhanh, vì là con gái đầu lòng, tôi là cánh tay phải vừa lo mọi việc vừa là điểm tựa tinh thần cho mẹ. Đó là quãng đời tôi chưa được sống đúng tuổi. Tôi nghĩ khi người ta phải bỏ lỡ một quãng đời thì bên trong người ta luôn có một khoảng trống, và để lấy lại thăng bằng, sẽ có lúc người ta phải quay lại để sống trọn cái phần chưa được sống. Mẹ tôi đã có một tuổi thơ nhiều “trauma” vì ông ngoại tôi mất sớm. Mẹ không được làm một đứa trẻ với bà ngoại, nên sau này mẹ “sống” lại đứa trẻ đó với tôi. Mỗi người đều có những đứa trẻ bên trong, có khi bị “giú ép” để chín sớm như anh Thu Phong nói; có khi xanh chát không chín được, có khi hoá thạch. Nhưng thường thì chúng vẫn ở yên, chờ dịp thuận tiện, chúng sẽ vùng dậy từ một giấc ngủ để nói những điều lẽ ra phải nói từ lâu; sẽ hành xử, cười đùa như chưa từng bị ức chế bao giờ.

 

20201022_143130  1975- nhà bà ngoại

Truyện “Mười Một Tuổi” của Sandra Cisneros/Phạm Hạ Mỵ Châu chuyển ngữ là một cách nói khác về điều tôi đang tìm cách nói ở đây: “khi bạn mười một tuổi, bạn cũng là mười, là chín, là tám, là bảy, là sáu, là năm, là bốn, là ba, là hai, và là một tuổi… Con người ta lớn lên cũng giống như một củ hành hay những vòng tròn trong thân cây, hay giống như những con búp bê bằng gỗ nhỏ xíu lồng vào nhau, năm này ở trong năm kế đó.”

Tuy bề ngoài chúng ta đã già đi, nhưng những đứa bé-đọc sách ở bên trong thì được miễn nhiễm khỏi quy luật thời gian. Trên những quỹ đạo của các hành tinh vòng quanh trái đất, tôi nhảy từ quỹ đạo này sang quỹ đạo kia. Khi đọc lại những truyện đã đọc vào một thời điểm nào đó trong đời, tôi trở lại chính mình lúc đó. Văn chương có tác dụng bảo quản cảm xúc, ký ức, mùi vị. Văn chương đem lại định nghĩa cho không gian và thời gian đã qua. Chị Trần Thị NgH.viết: “Mỗi lần đọc đều thấy khác. Vừa thấy lại chính mình lúc đọc nó lần đầu và những lần sau, vừa thấy các nhân vật cùng lớn theo mình.” Chúng ta đọc lại, với nhận thức chín chắn của hiện tại và cảm xúc tinh khôi của những ngày thơ. Nếu một lúc nào đó chúng ta đọc lại mà không còn cảm xúc nữa, thì điều này báo hiệu rằng cái tuổi bên trong, một lớp vòng nào đó của thân cây, đã khô cằn, đã chết thật rồi.

Đọc tiểu luận “Khi Còn Bé Tôi Đọc Sách” của anh Nguyễn Đức Tùng, tôi giật mình khi xem đến đoạn này:
“Nếu một người có một trăm cuốn sách quan trọng trong đời, năm mươi cuốn sẽ được đọc trong thời thơ ấu. Những cuốn ấy nếu bạn không đọc trước năm mười bảy tuổi, thì bạn sẽ mất chúng. Dù sau này bạn có bắt đầu đọc chăng nữa, những cuốn sách ấy sẽ không còn ý nghĩa ấy dành cho bạn, cũng tựa như cuốn truyện tranh thời ta bảy tuổi, truyện kiếm hiệp lúc mười ba tuổi, truyện tình diễm ảo mà bạn vừa đọc vừa khóc sướt mướt, vì khi đã lớn rồi bạn không còn khóc được nữa.”

Không hiểu tôi đã đánh mất bao nhiêu cuốn sách trong đời? Nhưng tôi vẫn tin rằng có những cuốn chúng ta không bao giờ mất, dù phải đọc rất trễ trong đời, nếu đó là văn chương thật sự.


6.

Và để một tác phẩm được coi là văn chương thực sự, khi nói về sách truyện dành cho thiếu nhi, thì các tiêu chuẩn là gì? Cần hội đủ những yếu tố nào và có cần phải tránh né những đề tài nào không? Đó là hai câu hỏi quan trọng nhất của phần phỏng vấn. Các nhà văn tham gia chuyên đề đã đóng góp những ý kiến rất quý giá và chân thực, từ chính kinh nghiệm đọc của họ, bằng hành trình viết của họ, và những suy nghiệm/hồi tưởng về tuổi thơ của từng người:

Về nội dung và đề tài:

“Trẻ em rất cần những truyện nâng cao trí tò mò và óc tưởng tượng của các em, thúc đẩy tình yêu thương gia đình, nhân loại, yêu thú vật, cho các em sự chọn lựa giữa đúng và sai, tốt và xấu. Cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Nhà văn cứ thuận theo tự nhiên. Có những kết thúc cần có hậu, nhưng không phải kết thúc nào cũng có thể có hậu” – Phạm Hạ Mỵ Châu

“Nên có nhân vật thiếu nhi/thiếu niên, cần bút pháp giản dị, trong sáng. Nếu có triết lý thì nên nhẹ nhàng, kín đáo. Và dĩ nhiên cần hay, hợp tâm lý trẻ em” – Thu Phong

“Những tác phẩm trong đó tác giả đẩy trí tưởng tượng của trẻ em đến vô tận” – Trần Thị NgH.

“Viết với cảm xúc thật, chừa chỗ cho độc giả sáng tạo, cuộc đời này còn nhiều điều thú vị để kể hơn là sự bi thảm” – Nguyễn Thị Minh Ngọc

“Hôm nay, nghĩa là thời buổi Bây giờ, trẻ em chừng nó “Đi trước” nhà văn. Cái viết ra, nhạt lắm” – Cung Tích Biền

“Viết cho hợp sự phát triển tâm lý và tri thức của người đọc (…), không cần, và không nên, viết táo bạo quá cho trẻ em. Khơi dậy óc tò mò, trí tưởng tượng, đừng gán ép những quan điểm tôn giáo, chính trị, bạo lực, hãy để trẻ em tự nhiên phát triển quan điểm riêng” – Vi Lãng

“Một tác phẩm dành cho thiếu nhi nên tích cực. Không nên mô tả quá bi thảm làm cho các em bi quan, cũng như không nên ủy mị làm cho các em trở thành yếu đuối. Trong sáng và lành mạnh là hai yếu tố cần thiết. Nên tránh các đề tài như bạo lực, tình dục…. Cần phát triển tinh thần yêu gia đình, yêu thiên nhiên, làm các việc có ích cho xã hội…” – Cao Thanh Phương Nghi

“Tôi cho rằng đề tài nào cũng có thể đưa ra, nhưng bao nhiêu chi tiết là tùy ở tuổi. Có rất nhiều giai đoạn từ trẻ em đến hết thiếu niên. Và làm sao cạnh tranh với game” – Vũ Thị Thanh Mai

“Tính dục và bạo lực là đề tài rất cần được tiếp cận ở mảng văn chương này, nhưng phải tôn trọng thế giới xúc cảm của trẻ, phải có một ranh giới để bảo vệ thế giới đó. Nói thế, với tôi có nghĩa là chả có đề tài nào phải tránh, chả cần phải bịt mắt trẻ em trước sự bi thảm nào. Đấy là cuộc đời mà. Cái chính là khả năng xử lý đề tài đó của tác giả. Có những tác phẩm văn học thiếu nhi rất bi thảm mà cao cả, không đi qua được bi thảm làm sao biết được sự cao cả, theo tôi”- Lê Minh Hà

”Yếu tố biến hóa của tác phẩm nới rộng đề tài, chất vấn thông điệp giáo huấn cổ truyền, làm nội dung trở thành bất hủ.“ Đưa ra một cách nhìn mới về trật tự xã hội và quyền lực. Nội dung xoá ranh giới giữa “sự hồn nhiên của tuổi thơ và những đề tài ‘đáng sợ’ của người lớn như sự chết, chiến tranh, bạo lực, sự phản bội, những tư tưởng điên rồ và mù quáng của con người.” – Đinh Từ Bích Thuý

về mặt tư tưởng văn chương thiếu nhi/thiếu niên, văn chương tôn giáo và một vài dạng khác tương tự là các hình thái văn-học-phục-vụ-chính trị, nếu hiểu chính trị theo nghĩa là một hình thức của tư tưởng có định hướng, mục đích, lý tưởng. Nghệ thuật thể hiện các văn chương như thế thường nằm trong một khuôn viên riêng. Nói bạo miệng là nó phải ‘đóng kịch.’ Nó không đời thường. Nó – nhân danh sự nhân bản vốn dĩ hoàn toàn chính đáng và bất khả kháng – được phép nương nhẹ các mâu thuẫn, xung đột tất nhiên của xã hội con người. Được phép nhân nhượng quy luật của tạo hóa. Phải có ‘đạo’, nó dễ bề ‘sến’ ở nội dung. Được phép đơn điệu, nó có thể nhàm về nghệ thuật. Ngay ở các sáng tác thành công, ngoại trừ những kiệt tác.”- Đỗ Quyên

Về hình thức thể hiện:

“Phải có đầy đủ ngôn ngữ trẻ thơ, suy nghĩ trẻ thơ, hành động trẻ con…”- Nguyễn Lệ Uyên

“Sự thành thực và lòng trắc ẩn (…) hình thức chuyển tải mộc mạc nhưng tinh tế, với những hình thái phản ánh cuộc sống giản dị.”- Lê Anh Hoài

“Không cần quá cầu kỳ ở ngôn ngữ và bút pháp. Kinh nghiệm đọc của tôi thì một cuốn sách chuẩn mực nhất ở thể loại này thì cần một văn phong đơn giản, ngôn ngữ chính xác và trong trẻo và nghiêng về tính nhân văn trong khuynh hướng bồi bổ sự trưởng thành. Tránh giáo điều, răn dạy lộ liễu” – Tru Sa

“Một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên phải có tình tiết hấp dẫn, nhiều đối thoại, tránh lê thê dài dòng hay triết lý khó hiểu” – Phạm Hạ Mỵ Châu

“Trẻ em thời nay trong thế hệ khoa học kỹ thuật tân kỳ, với internet, với Google, Facebook, với Instagram, Tik Tok, v.v. dư sức biết còn nhiều thứ hơn là người lớn chúng ta biết được. Trước hiện trạng đó, nhiệm vụ của nhà văn viết cho thiếu nhi là giúp các em có được một trạng thái cân bằng giữa thế giới ảo và thế giới thực. Bằng cách nào? Rất nhiều cách, nhưng một trong những cách đó là, rất trung dung, không vạch trần thực tế một cách quá đáng, nhưng cũng không che giấu thực tế một cách vụng về”- Trần C. Trí


Về tác giả/ nhà văn viết cho thiếu nhi:

Anh Đỗ Quyên đã nêu ra một vấn đề rất hay, đó là tư cách và đạo đức của người viết truyện thiếu nhi. Họ có bị phán xét về mặt đức hạnh, phẩm cách, nhân thân qua những tiêu chuẩn khắt khe hơn những nhà văn khác? Và nếu có, thì điều này là đúng hay sai? Trong thế giới văn chương người lớn, chúng ta đã có sự phân biệt giữa đạo đức của tác giả và giá trị của tác phẩm, hai điều này không nhất thiết phải liên quan với nhau. Có rất nhiều người đạo đức chỉ viết được những tác phẩm xoàng; và nhiều người có đời sống riêng tư bê bối mà viết nên những kiệt tác. Sẽ là một sự bất công với tác phẩm nếu chúng ta cứ xoi mói đời tư của tác giả. Nhưng trong văn chương thiếu nhi thì có khác; bởi yêu cầu giáo dục đặt ngang hàng với giải trí và nghệ thuật, chúng ta không muốn một người bất xứng hay vô luân dạy dỗ con em mình, cho dù người đó có nói giỏi hoặc dạy hay cách mấy. Và chúng ta dạy dỗ con em không chỉ bằng lời nói, mà quan trọng hơn nữa là qua cách sống. Nếu hai điều này trái ngược nhau thì những gì chúng ta nói chỉ là khuyến khích sự dối trá và sẽ phản tác dụng. Vì vậy tư cách của tác giả sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến sự thành bại của một tác phẩm viết cho lứa tuổi thiếu nhi.

Anh Trần C. Trí cũng có ý kiến rất thú vị:
“nhà văn đó phải là một người yêu trẻ—hay cũng có thể là một người không bao giờ muốn lớn—mới có thể có được những suy nghĩ, cảm xúc rất thật của tuổi trẻ.”
“Một tác giả thiếu nhi viết văn hay làm thơ chắc là tác giả thành công nhất, vì tác giả đó chỉ cần dùng văn tài thiên bẩm, cộng với những suy nghĩ, tâm tình chân thực của một thiếu nhi để viết nên tác phẩm của mình.”

Có phải tôi cũng đã tự “viết nên tác phẩm” bằng sự tưởng tượng của trẻ thơ khi đọc những truyện cổ tích đáng sợ ngày còn nhỏ?


7.

Trở lại câu chuyện chiếc áo màu thời gian của công chúa da lừa.

Cuối cùng tôi, đứa bé lên sáu khi ấy, đã cho rằng chiếc áo màu thời gian sẽ luôn đổi màu, tuỳ vào giờ khắc trong ngày. Khi công chúa đứng ngoài nắng thì chiếc áo sẽ màu trắng, khi công chúa vào trong mát thì áo có màu xanh, khi chiều xuống thì áo chuyển màu tím, lúc bình minh thì áo ửng màu hồng. Màu thời gian là muôn màu, màu thời gian là màu luôn thay đổi; cũng có khi không là màu gì cả (như khi công chúa nhắm mắt ngủ).

Truyện cổ tích là những chiếc áo màu thời gian, luôn cần điều chỉnh và thay đổi để thích hợp với khí hậu của thời đại. Trong môi trường đa văn hoá và thế giới toàn cầu hoá, truyện cổ tích cần đặt lại vấn đề với những tư tưởng lỗi thời, kìm kẹp, bất công; cần viết thêm, viết lại, với những phụ chú và diễn dịch đa chiều hơn, nhân bản hơn.

Lê Anh Hoài đã chất vấn những “đề tài cấm kỵ” trong truyện Tấm Cám như đa thê, giết người, trả thù… “với đoạn kết cực kỳ khủng khiếp”.

Đinh Từ Bích Thuý đã viết “Giá trị luân lý của những tác phẩm thiếu nhi–qua lăng kính ngôn ngữ, văn hóa, và quyền lực–không bất di bất dịch, mà từ sự bất an/nhu nhuyễn của nó gợi ra những đối thoại, những phản kháng, để tái tạo huyền thoại cho những thế hệ mới.”

Công Chúa Da Lừa là một câu chuyện cổ tích đáng sợ. Đó là một câu chuyện về đề tài loạn luân[1], vua cha muốn lấy công chúa, người con gái duy nhất của mình. Vậy mà tôi hoàn toàn không nhớ chi tiết này, cho đến khi nghe chị Nguyễn Thị Minh Ngọc kể lại. Có lẽ đầu óc trẻ thơ của tôi đã tự động chặn lại những thứ ghê khiếp của đời sống và chỉ ghi nhớ những hình ảnh huyền hoặc của tưởng tượng về chiếc áo màu ánh trăng, màu da trời, và màu thời gian thôi.

Công chúa da lừa đã được đạo diễn Jacques Demy quay thành phim Peau d’âne năm 1970, tài tử Catherine Deneuve thủ vai công chúa. Cuối phim có cảnh máy bay trực thăng chở nhà vua và bà tiên đỡ đầu của công chúa, và họ tuyên bố sẽ kết hôn với nhau. Bỏ qua những tư tưởng lệch lạc và phản nữ quyền đầy rẫy trong truyện, tôi để ý đến chi tiết chiếc máy bay xuyên thời gian đi từ cổ tích sang điện ảnh. Đó là năm 1970, còn bây giờ thì “không cần phi thuyền tàu bay, xe tốc độ nhanh, chẳng du lịch đâu xa, chúng (trẻ em) có ngay tất cả nghìn trùng thế giới, vạn cổ chí kim, qua cái vật dụng nhỏ nhoi đặt trên mặt bàn, thậm chỉ cầm trong lòng tay” (Cung Tích Biền). Chiếc áo màu thời gian ngày càng phải đa sắc màu hơn để xác định hiện hữu của nó. Văn chương thiếu nhi sẽ phải luôn cập nhật và đi tới, vì tuổi thơ không ngừng tăng trưởng và không có điểm dừng. Như thời gian đi từ đêm sang ngày, ngày vào đêm, con đường từ văn chương thiếu nhi đến văn chương người lớn là một bảng màu đa sắc tinh tế của đậm nhạt, là sự liên tục, qua lại, có chuyển tiếp mà không có ranh giới phân cắt, mà ý nghĩa của một màu tuỳ thuộc vào những màu sắc khác bao quanh. Những vòng tròn của một thân cây, những con búp bê nhỏ xíu lồng vào nhau… tất cả chỉ là một, và một mà là tất cả!



 


[1] Lòi kể của đạo diễn Nguyễn Thị Minh Ngọc: Ngày xửa ngày xưa, tại một vương quốc nọ, ông vua sở hữu một con lừa có thể sản xuất ra vàng nên vua cực kỳ giàu có, vợ của vua vô cùng xinh đẹp, 2 người có nhau một cô công chúa. Nhưng rồi hoàng hậu lâm bệnh khó mà qua khỏi, trước khi mất, hoàng hậu bắt nhà vua hứa rằng, nếu ông tái hôn để sinh người thừa kế thì người con gái đó phải đẹp hơn hoặc sánh ngang với hoàng hậu.

Sau khi hoàng hậu mất, nhà vua đau buồn thương tiếc vô cùng, tuy nhiên vấn đề người thừa kế là chuyện trọng đại nên nhà vua cần phải tái hôn, nhưng tìm bao năm vẫn không hài lòng bất kỳ ai, cho đến khi vua nhìn thấy con gái mình lớn lên càng lúc càng xinh đẹp giống hoàng hậu, vua liền nảy ý định cưới con gái mình.

Công chúa không muốn kết hôn với cha nhưng chẳng thể từ chối trực tiếp, nàng nhờ bà tiên đỡ đầu giúp đỡ và đưa ra yêu cầu bất khả thi nhằm khiến vua cha bỏ cuộc. Nàng yêu cầu vua cha tìm cho nàng một chiếc váy làm bằng tia nắng mặt trời, nào ngờ nhà vua có thể tìm ra và hoàn thành đúng yêu cầu của nàng. Nàng tiếp tục yêu cầu một chiếc váy có màu ánh trăng và một chiếc váy lấp lánh ánh sao, vua vẫn đáp ứng và tặng nàng 2 chiếc váy theo đúng yêu cầu. Bà tiên đỡ đầu mách nước cho công chúa, bảo nàng hãy yêu cầu nhà vua tặng nàng tấm da từ con lừa quý của ông. Yêu cầu đó khiến nhà vua do dự, nếu giết con lừa lấy da đồng nghĩa về sau sẽ không còn vàng nữa và ông vua sẽ mất đi sự giàu có, công chúa nghĩ rằng vua cha sẽ không giết con lừa và từ bỏ ý định kết hôn với nàng, nào ngờ vua quả thật giết luôn con lừa chỉ để cưới con gái.

Công chúa không muốn lấy cha mình, hết cách để trì hoãn hôn lễ thế là nàng định bỏ trốn, cởi hết xiêm y, khoác lên tấm da lừa và chạy trốn khỏi vương quốc, bà tiên đỡ đầu tặng nàng chiếc rương dùng để chứa những bộ xiêm y của nàng. Chạy sang nước láng giềng, Công chúa phụ việc trong nhà bếp hoàng gia. Đến ngày lễ hội, nàng cởi bỏ tấm da lừa và khoác lên bộ xiêm y được cất trong rương. Hoàng tử để ý Cô gái da lừa trông thật là lạ, khi hoàng tử nhìn lén qua lỗ khóa thì thấy nàng trở lại hình dáng xinh đẹp lộng lẫy, từ đó tương tư đến sinh bệnh.

Bệnh tương tư của hoàng tử chữa mãi không khỏi, chỉ có thể chữa lành khi ăn bánh do chính Cô gái da lừa đích thân làm, mọi người ai nấy đều ngạc nhiên vì Cô gái da lừa xấu xí làm sao chữa khỏi bệnh cho hoàng tử đuọc. Công chúa nghe theo lệnh và làm bánh, trong lúc làm bánh thì chiếc nhẫn của nàng rơi vào trong bánh. Hoàng tử phát hiện chiếc nhẫn và tuyên bố sẽ cưới cô gái nào xỏ ngón tay vừa khít chiếc nhẫn, tuy nhiên các cô gái trong cả nước đều không đạt yêu cầu, hoàng tử quả quyết đòi Cô gái da lừa thử chiếc nhẫn, quả nhiên vừa khít. Cha mẹ của hoàng tử thấy Cô gái da lừa xấu xí nên không đồng ý chuyện cưới xin, đến khi thấy nàng mặc xiêm y lộng lẫy trông thật xinh đẹp, họ liền đồng ý. Sau đó, công chúa nghe tin vua cha đã tái hôn, kết thúc ai nấy đều hạnh phúc.

Có người phân tích rằng, hoàng hậu không muốn vua tái hôn, bản thân hoàng hậu lại xinh đẹp nhất nước, nên bà mới bắt vua hứa nếu có tái hôn phải tìm người đẹp hơn hoặc đẹp ngang bà, nhưng bà không ngờ ông vua lại đòi cưới luôn con gái ruột

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)