- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Tự Lực Văn Đoàn Văn học và cách mạng (6)


Sự tiếp nhận Tự Lực Văn Đoàn

Trương Chính là nhà phê bình đầu tiên có những nhận định sâu sắc, đầy chất sáng tạo về Tự Lực Văn Đoàn. Tác phẩm Dưới mắt tôi (1939), phần viết về Khái Hưng, Nhất Linh cũng đầy đủ và chân xác hơn nhiều người viết sau. Ông đã đánh giá Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Trống mái, Gia đình, bằng cái nhìn của một nhà phê bình hiện đại. Những bài viết của ông đến nay vẫn không bị lỗi thời.

Trong thời kỳ miền Bắc triệt hạ Quốc Dân Đảng vì lý do chính trị và bản Đề cương văn hóa của Trường Chinh đã khóa trái văn học trong bốn bức tường hiện thực xã hội chủ nghĩa, loại bỏ những tác phẩm lớn của nền văn học thời kỳ 1932-1945, trong đó có những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn: Trương Chính vẫn đứng vững như cây tùng. Những bài viết của ông về Khái Hưng, Nhất Linh vẫn được in lại trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (Nxb Xây Dựng, 1957) và Tổng tập văn học Việt Nam (Nxb Khoa Học Xã Hội, 1997).

***

Trương Tửu cùng thời với Phong Hóa. Ông ở trong nhóm Nguyễn Vỹ và thơ Bạch Nga, đối lập với Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng Trương Tửu có tính bốc đồng, khi khen Đoạn tuyệt thì hết lời mà khi chê Lạnh lùng, Đời mưa gió cũng thái quá. Điểm này chứng tỏ ông là một người cổ hủ (muốn đàn bà phải giữ đạo tiết hạnh, không chịu được Khái Hưng, Nhất Linh bênh vực một cô gái điếm) và ông cũng không tinh tế lắm vì không nhận ra được giá trị vượt trội của Lạnh lùng bên cạnh Đoạn tuyệt, mặc dù ông được coi là nhà phê bình “mới nhất” vì là người đầu tiên đưa phê bình Mác-xít vào Việt Nam. Sau này, ông là lý thuyết gia của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, viết những bài lý luận nẩy lửa đòi hỏi tự do dân chủ và dìu dắt sinh viên đại học, đó chính là vết son ông để lại cho đời sau.

***

Vũ Ngọc Phan: Bộ Nhà văn hiện đại, 5 tập (1941-1942) của Vũ Ngọc Phan có giá trị dẫn đường trong một thời gian dài. Tuy còn nhiều điểm ông đưa ra cần phải bàn lại hoặc đã lỗi thời, nhưng nhìn chung, bộ sách này là tác phẩm phê bình lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Vũ Ngọc Phan đã vẽ được bộ mặt trung thực của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ. Ông giữ được lòng trung thực khi phê bình, không bè phái, không thiên vị bạn bè, không xu nịnh. Khi miền Bắc “đánh” Nhân Văn, ông im lặng, không về hùa. Ông lui về nghiên cứu ca dao. Đó là một nhân cách.

Điểm đáng tránh: vì người ta coi ông là thầy, nên cứ chép nguyên những gì ông viết, thí dụ Vũ Ngọc Phan bảo Khái Hưng là nhà văn lý tưởng, nhà văn phong tục (có lẽ vì ông biết Khái Hưng đặt tên cho tờ Phong Hóa), Nhất Linh là tiểu thuyết gia luận đề, mọi người cũng cứ chép lại như thế, cả đến Nhất Linh cũng tin mình viết tiểu thuyết luận đề là dở!

Tuy nhiên công của Vũ Ngọc Phan không nhỏ: nếu bộ Nhà văn hiện đại bị cấm ở Bắc, thì ở trong Nam, học sinh trung học vẫn được đọc và học bộ sách này; sau có thêm bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ.

***

Dương Quảng Hàm soạn Việt Nam văn học sử yếu năm 1941, là một trong những cuốn văn học sử đầu tiên của ta, Tự Lực Văn Đoàn được đưa vào chương bẩy, tức là chương chót. Là sách yếu lược, tóm tắt những gì chính yếu cho lịch sử văn học gần ngàn năm, nên chỗ đứng của văn học quốc ngữ chỉ chiếm vài trang. Tuy nhiên giáo sư Dương Quảng Hàm đã có những lựa chọn và phân chia chính đáng: ông chia văn học nửa đầu thế kỷ XX làm hai phái tân cựu và nói rõ đặc tính của mỗi phái, nêu tên những nhà văn tiêu biểu. Thí dụ khi viết về Thơ mới, ông chọn ba nhà thơ tiêu biểu: Hàn Mặc Tử, Thế Lữ và Xuân Diệu, là một lựa chọn tinh tường. Phần về Tự Lực Văn Đoàn, từ trang 453 dến trang 456, sau khi nó rõ tôn chỉ và đường hướng văn chương của họ, ông giới thiệu mấy tác phẩm chính của Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, rồi xác định công việc của Tự Lực Văn Đoàn đã làm. Tuy sơ lược, nhưng những ý kiến của giáo sư Dương Quảng Hàm có giá trị đến ngày nay. Sách viết và in dưới thời Pháp thuộc, nên ông không thể nhắc đến tinh thần chống Pháp của Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng ông không nhắc đến Hoàng Đạo, Thạch Lam, là một thiếu sót.

***

Phạm Thế Ngũ viết bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, một công trình đồ sộ, ba cuốn, in từ 1961 đến 1965 tại Sài Gòn. Đây là bộ văn học sử đầy đủ và đúng đắn hơn cả. Cuốn ba, dành cho văn học hiện đại 1862-1945, ông đã nghiên cứu khá kỹ hai trào lưu tân cựu lớn nhất của văn học quốc ngữ: nhóm Đông Dương-Nam Phong (Nguyễn Văn Vĩnh-Phạm Quỳnh) và nhóm Phong Hóa-Ngày Nay (Tự Lực Văn Đoàn). Về nhóm Tự Lực, ông nghiên cứu các tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh, Khái Hưng, và Thạch Lam. Ông có nhắc đến tính cách trào phúng của Phong Hóa nói chung, nhưng ông không nhận ra giá trị văn trào phúng của Hoàng Đạo. Nhất Linh cho biết: những đoạn Vũ Ngọc Phan viết về Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng đã bị kiểm duyệt của Pháp hồi đó (1942) xoá bỏ[1]. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu tại sao những nhà nghiên cứu thập niên 40, như Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, không hoặc không dám nhắc nhở đến tính cách phản kháng chính trị của Tự Lực Văn Đoàn; nhưng tại sao, những nhà nghiên cứu sau này như Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng cũng bỏ qua?

Ngoài ra, Phạm Thế Ngũ phạm một số sai lầm:

1- Phần về Tự Lực Văn Đoàn, được mở đầu bằng câu: “Nói đến Tự Lực Văn Đoàn, người ta không thể không trước hết nói đến Nguyễn Tường Tam người đã hầu như một mình đứng ra sáng lập ra nó”[2]. Một người nghiên cứu thận trọng không thể viết như thế, bởi vì cả phần Tự Lực Văn Đoàn sau đó, không thấy chỗ nào ông chứng minh được rằng: Nguyễn Tường Tam một mình đứng ra sáng lập Tự Lực Văn Đoàn cả. Nhưng câu này đã được người ta chép lại rất nhiều, từ đó nẩy sinh sự độc tôn vai trò của Nhất Linh trong Tự Lực, bởi vì người ta tưởng Nhất Linh làm tất cả. Thậm chí Vu Gia còn viết: “Lúc đầu, Khái Hưng vẫn tiếp tục viết những bài nghị luận, vì ông cho đó là sở trường của ông. Nhưng ông Nhất Linh khuyên ông nên viết truyện ngắn, truyện dài có tính cách văn nghệ thì hơn. Mãi ông mới chịu thí nghiệm loại này, và sự thành công của ông mỗi ngày một rõ rệt[3] Câu này tiêu biểu cho cách viết suy diễn từ một ý của người đi trước. Nghe người ta kể, hay chính Tú Mỡ, Thế Lữ kể rằng Nhất Linh “bảo” Tú Mỡ làm thơ trào phúng, Nhất Linh “bảo” Thế Lữ viết truyện trinh thám… thì có thể được, nhưng suy ra rằng: Nhất Linh cũng “bảo” Khái Hưng viết truyện ngắn, truyện dài, thì không được nữa rồi. Sai một ly đi một dậm. Nhất là khi những người viết sau, chỉ dựa vào những điều người đi trước đã viết hoặc chỉ dựa trên những giai thoại do vài người ở gần hay ở trong Tự Lực Văn Đoàn kể lại (có khi hoàn toàn bịa đặt) thì nhất định đưa đến sai lầm.

2- Ông lại viết: “Trong tập Những ngày vui viết về sau, Khái Hưng có cho biết họ có ý định khi đó lập một thứ “pléiade” với “bẩy vì sao”. Đó là Nhất Linh tức Nguyễn Tường Tam (cũng ký các biệt hiệu khác Nhị Linh, Bảo Sơn, Đông Sơn), Khái Hưng tức Trần Khánh Dư, Tú Mỡ tức Hồ Trọng Hiếu…” (trang 433-434). Tôi đã rò cả bản trên báo lẫn bản in sách Những ngày vui, không thấy chỗ nào Khái Hưng nhắc đến hai chữ Thất tinh. Việc này tôi sẽ viết rõ hơn trong chương Chúc thư văn học của Nhất Linh, ở đây chỉ đưa ra nhận xét: Phạm Thế Ngũ không đọc Những ngày vui của Khái Hưng. Rồi ông lại tưởng Nhị Linh là bút hiệu của Nhất Linh, thực ra Nhị Linh là Khái Hưng. Sự nhầm lẫn này khiến tất cả những bài viết của Khái Hưng ký Nhị Linh, nhiều lắm, đều được đưa vào “sổ” Nhất Linh. Mà không chỉ mình Phạm Thế Ngũ, nhiều người cũng tưởng như thế, có lẽ họ chép lại cái sai của ông.

3- Ông viết: “Có điều phải ghi nhận là trong tất cả các nhà văn Tự Lực, Thế Lữ có lẽ là người có câu văn tinh vi, rèn giũa hơn cả. Đọc ông, người ta có cái cảm tưởng thấy cái khó tính của người chuyên “đãi hạt sạn” trên Phong Hóa Ngày Nay, và không muốn chấp nhận nơi mình một sự dễ dàng lỏng lẻo nào cả.” (trang 486-487)

Ông lại tưởng ngòi bút chuyên “đãi hạt sạn” trên Phong Hóa Ngày Nay là Thế Lữ, cho nên ông xác định trong tất cả các nhà văn Tự Lực, Thế Lữ có lẽ là người có câu văn tinh vi, rèn giũa hơn cả, bởi vì ông cũng lại không biết, người đãi sạn trên Phong Hóa có bút hiệu Nhát Dao Cạo và Hàn Đãi Đậu là Khái Hưng, một thứ ngự sử văn đàn ở Bắc, giống như Phan Khôi ở trong Nam.

Những sai lầm này khiến ông không nhìn nhận đúng mức vai trò của các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn. Ông cũng không nhắc đến Hoàng Đạo vì ông không nhìn thấy giá trị văn chương hài hước của Hoàng Đạo, sau Hoàng Tích Chu, là người đã khai phá lối viết hoạt kê châm biếm trong văn học Việt Nam và là lý thuyết gia của Tự Lực Văn Đoàn, người đầu tiên viết những bài lý luận nghiên cứu chặt chẽ và sâu sắc về quyền công dân, luật lao động, về xã hội dân sự, đòi hỏi tự do dân chủ và quyền làm người.

***

Nhật Thịnh và cuốn Chân dung Nhất Linh

Cuốn Chân dung Nhất Linh của Nhật Thịnh gần như là tác phầm duy nhất viết về Nhất Linh (còn một cuốn nữa của Lê Hữu Mục, tôi chưa được đọc), do Văn xuất bản tại Sài Gòn, 1966, bản Đại Nam chụp lại ở hải ngoại không đề năm. Nhật Thịnh có công đọc và giới thiệu khá đầy đủ tác phẩm và tìm hiểu cuộc đời, cái chết của Nhất Linh. Ông cũng đã gặp Nguyễn Tường Thiết, con út Nhất Linh để hỏi những thông tin và xin tài liệu hình ảnh khi soạn sách. Ông lại thuộc lớp người có thể tiếp xúc với Nhất Linh lúc sinh thời, nên cuốn sách được nhiều người tin cậy, nhiều nơi trích dẫn và được coi là cuốn sách đầy đủ nhất về Nhất Linh.

Nhưng Nhật Thịnh không quen việc viết biên khảo, nên ông mắc những lỗi lầm quan trọng mà giới chuyên môn không làm:

1- Ông không để ý đến nguồn dẫn chứng, rất ít khi ông viết rõ, trích ở sách nào. Vì vậy, những tài liệu ông đưa ra, nhất là về đoạn cuối đời Nhất Linh, đôi khi rất quý, nhưng lại không có số hiệu tham chiếu (note de référence), nên không tiện dụng.

2- Ông hay chép lại cái sai của người khác mà không kiểm chứng, ngay câu mở đầu: “Nhất Linh (Nhị Linh hay Bách Linh) là bút hiệu của Nguyễn Tường Tam” là đã thấy sai rồi: Không! Nhị Linh là bút hiệu của Khái Hưng. Cái sai này ông chép lại Phạm Thế Ngũ và còn thêm vào hai chữ Bách Linh nữa! Bách Linh là tên Thạch Lam (ít khi ký). Lê Ta (Thế Lữ) trong bài Lê Ta làm báo (PH số 104, 29-6-34) kể lại câu chuyện: Ông ở trọ Bạch Mai, đang đói, được Bách Linh gọi về ở chung nhà Hàng Bông, làm báo một tuần bốn ngày, lương 30 đồng một tháng, v.v…

3- Nhật Thịnh hay thêm thắt, để đề cao sự khám phá của mình về cái tên Nhất Linh, ông viết: “Để đả phá cái quan niệm sai lầm đó [tin rằng mọi việc đều linh thiêng, thần thánh] ông tự cho ông cũng là một cái gì linh thiêng và tự nhận là Nhất Linh, Nhị Linh. Khái Hưng bắt chước ông ký tên Nhất Linh, Nhị Linh hay Tam Linh, Bách Linh.” (trang 19, bản Đại Nam). Vẫn trong “tinh thần” cho rằng Khái Hưng là “đồ đệ” của Nhất Linh, ông bảo Khái Hưng bắt chước Nhất Linh, ký cả bốn tên: Nhất Linh, Nhị Linh, Tam Linh, Bách Linh. Sao tham lam quá vậy? Tam Linh là bút hiệu của Nhất Linh, còn Bách Linh tôi đã nói ở trên rồi. Đó là nhưng sai lầm vì không biết. Nhưng cái sai lầm chính trong cuốn Chân dung Nhất Linh là về phương pháp:

4- Nhật Thịnh viết biên khảo như viết tiểu thuyết vậy, đó là phương pháp biên khảo hư cấu.

Thí dụ trong chương VI tựa đề Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, ông viết như sau:

Hồi Nhất Linh còn dạy ở trường Thăng Long, ông để ý tới một bài khảo luận ngắn trên báo Văn Học, ký tên Bán Than. Chắc anh chàng này có họ với ông Trần Khánh Dư đời Trần, tác giả bài:

Một gánh kiền khôn ruổi xuống ngàn,
Hỏi chi bán đấy? Gửi rằng than

Đột nhiên ông nhớ tới giáo sư Trần Khánh Giư, một người kín đáo, dễ thương, từ đó hai người biết nhau. Nhất Linh thấy Khái Hưng có khả năng hiếm có về văn chương (…) Họ cùng một tinh thần chống Pháp, thấy cần phải sát cánh nhau hơn. Họ thảo luận để thành lập một ban biên tập gồm những người cầm bút có tinh thần hoạt kê và triệt để chống hủ tục, dị đoan” (trang 128).

Về Hoàng Đạo, ông cũng viết như thế:

Hoàng Đạo lấy tên là Tứ Ly. Đó là tên một giờ xấu mọi người đều tránh nhưng ông không kiêng mà còn đặt cho mình cái tên xấu đó. Sau ông bị bọn mật thám Pháp theo dõi và làm khó dễ, bởi ông hay viết những bài công kích người Pháp ở Việt Nam. Để tránh những sự lôi thôi có hại cho tờ Phong Hóa, ông đổi tên là Hoàng Đạo (giờ Hoàng Đạo), trái với Tứ Ly để trêu người Pháp. Vì thế năm 1936, ông bị phát phối đi Đà Nẵng. Trường hợp ông giống như Cao Bá Quát” (trang 128).

Ông tường thuật mọi chuyện một cách rất tự nhiên, như ông đã từng mục kích, ông biết cả Nhất Linh, Hoàng Đạo nghĩ gì, nói gì. Ông còn kể lời Trương Bảo Sơn thuật lại rằng:

Trong khi đi dạy học, anh [Nhất Linh] để dành tiền làm báo, anh kiếm người cộng sự làm báo, tất cả tâm chí anh chỉ để vào có một mục đích là làm báo. Đến khi anh gặp dịp ông Phạm Hữu Ninh nhường cho làm tờ Phong Hóa, anh em không ai ngạc nhiên thấy anh bỏ cái nghề hàng tháng (nghề dậy học) đương cung cấp cho anh ba trăm đồng bạc lương để làm một nghề chỉ đem lại cho anh có 30 đồng bạc, nghiã là 1/10 số lương cũ (trang 34).

Những lời kể trên đây- dù ghi là của Trương Bảo Sơn–cũng không tin được, bởi vì Nhất Linh làm báo từ năm 1932, nhưng ông vẫn dạy học (theo bảng quảng cáo tên các giáo sư trường Thăng Long in trên Phong Hóa). Ông chỉ ngừng dạy trong hai niên khóa 1935-1936 và 1936-1937, rồi ông trở lại dạy niên khóa 1937-1938 (vẫn theo quảng cáo trên Phong Hóa). Hơn nữa Trương Bảo Sơn chỉ gặp Nhất Linh lần đầu ở chiến khu Vĩnh Yên: “Lần đầu tiên tôi được gặp ông [Nguyễn Tường Tam], tiếp xúc với ông là ở Chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng trong tỉnh Vĩnh Yên, sau khi ông từ chức Bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ Liên Hiệp kháng chiến, trên đường ông đi sang Trung Hoa”[4].

Vậy thì làm sao Trương Bảo Sơn có thể biết được những việc xẩy ra khoảng 1930-1932? Mà lại sai như thế thì chắc chắn không do Nhất Linh kể lại cho ông Sơn nghe trong thời kỳ sống chung với nhau ở Hương Cảng rồi.

Cũng vẫn theo cách đó, Nhật Thịnh viết về tuổi thơ của Nhất Linh, đi học như thế nào, ở trường làm gì, bạn bè đối đãi ra sao, hệt như Nhất Linh kể lại. Đặc biệt là đoạn Nhất Linh “theo cách mạng” như sau:

Ông hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Thái Học, lãnh tụ Việt nam Quốc dân đảng, xin gia nhập đảng và tìm đường vào Nam hoạt động. Ngày 4-3-1926 ông tiếp xúc với Vũ Đình Di và Trần Huy Liệu…” (trang 29), nghĩa là cứ như thật, còn ghi rõ cả ngày tháng gặp gỡ nữa. Mặc dù không thấy tài liệu nào nói Nguyễn Tường Tam xin gia nhập đảng của Nguyễn Thái Học cả. (Nếu có thật thì Hoàng Văn Đào đã viết lại rồi).

Ông còn ngây thơ nữa, ví dụ truyện Đi Tây Nhất Linh viết ký tên Lãng Du, có nhiều chỗ ông bịa, nhất là việc ông xin đi Pháp, gửi đến 10 lá đơn mà không được trả lời, phải nhờ cô nhân tình… thế này thế kia, mà Nhật Thịnh tin là thật, trích lại. Sự thật Nhất Linh xin được học bổng của các quan ở Huế cấp cho đi du học.

Vì vậy, cuốn sách của Nhật Thịnh có những giới hạn, đọc như tiểu thuyết thì rất hấp dẫn nhưng khó dùng trong việc nghiên cứu.

Hiện nay có nhiều sinh viên ngoại quốc làm luận án văn chương Việt. Trong bản luận án về Nhất Linh của cô Maria Strakovova, một sinh viên Tiệp Khắc, thấy trích dẫn Nhật Thịnh khá nhiều. Sinh viên Nhật nghiên cứu Việt học cũng có, họ làm việc rất cẩn thận. Aki Tanaka nghiên cứu và làm luận án về Khái Hưng, đã sang Việt Nam ở nhiều năm học tiếng Việt và để thấm nhuần văn hóa Việt nữa. Cho nên chúng ta phải hết sức cẩn thận trong việc nghiên cứu, không họ cười cho.

***

Hiện nước ta giầu mạnh lên là tốt, nhưng không thể tiếp tục lối sống ấu trĩ về văn hóa mãi được, kiểu một cuốn sách có vài câu phê bình chủ tịch Hồ Chí Minh như cuốn Một cơn gió bụi của học giả Trần Trọng Kim, in ra là bị tịch thu liền. Tôi cho đó không những biểu dương sự ấu trĩ tinh thần mà còn là sự tụt hậu sâu xa; cũng như không thể cung cấp cho sinh viên những loại tài liệu về Tự Lực Văn Đoàn, qua bộ sách quý hóa của giáo sư Thanh Lãng dưới đây.

clip_image002

Thanh Lãng và Bản lược đồ Văn Học Việt Nam

Thanh Lãng là giáo sư Đại học Văn khoa, tiến sĩ văn chương Pháp, một trong những giáo sư văn khoa hàng đầu ở miền Nam; ảnh hưởng của ông rất lớn vì ông dạy các đại học văn khoa Huế, Sài Gòn, từ 1957 đến 1975, ngoài việc giảng dạy ông còn viết nhiều sách nghiên cứu.

Bộ sách Bảng lược đồ văn học Việt Nam, hai tập, của ông được dùng ở Đại học Văn khoa và là một trong những cuốn sách được xem là “khuôn mẫu” cho người nghiên cứu. Tự Lực Văn Đoàn nằm trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, phần Văn Học thế hệ 1932 (1932-1945), Chương I: Đặc tính chung của thế hệ 1932.

Năm 1972, khi in bộ sách Phê bình văn học thế hệ 1932, ông đưa phần này lên đầu, có sửa chữa đôi chút và phân chia tiểu đoạn rõ ràng hơn, nhưng vẫn giữ nguyên nội dung câu chữ. Hiện nay, phần viết này lại được đưa lên mạng Chim Việt Cành Nam. Vì vậy chúng tôi thấy cần phải nhìn lại quan điểm của giáo sư Thanh Lãng về Tự Lực Văn Đoàn.

Chọn năm 1932 làm khởi điểm cho một nền văn học mới, Thanh Lãng viết:

Thực vậy, chung quanh những năm 32, nhiều biến cố quan trọng đã xẩy ra, giúp vào việc sửa soạn và xô đẩy, hầu như một cách ức bách, sự thành hình một hướng đi mới, một lối sống mới, một lối hành động mới, một lối cảm xúc mới, một lối suy tư mới… một lối viết mới với những nhà lãnh đạo mới.

Lý do rất phức tạp, thuộc đủ mọi chiều hướng: chính trị, kinh tế, xã hội, văn học, tâm lý…”[5]

Ông kể ra bốn lý do chính đã đưa đến sự đổi mới này:

1- Những biến động chính trị: Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi lên và bị đán áp. Nhiều đảng phái mới ra đời. Đáng kể hơn cả là Đông Dương Cộng Sản Đảng.

2- Việc vua Bảo Đại hồi loan.

3- Những cải cách của nội các Bảo Đại.

4- Lối sống xé rào của vị vua trẻ.

Về điểm số 1: sự đổi mới văn học là do những biến động chính trị, không cần bàn vì ông có lý hay không, không quan trọng. Nhưng ba điểm sau, cần phải bàn lại.

Sự đổi mới phát xuất từ khi vua Bảo Đại về nước?

Để chứng minh rằng gốc gác của việc canh tân là do lòng mong muốn của chính phủ Pháp, ông dẫn lời Albert Sarraut, cựu Toàn quyền Đông Dương, lúc đó là Bộ Trưởng Thuộc Địa, khi tiễn vua Bảo Đại lấy tầu về nước, ở Marseille, nói:

Tâu Hoàng Thượng, Hoàng Thượng sẽ gánh một gánh rất nặng nề, là phải làm một vị Đế vương tân thời, song phải tuân theo cổ tục, Ngài phải làm cho một nước cổ hóa ra một nước kim… ” (Sđd, trang 599).

Và ông cho rằng, việc vua về nước đã làm thay đổi mọi sự, đặc biệt nhà vua đã thay đổi nội các:

Nội các cũ gồm các quan già bị bãi bỏ và theo đạo dụ chỉ ngày mồng 2 tháng 5 năm 1933, vua Bảo Đại công bố thành phần một nội các mới gồm những vị Thượng Thư rất trẻ: Ngô Đình Diệm, Bộ Lại, ba mươi mốt tuổi; Phạm Quỳnh, Bộ Quốc Dân Giáo Dục, bốn mươi tuổi, Hồ Đắc Khải, Bộ Tài Chánh, ba mươi tám tuổi, Bùi Bằng Đoàn, Bộ Tư Pháp, bốn mươi sáu tuổi, Thái Văn Toản, Bộ Công Tác, bốn mươi bẩy tuổi” (trang 602).

Ông cũng cho rằng việc vua Bảo Đại hồi loan làm cho lòng dân khắp nơi hoan hỷ, và đã có ảnh hưởng lớn về mặt chính trị:

Thật vậy, không những người Pháp làm ra mặt hoan hỉ, không những người dân đơn sơ tỏ ra vui mừng vì có được một vị vua đầu tiên văn minh tân tiến, mà cả đến dư luận báo chí toàn quốc đều tỏ nỗi hân hoan và hiên ngang trong dịp vua Bảo Đại hồi loan (…)

Ấy khía cạnh và ảnh hưởng chính trị của việc vua Bảo Đại hồi loan là như vậy.

Đến như việc canh cải học chánh, sửa đổi đường lối giáo dục, vua Bảo Đại cũng có nhiều ý kiến đáng lưu ý, gây được nhiều dư luận thuận lợi cho nhà vua (trang 602-603).

Sau khi trích dẫn dài rộng bài viết trên Văn học tạp chí số 4 tháng 8 và 9- 1932, ca tụng việc ngự giá hồi loan và để chứng minh cho việc vua Bảo Đại được toàn dân ủng hộ, ông viết tiếp:

Tuần báo Phong Hóa cũng có nhiều bài nói về việc vua Bảo Đại hồi loan, nhất là việc loan truyền những chỉ dụ của nhà vua đối với công cuộc canh tân xứ sở.

Tất cả cái chủ trương của vua Bảo Đại cũng như của Pháp lúc ấy là hô hào canh tân, xây dựng một nước Việt Nam mới, cởi bỏ được cái tập tục cũ. (trang 605).

Sau việc ngự giá hồi hương, Thanh Lãng nói đến những cải cách của nhà vua.

Những cải cách của nội các Bảo Đại

Để chứng tỏ nhà vua thực hiện việc cải cách, ông trích lời huấn dụ ngày 10-9-32 của Bảo Đại:

Ta sẽ tuyển dụng cũng như thời xưa là do thí khảo, đề mục luân lý kinh văn và cũng có khoa học về chính trị phép luật tân thời, hễ ai được thắng phân số là trúng tuyển. (…)

… nhân có chánh phủ Bảo hộ đã tổ chức học vụ hay tốt, đặt thầy có mô phạm tân thời, cứ cơ sở vững bền ấy, ta sẽ sửa lại bộ Học sẽ gọi bằng bộ Quốc dân Giáo dục, để biểu minh chú ý.

Ta muốn sắp đặt việc giáo dục của quốc dân theo nền vững bền gia đình giáo dục và luân lý đời xưa.” (trang 604-605).

Bài dụ rất dài, nhưng chúng tôi tạm trích dẫn vài câu như vậy, để độc giả thấy cái tinh thần hổ hỡi của giáo sư Thanh Lãng khi viết những dòng trên đây.

Những dòng này, nếu giáo sư Thanh Lãng viết cuối năm 1932 (vua Bảo Đại về nước tháng 9-1932) thì còn hiểu được, nhưng ông viết ở Sài Gòn, năm 1966-67, thì thật không thể hiểu nổi.

Toàn dân vui mừng và tin tưởng khi vị vua trẻ về nước là điều tự nhiên. Nam Phong số 186 (tháng 7-1933) Số đặc biệt để nghênh giá đức Bảo Đại Hoàng Đế, có những cái tựa hết sức gợi cảm: Vị quốc vương tân thời thứ nhất của nước Nam; Đô thành Huế là trung tâm điểm của chính trị Pháp-Việt. Triều đình mới; Triều đình mới của Việt Nam hoạt động; Những lời chỉ dụ của Hoàng Đế; Các báo Pháp ca tụng đức Bảo Đại…

Nhưng những lời lẽ “phúng dụ” này không sống lâu hơn vài tháng. Những niềm tin cũng theo nhau chết yểu: Phong Hóa đăng tin vua về nước vài tháng rồi tịt. Nam Phong sau số đặc biệt, cũng ngừng luôn. Bởi vì người Pháp có cho vua làm những điều ông mong muốn đâu?

Chỉ hơn một năm sau, sự thực phũ phàng lộ rõ: Người Pháp chỉ đưa vua về để làm bù nhìn. Họ nói miệng chứ không cho vua tự ý cải cách bất cứ điều gì. Rút cục, nhà vua chỉ xin được họ nới rộng việc canh giữ cụ Phan Bội Châu và đặt tên lại cho bộ Học là Bộ Quốc dân Giáo dục mà thôi, bởi vì về việc học, chánh phủ Bảo hộ đã tổ chức học vụ hay tốt, đặt thầy có mô phạm tân thời” rồi.

Năm 1995, khi chúng tôi phỏng vấn giáo sư Hoàng Xuân Hãn, người đã từng kèm toán vua ở Paris, ông ngậm ngùi nhắc lại chuyện ông về thăm vua năm 1934, ông nói với vua: “Những người thanh niên Việt Nam nhiều người nhìn vào Ngài về cải cách này, cải cách kia, thì phải làm cái gì, chứ mà ai cũng để ý tới, nhất là thanh niên Việt Nam. Ông chỉ giả lời tôi một câu, lúc ấy ông chỉ nói: Làm thì làm với ai? Làm với ai? Rồi năm 1942, ông về Huế, lại đến thăm vua lần nữa: “Thấy bộ ông ấy buồn lắm. Trông thấy ông ấy buồn lắm và ông ấy không dám nói một cái gì hết cả!”[6] Đó mới là sự thực.

Nếu giáo sư Thanh Lãng đã nhìn thấy Tất cả cái chủ trương của vua Bảo Đại cũng như của Pháp lúc ấy là hô hào canh tân, xây dựng một nước Việt Nam mới, cởi bỏ được cái tập tục cũ” thì thực là ông quá ngây thơ hoặc ông quá nông cạn. Năm 1932, học giả Phạm Quỳnh cũng đã tin như thế, ông bỏ Nam Phong để về Huế làm Thượng thư, rồi cũng không làm được gì cả, nhưng ông ở lại Huế, có lẽ vì không nỡ để vua một mình. Ông Ngô Đình Diệm chỉ ở lại ít lâu, biết mình không có thực quyền, cũng đã từ chức. Vì thế khi Nhật đảo chính Pháp, trao lại chính quyền cho Bảo Đại, nhà vua đã mời hai học giả Trần Trọng Kim và Hoàng Xuân Hãn về Huế, lập chính phủ. Hoàng Xuân Hãn kể lại: “Ông Bảo Đại đã nói với cụ Kim cũng như với tôi là:Từ trước đến giờ các anh muốn nước Việt Nam độc lập, bây giờ có cơ hội thì lại chối, mình không chịu [nhận] độc lập, thế rồi sau này nói thế nào [với quốc dân]?” Vì câu ấy, mới convaincre [thuyết phục] được cụ.”[7] Xem như vậy, người Pháp chưa hề có ý định để cho ta độc lập dù họ có lập ra mấy chính phủ mới cũng thế thôi. Chỉ đến khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, với những nhà trí thức chân chính, trong bốn tháng, đã làm được những việc cải cách thực sự, nhất là về giáo dục.

Vậy mà giáo sư Thanh Lãng viết về chính phủ Trần Trọng Kim như thế này: “Chính phủ Trần Trọng Kim đã nhờ vào thế lực của Nhật, lật được ách thống trị của Pháp để tuyên bố độc lập, nhưng nền độc lập của chánh thể Trần Trọng Kim không được ai để ý, thậm chí có người còn không biết đến” (trang 637). Cách viết của Thanh Lãng là như thế, đầy những lỗi “tầy đình”: Chính phủ Trần Trọng Kim lật được ách thống trị của Pháp? Lật như thế nào? Bao giờ?

Lối sống xé rào của vị vua trẻ

Để chứng minh “công lao” của nhà vua trong việc “cải cách”, giáo sư Thanh Lãng viết:

Bởi vì vua Bảo Đại, như ta thấy, tỏ ra rất ham cải cách, bỏ các thói tục cổ hủ như tục lạy lục. Lần đầu tiên, một nhà vua Việt Nam đã dám du tuần khắp nước một cách bình dị như vua Bảo Đại. Cũng lần đầu tiên, một vua Việt Nam lấy có một vợ mà người vợ ấy vừa là con gái bình dân, vừa là người công giáo, một tôn giáo dầu sao vẫn chưa được triều đình, nhất là hoàng tộc ưa thích. Vua Bảo Đại đã hành động theo sở thích chứ không hành động theo lễ giáo, hay tập tục cũ, dưới sự thúc bách của hoàng tộc” (trang 632).

Và ông đưa ra một kết luận xanh rờn:

Đi trước cả Khái Hưng, Nhất Linh trong Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Bảo Đại đã tranh đấu thành công cho việc tự do kết hôn, cho chế độ, độc thê, mà nhất là trong việc đánh thẳng vào chế độ đại gia đình. Bảo Đại đã chủ trương tự do cá nhân trước cả Tự Lực Văn Đoàn” (trang 632-632).

Giáo sư Thanh Lãng đã lầm lộn một hành động cá nhân với sự tranh đấu cho một xã hội: vua Bảo Đại lấy một vợ là chuyện riêng của ông ấy, vả lại ông đi Pháp từ lúc 9 tuổi, được vợ chồng ông cựu công sứ Charles nuôi, thấm nhuần văn hóa Pháp, thì chuyện lấy một vợ chẳng có gì là lạ. Chỉ khi nào nhà vua ra được đạo dụ cấm đa thê, thì lúc đó ông mới cải tiến xã hội Việt Nam. Ông làm vua, đã không có quyền cai trị dân tộc mình, mà lại còn không được tự do lấy vợ nữa, thì sống làm gì? Giáo sư Thanh Lãng có nghĩ đến điều đó chăng?

Tệ hại nhất là ông giáo sư còn cho rằng: vua Bảo Đại đã làm tất cả mọi việc trước Tự Lực Văn Đoàn: “Bảo Đại đã tranh đấu thành công cho việc tự do kết hôn, cho chế độ, độc thê, mà nhất là trong việc đánh thẳng vào chế độ đại gia đình. Bảo Đại đã chủ trương tự do cá nhân trước cả Tự Lực Văn Đoàn.”

Không! Vua Bảo Đại đã bị Pháp bó chân bó tay từ năm 1933 rồi. Việc xã hội Việt Nam cải tiến, không hề nhờ Bảo Đại, mà phần lớn là nhờ tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, nhờ văn trào phúng của Hoàng Đạo, văn nghị luận của Hoàng Đạo, tranh hý họa của Nguyễn Gia Trí, những người ấy đã hy sinh cả cuộc đời để theo đuổi cuộc tranh đấu này. Nếu Thanh Lãng không nhìn ra, thì cũng đừng bội bạc xoá bỏ.

Nhưng tác hại sâu xa nhất là việc Thanh Lãng hiểu lầm, hoặc cố ý xuyên tạc chủ trương của Phong Hóa Ngày Nay. Trong phần giới thiệu bộ mặt của nền văn học mới, tất cả nhận định của ông về báo Phong Hóa, đều xoay quanh một điểm: Phong Hóa hạ bệ tất cả.

Phong Hóa hạ bệ tất cả

Để giới thiệu Phong Hóa, câu đầu Thanh Lãng viết rất nồng nhiệt:

Trước khi được đặt dưới quyền điều khiển của Nguyễn Tường Tam, tuần báo Phong Hóa của ông Phạm Hữu Ninh, ngay từ số 1 ra tháng Juin 1932, cũng đã có một nội dung khác hẳn các báo đương thời cả về văn cũng như về ý tưởng. Trần Khánh Giư (Khái Hưng) là cây bút cốt cán, giữ nhiều mục quan trọng trên Phong Hóa suốt từ số 1 cho đến số 14.

Nhưng từ số 14 ra cuối tháng Septembre 1932, khi mà Nguyễn Tường Tam đứng ra điều khiển tờ báo này với sự cộng tác thường xuyên của Khái Hưng, Tú Mỡ, Tứ Ly (Hoàng Đạo)… thì báo Phong Hóa quả là trái bom nổ giữa làng báo” (trang 610).

Sau lời giới thiệu “hoành tráng” đó, giáo sư Thanh Lãng bắt đầu công phá. Trước hết, ông nhắc lại công lao của Nam Phong:

Thực vậy, trong suốt mười mấy năm trường, Nam Phong hầu như giữ công việc của một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều là hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo, chữ Nam Phong chế ra mọi người đều dùng. Người ta coi Nam Phong như bậc thầy” (trang 611).

Ông ca tụng Nam Phong như vậy, để tung ra câu kế tiếp:

Vậy mà năm 1932, vừa bắt đầu ra đời, tuần báo Phong Hóa đã đánh thẳng vào Nam Phong, đánh các người lãnh đạo Nam Phong, đánh chính báo Nam Phong, đánh ngay cả chủ trương về tư tưởng và nghệ thuật của nhóm Nam Phong bênh vực, tức là quốc dân bênh vực có trên hai chục năm.” (trang 611)

Không thể tuyên bố như thế về một tờ báo, dù là tờ Nam Phong, nhất là người đó lại là một giáo sư đại học về văn chương. Bởi vì chính sự suy nghĩ và suy xét, không cho phép ta công kênh bất cứ một tờ báo nào lên hàng thầy của một dân tộc cả. Mà đại học là ngưỡng cửa mở cho sinh viên vào suy nghĩ, suy luận, trước khi công nhận bất cứ điều gì. Đành rằng Nam Phong có những giá trị không thể chối cãi được, nhưng không ai có thể nói rằng: Điều gì Nam Phong viết ra đều là hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo.

Việc định tội ở đây rất rõ ràng: Sau khi kể công trời biển của Nam Phong, Thanh Lãng giáng một đòn chí tử: Đánh vào Nam Phong, đánh vào các lãnh đạo của Nam Phong, tức là đánh vào quốc dân bởi vì Nam Phong là thầy quốc dân! Một thứ lập luận như vậy, làm sao có thể chấp nhận được ở thời buổi tự do dân chủ, tự do báo chí.

Sự cấm phạm thượng, là nguyên tắc của hai chế độ: quân chủ chuyên chế và độc tài toàn trị. Việt Nam đã có kinh nghiệm nhỡn tiền: sau bao nhiêu năm (miền Bắc từ 45, cả nước sau 75) bị cấm cười, các nhà văn hài hước bị tuyệt chủng, bây giờ nếu muốn gây giống lại, thì phải cho in tác phẩm của Hoàng Đạo, chủ soái của loại văn hài hước châm biếm này.

Tôi không nghĩ giáo sư Thanh Lãng chịu ảnh hưởng Vua Chúa hay Xít-Ta-Lin; là linh mục nên có lẽ ông bị ảnh hưởng của Giáo hội nhiều hơn. Thái độ của ông nhắc ta nhớ lại thời kỳ Giáo hội Trung cổ cấm cười, sách hài hước bị khoá trái trong phòng cấm của thư viện, tẩm thuốc độc, kẻ nào to gan dám lẻn vào đọc lén sẽ bị đầu độc chết cứng mà Umberto Eco miêu tả trong Le nom de la rose (Tên đoá hồng). Giáo sư Thanh Lãng đậu tiến sĩ văn chương Pháp, tất ông cũng đã đọc qua Rabelais. Từ thế kỷ XVI, Rabelais đã đem cả mọi tầng lớp trí thức, quý tộc, vua chúa, cha cố, ra chế giễu, đặc biệt ông coi những giáo sư đại học Sorbonne là bọn sâu bọ rắn rết cả. Vậy giáo sư Thanh Lãng cũng cấm à?

Tôi đã đọc Nam Phong và Phong Hóa và không thấy chỗ nào Phong Hóa đánh ngay cả chủ trương về tư tưởng và nghệ thuật của nhóm Nam Phong bênh vực, như giáo sư Thanh Lãng viết, bởi vì Nam Phong chẳng bênh vực một chủ trương tư tưởng và nghệ thuật nào cả.

Còn lãnh đạo tờ Nam Phong thì chỉ có Phạm Quỳnh, mà Phong Hóa (tức Tứ Ly và Nguyễn Gia Trí, đàn em) có viết hay vẽ tranh chế giễu Phạm Quỳnh, cũng chỉ bông đùa, có khi dùng Phạm Quỳnh làm ô dù che giấu những bài khác đánh thẳng vào bọn quan lại bồi Tây thứ thiệt. Họ thừa hiểu công lao Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn chương quốc ngữ, và họ luôn luôn thầm kính trọng. Trái lại, họ hay đùa nhả với Nguyễn Tiến Lãng, “lãnh tụ” Nam Phong sau khi Phạm Quỳnh vào Huế, vì Nguyễn Tiến Lãng cùng tuổi với họ (sinh năm 1909) là con rể Phạm Quỳnh, lại chuyên viết văn tiếng Tây (vì ông Lãng viết tiếng Việt rất dở), lại thích viết truyện sầu thảm u buồn (Eurydice), được toàn quyền Robin (người đã ra lệnh thả bom Cổ Am) cấp học bổng vào trường Albert Sarraut, rồi năm 1934 làm bí thư cho Robin, v.v… ngần ấy thứ đủ cho họ lấy Nguyễn Tiến Lãng ra làm bung xung, chế giễu.

Giáo sư Thanh Lãng, là người hiếm hoi có đủ bộ Phong Hóa, từ những năm 60, nhưng dường như ông chỉ đọc những chỗ “chửi”, như ta sẽ thấy ở dưới, để thốt ra những lời như vậy.

Điểm ông chú ý ở đây, không phải là văn chương Tự Lực Văn Đoàn, không phải sự khai sáng văn chương quốc ngữ của họ, cũng không phải sự tranh đấu chống thực dân, đòi tự do dân chủ của họ, mà ông chỉ chú ý trích dẫn những câu họ chế giễu các cụ, ví dụ trong báo Xuân, có những câu:

– Mừng cụ Hoàng Tăng Bí tăng phúc, tăng lộc, tăng thọ, tăng bí.

– Mừng cụ Nguyễn Văn Vĩnh đầu năm học xem tử vi, cuối năm xem thầy số.

– Mừng cụ Huỳnh Thúc Kháng dùng chữ Nho nhiều bằng năm bằng mười năm ngoái.

Để buộc tội họ là “công kích cá nhân” (trang 614).

Sau khi giới thiệu Phong Hóa với những lời láng mượt: “Tuần báo Phong Hóa là luồng gió mới, làm xáo trộn tất cả trật tư xã hội, thổi tung những lớp bụi bặm phủ đầy trên lâu đài văn hóa cũ một lần nữa bay mù trời” (trang 611). Ông tấn công ngay: “Phong Hóa bắt đầu mở chiến dịch khiêu khích, hạ bệ hai lãnh tụ của hai cơ quan ngôn luận lớn nhất của thế hệ trước, tức Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí” (trang 612).

Và Thanh Lãng đã dành 14 trang sách khổ lớn (từ trang 612 đến 624) để trích dẫn và kể tội Phong Hóa đã “phạm thượng”, đã “chửi “người đi trước như thế nào. Ông còn nhấn thêm:

Những điều mà Phong Hóa đánh đấm chẳng phải đánh đấm vu vơ đâu. Nó nằm trong chủ trương, đường lối của cả nhóm. Một bản tuyên ngôn của Tự Lực Văn Đoàn đã nói lên điều nhận định của tôi” (trang 622), rồi ông cho in lại cả bản Tuyên ngôn và bản Tôn chỉ của Tự Lực Văn Đoàn để “chứng tỏ” điều đó. Hai văn bản này (đã in trong chương Sự thành lập Tự Lực Văn Đoàn, phần I), những người viết về Tự Lực đều biết, chưa thấy ai coi đó là văn bản chủ trương việc “đánh đấm” ai cả.

Phản ứng của Nguyễn văn Vĩnh

Thanh Lãng luôn luôn dùng những chữ khuếch đại để xác định “tội trạng” của Phong Hóa:

Từ bao nhiêu lâu, khắp từ Nam chí Bác, dư luận đâu đâu cũng có Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là hai ông tổ của văn học thế hệ 1913-1932. Vậy mà Phong Hóa số 14, 22 Sept. 1932, đã đặt vè để chế giễu hai ông chủ bút Đông Dương và Nam Phong tạp chí. (trang 612).
Như vậy, đối với thế hệ cũ, chẳng riêng gì con người họ bị bêu xấu, cơ quan ngôn luận của họ bị chế diễu mà chính cả đường lối của họ từng được cả quốc dân ca ngợi nay cũng bị nhạo báng” (trang 619).

Thực quả linh mục Thanh Lãng không biết cười. Ông kém xa Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, những người bị Phong hóa chế giễu. Phan Khôi, trên Phong Hóa số 26 (16-12-1932) trong bài Cái địa vị khôi hài trên văn đàn, không những bênh vực tiếng cười mà còn nói rõ công dụng giáo hóa của tiếng cười, chúng tôi đã trích dẫn kỳ trước. Nguyễn Văn Vĩnh cũng không giận mà còn bênh vực Phong Hóa trên Annam nouveau như sau:

Báo ấy đã tả những tính cách buồn cười và nhiều khi vẽ phác ra bằng những nét bút rất có ý nhị. Họ chỉ hơi ác thôi. Nhưng không hề gì, mà chính chúng tôi đây cũng vui lòng để họ riễu cợt, vì khoa hài hước có quyền làm thế, nhất là ở xứ này, ở một dân tộc thích chế nhạo như dân tộc ta. (Annam nouveau, 9-6-35)

Khi Nguyễn Văn Vĩnh từ trần, Phong Hóa số 186 (8-5-1936) loan tin: Về dịp ông Nguyễn Văn Vĩnh tạ thế các báo hàng ngày nghỉ một kỳ và các tuần báo ra chậm một ngày để tỏ lòng thương tiếc. Và có bài viết sau đây:

Ông Nguyễn Văn Vĩnh đã tạ thế

Ông mất ở bên Lào, trong khi đang theo đuổi trong các rừng rậm cái công việc của một người đi tìm vàng.

Tại sao ông lại rời bỏ Hà Nội và tờ báo “Annam mới” sang bên đó làm việc ấy, người ta đã biết rõ rồi. Người ta còn bàn luận nhiều và than thở về sự thất bại trong các công việc của ông nữa.

Nhưng sự thất bại đó không làm gì. Cái mục đích của cuộc đời ông Vĩnh không phải ở sự thành công. Nếu như một người khác, chỉ yêu cầu một điạ vị chắc chắn và an nhàn thì ông Vĩnh đã thừa có thể. Nhưng ông Vĩnh là một người ưa hoạt động, đời ông là một cuộc đời hoạt động cho đến cùng, nên đối với cái kết quả của các việc, ông không quan tâm đến.

Ông là người Annam đầu tiên hiểu rằng cuộc đời an nhàn mà các cụ ta xưa mong ước, là một cuộc đời đáng chán, đáng buồn. Ông đầu tiên hiểu rằng chỉ có hoạt động, thì một cuộc đời mới có ý vị và đáng sống, chỉ sự hoạt động mới làm cho con người ta trở nên có giá trị và giúp ích cho mọi người.

Đời ông đã sống, tuy có thất bại trong công việc làm ăn, nhưng vẫn là một cuộc đời đầy đủ muôn phần. Ông chết đi chúng ta mất một người đáng trọng, đáng kính, mất một cái “nghị lực hoạt động” là sự đáng quý nhất trong đời bây giờ.

Chúng ta lại mất một nhà văn và một nhà báo nữa. Những công việc ông đã làm trong văn chương và báo giới, chúng tôi không cần nhắc lại. Chúng tôi chỉ nói rằng ông là người An-nam đầu tiên đã đoán biết cái sức mạnh vô cùng của báo chí, cái sức mạnh vô cùng của chữ quốc ngữ- đã dùng hai cái lợi khí đó để truyền bá tư tưởng mới cho đồng bào.

Chúng ta lại nên biết nữa rằng, tuy có nhiều sự cám dỗ mãnh liệt, mà ông vẫn trung thành với nghề nghiệp cho đến tận bây giờ.

Một sự như thế cũng đáng để cho ta phải nên phục ông rồi.

Huống chi thất bại mà không ngã lòng, có tuổi mà không chán nản, ông thực đáng làm gương cho bọn thiếu niên ta nữa.

Ông mất đi đó là một tin buồn chung cho mọi người biết nghĩ.

Chúng tôi ngậm ngùi thương tiếc kính viếng ông, và xin có lời trân trọng chia buồn cùng tang quyến.

Tự Lực Văn Đoàn

Bài này chắc Tứ Ly viết, vì Tứ Ly là người chế giễu ông Vĩnh nhiều nhất, nhưng cũng hiểu ông Vĩnh sâu xa nhất, Tứ Ly đã nhận diện được những nét chính trong tư tưởng và hành động của Nguyễn Văn Vĩnh:

– Thành công không phải là mục đích cuộc đời của Nguyễn Văn Vỉnh.

Đời ông là hoạt động cho đến cùng, còn kết quả không quan trọng.

– Ông là người Việt đầu tiên hiểu rằng cuộc đời an nhàn của các cụ, là đáng chán, đáng buồn.

– Ông là người Việt đầu tiên hiểu rằng chỉ có hoạt động, mới làm cho con người có giá trị.

Ông là người Việt đầu tiên đã nhìn thấy sức mạnh vô cùng của báo chí, của chữ quốc ngữ. và đã dùng hai lợi khí đó để truyền bá tư tưởng mới cho đồng bào.

Thất bại mà không ngã lòng, có tuổi mà không chán nản, ông thực đáng làm gương cho bọn thiếu niên.

Ngoài Tứ Ly, mấy ai thấy rõ Nguyễn Văn Vĩnh như thế? Những nhận định này đã có và sẽ có trong những bài viết của Tứ Ly, như một thứ chân lý sống và tranh đấu cho tuổi trẻ. Tứ Ly hiểu Nguyễn Văn Vĩnh một cách sâu sắc hơn Thanh Lãng rất nhiều, bởi Thanh Lãng chỉ đưa ra được những lời tôn vinh huê dạng và rỗng nghiã.

Về việc chế giễu Tản Đà, Thanh Lãng cũng viết những câu thái quá:

Nhưng chẳng hiểu tại sao Phong Hóa lại như có thù riêng gì với thi sĩ Tản Đà! Trong suốt mấy tháng cuối năm 32 đầu năm 33. Chẳng mấy số báo mà Phong Hóa buông tha nhà thơ sông Đà núi Tản” (trang 616). “Họ chửi ông đủ điều, họ làm thơ họa vận để rêu ruốc ông” (trang 617), rồi Thanh Lãng chép lại bài thơ Tứ Ly họa thơ Tản Đà để “rêu ruốc”. Sự thật thì Tản Đà làm thơ mắng mỏ Phong Hóa trước, rồi Tứ Ly mới họa lại! (PH số 29).

Khi bàn về thơ mới cũng lại moi tội Phong Hóa:

Phong Hóa đánh thơ cũ bằng cách đánh thẳng vào Tản Đà được coi là linh hồn, là hiện thân của thơ cũ. Hầu như chẳng có mấy số mà Phong Hóa không có bài chế diễu nhà thơ sông Đà núi Tản, mà chế diễu một cách tàn nhẫn. (trang 670).

Việc Tản Đà tôi đã nói trong bài trước rồi, chỉ xin nhắc lại: Tản Đà không giận mà còn có vẻ khuyến khích việc chế giễu này, đôi khi thấy lâu lâu “nó” không trêu mình cũng buồn, nên thi sĩ làm thơ khiêu khích “nó” trước, để “nó” trả lời cho vui.

Lối viết của Thanh Lãng rất một chiều: thấy Nhất Linh bị buộc tội “bốc” người nhà, bị đánh hội đồng vì đã viết bài giới thiệu thơ Thế Lữ, Thanh Lãng cũng nện thêm. Hoặc ông không nhắc gì đến vụ Thạch Lam bị Phan Trần Chúc đăng tin úp mở đổ tội “ăn cắp cravate bị cảnh sát bắt”, vụ này ầm ĩ lên, khiến Hội nhà báo phải họp “đại hội đồng” để hòa giải cuộc bút chiến giữa Tân Việt Nam (Phan Trần Chúc) và Ngày Nay (Thạch Lam và Thế Lữ); hội đồng tuyên bố Phan Trần Chúc có lỗi, có cả biên bản của Trần Huy Liệu và Nguyễn Trọng Trạc (Ngày Nay số 83 (31-10-37).

Vậy việc bút chiến là đặc tính chung của báo chí thời đó, có lẽ cũng để bán báo nữa. Khi họ cãi nhau thì bên tám lạng bên nửa cân, chẳng ai chịu thua ai cả. Nhưng Thanh Lãng chỉ chăm chú bới lông tìm lỗi của Phong Hóa.

Không phân biệt thể loại văn chương

Thanh Lãng viết một câu rất đáng chú ý:

Nhưng điều đáng chú ý là sự ra đời của mấy truyện như Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, Tôi kéo xe của Tam Lang. Từ cách xây dựng truyện đến cách đặt vần đề, cách mô tả tâm lý các truyện mà nhất là lời văn dễ dãi, linh động; ba tác phẩm này như vạch ra một vạch lớn phân đôi hai thế hệ trước (13-32) và thế hệ sau (32-45) (trang 625)

Như vậy, Thanh Lãng coi ba tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, tiểu thuyết (1932), Kép Tư Bền, truyện ngắn (1935) và Tôi kéo xe, phóng sự (1932, in 1935) đều là truyện cả, bởi vì ông không phân biệt được các thể loại khác nhau và các nhà văn khác nhau.

Tam Lang viết phóng sự, phóng sự thuộc loại tài liệu sống của nhà báo. Còn truyện ngắntiểu thuyết là sản phẩm của nhà văn. Vậy không thể coi cả ba thể văn này đều là truyện được.

Phóng sự có thể sống động rất hay, nhưng chưa phải là cái hay của một tiểu thuyết, bởi vì nhà phóng sự chưa quán xuyến được mặt hậu của chữ nghiã, tức là chưa liên lạc được chữ nghiã với tư tưởng nằm sau chữ nghiã, nói rõ hơn: nhà phóng sự chỉ mô tả những gì xẩy ra, nhà văn qua những sự việc mô tả, nói lên những bộ mặt khác của xã hội và con người. Thạch Lam cũng bắt đầu bằng viết phóng sự. Trường hợp điển hình là Vũ Trọng Phụng, ông bắt đầu bằng phóng sự, nhưng chỉ từ khi ông viết Giông tố và nhất là kiệt tác Số đỏ, ông mới trở thành nhà văn đích thực, nhà văn lớn. Bởi vì qua Xuân tóc đỏ và những nhân vật khác trong truyện, ông đã vẽ nên toàn diện xã hội Việt Nam lai căng, đạo đức giả, đồi trụy dưới thời Pháp thuộc. Tiếc rằng Thanh Lãng cũng như Phạm Thế Ngũ, khi viết về Vũ Trọng Phụng đều không kể đến Số đỏ. Những nhà viết phóng sự hay như Tam Lang, Trọng Lang không bao giờ vượt qua được ngưỡng cửa nhà báo để trở thành nhà văn.

Về nhà văn, cũng không thể so sánh Nguyễn Công Hoan với Khái Hưng, vì Nguyễn Công Hoan là nhà văn viết truyện hiện thực đường thẳng (réalisme linéaire), nghiã là tác phẩm không có nghiã kép, đọc đâu hiểu đấy, còn Khái Hưng là nhà văn có nhiều tầng tư tưởng, những tác phẩm hay của ông thường ẩn ý nghiã triết học, có thể đọc nhiều cách, mỗi cách đọc đưa đến một cách hiểu khác. Hồn bướm mơ tiên là một kiệt tác và là tác phẩm tiểu thuyết quốc ngữ đa diện đầu tiên của nước ta.

Khi Thanh Lãng lấy Hồn bướm mơ tiên, Kép Tư BềnTôi kéo xe, ba tác phẩm thể loại khác nhau, có giá trị nghệ thuật và tư tưởng khác nhau, để làm mốc vạch phân đôi hai thế hệ (1912-32) và (1932-45) vì ông cho đó là ba cuốn truyện giống nhau từ cách xây dựng truyện đến cách đặt vần đề, là ông chưa thấu rõ bản chất văn chương. Trong chương viết về tiểu thuyết sau đó, ông cũng đưa tất cả những cuốn phóng sự vào mục tiểu thuyết, thậm chí với Vũ Trọng Phụng, ông đưa hết phóng sự mà không đưa Số đỏ vào.

Vì không phân biệt được thể loại, cho nên Thanh Lãng đã coi những mục tản mạn, tin vặt, hài hước, cãi cọ, trên Phong Hóa là những bài phê bình, như ta sẽ thấy dưới đây.

Không hiểu thế nào là phê bình

Trong chương II tựa đề Lịch sử phê bình thế hệ 1932, Thanh Lãng chia văn học ra làm bốn khối, A, B, C, D, và ông xếp: Khối A là khối bị cho là cựu học, khối B là Tự Lực Văn Đoàn, Khối C là khối đối lập, phản công Phong Hóa, và Khối D là khối duy vật.

Theo ông: “Văn phê bình từ 1932 đến cuối năm 1934 là văn phê bình của hai khối A và khối B, tức phê bình của tất cả các nhà văn không thuộc nhóm Phong Hóa với các nhà văn của khối Phong Hóa tức Tự Lực Văn Đoàn” (trang 645).

Vẫn lối ngoa ngữ, ông viết:“Hầu hết các nhà văn tên tuổi của thế hệ trước đều bị khối Phong Hóa chế diễu, toàn bộ các báo, ngoại trừ báo Phong Hóa, đều bị khối Phong Hóa bêu xấu” (trang 645).

Vì ông không phân biệt được các thể loại khác nhau cho nên ông đã đưa Tự Lực Văn Đoàn vào khối phê bình B, và vào phần Lịch sử phê bình.

Nhưng Tự Lực Văn Đoàn làm gì có phê bình? Thỉnh thoảng Khái Hưng, Nhất Linh viết bài tựa sách, đâu có thể gọi là phê bình? Ông khen “Thế Lữ viết truyện hay, soạn kịch cũng khéo, phê bình có tài” (trang 645). Nhưng Thế Lữ chỉ làm đạo diễn và diễn viên chứ có viết kịch bao giờ đâu? Thế Lữ giữ mục điểm sách, điểm báo chung với Thạch Lam trên Phong Hóa, hai người này thân nhau, Thạch Lam cũng hay viết tào lao, còn Thế Lữ vì xấu tính, hay moi những nhà thơ cùng trang lứa với ông như Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Nguyễn Vỹ… ra chỉ trích và thường tìm sách dở để chê bai, thì đâu có thể gọi là phê bình?

Nhưng đáng ngại hơn là luận điệu xuyên tạc của Thanh Lãng:

Lập trường [của Tự Lực] không phải là cái thứ lập trường hòa hoãn, nước đôi. Họ muốn tiến tới bất cứ giá nào, dầu phải tàn nhẫn, phải đập phá, chải chém giết. Mà thực họ đã tàn nhẫn với tất cả cái gì mà họ coi là cũ, họ đập phá hết tất cả cái gì mà họ cho là ngáng trở bước đi tới của họ, và lắm khi họ chẳng ngại đổ máu để giật phần thắng lợi” (trang 648).

Thật lạ lùng cái giọng “máu mê” của vị linh mục khi viết về một Văn Đoàn! Với một tiền đề như vậy, tất nhiên ta đã thấy rõ quan niệm của Thanh Lãng về Tự Lực.

Ông muốn kể tội họ “gây gổ và tuyên chiến với các nhà văn lão thành“, nhưng vì vẫn không phân biệt được thể loại và giá trị các tác phẩm, nên ông viết:

Trong những mục hoặc như mục Mực Tầu Giấy Bản hoặc như Từ Nhỏ đến Nhớn, hoặc như Bàn Ngang, hoặc như Từ Cao đến Thấp hoặc như Giòng nước ngược, hoặc như Cuộc Điểm Báo, thật là nơi dụng võ thường xuyên của các cây bút như Tứ Ly, như Nhị Linh, Tam Linh, Tứ Linh tức Nhất Linh, như Tú Mỡ, như Thạch Lam, như Lê Ta tức Thế Lữ.

Chẳng có một số Phong Hóa nào mà chẳng có một vài nhà văn, nhất là các nhà văn thuộc thế hệ trước, chẳng bị đem ra chế diễu. Lối phê bình của Phong Hóa qua các mục nói trên, về các nhà văn đàn anh, thường là lối phê bình châm chọc, chế diễu, thường thuộc đời tư hơn là lập trường văn nghệ.” (trang 648-649)

Ông lầm, không ai coi các mục ông kê khai trên đây là phê bình cả, đó chỉ là những mục thường thức, mục đích chính là tóm tắt những thông tin trong tuần, nói phiếm, bàn ngang, có khi kể chuyện ngồi lê đôi mách, thường thấy trên các báo, thỉnh thoảng cãi cọ, bút chiến, cốt lấp đầy chỗ trống, để giải trí và câu độc giả, cả thơ trào phúng của Tú Mỡ cũng vậy.

Còn Mực tầu giấy bản là tập hồi ký Khái Hưng viết về những năm học chữ Nho của mình, ký tên Nhị Linh, không ăn nhằm gì đến chuyện phê bình.

Về phê bình, Khái Hưng viết rất rõ trong bài Cùng ông Nguyễn Công Hoan:

Tôi thưa ngay cùng ông rằng tôi không phải là một nhà phê bình. Về tiểu thuyết thì đừng nói phê bình nữa, đến ngồi bàn tán xuông với anh em bạn thân, tôi cũng không từng dám khen tác phẩm này, chê tác phẩm kia. Là vì tôi cũng viết tiểu thuyết, viết tiểu thuyết như ông, như Nhất Linh, như Lan Khai, như cô Đoàn Tâm Đan, như ông Hồ Biểu Chánh. Tội lắm kia, mình khen thì anh em cho là khen mát, mà mình chê thì họ lại cho là ghen tỵ, nhất đối với một tác phẩm đã may mắn được công chúng hoan nghênh” (Phong Hóa số 177, 6-3-1936).

Võ Phiến không được sáng suốt như thế, ông đã viết bộ Văn Học miền Nam, nói xấu nhiều người nên bị Nguyễn Văn Trung, trên báo Khởi Hành “bắt” rút bộ Văn Học miền Nam về!

Rồi Thanh Lãng lại nhầm tuồng cổ với phê bình khi ông chứng minh Tự Lực đã “đánh đấm” các vị tiền bối như thế nào, ông đánh vào vở Tuồng cổ tân thời của Tứ Ly với những lời lẽ hết sức nặng nề: “Nhưng không ở đâu Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Khắc Hiếu được mô tả một cách tồi tàn, gàn dờ, quê kệch, nhất là đê hèn như trong vở tuồng “Tuồng cổ tân thời” (Phong Hóa số 38, 39, 40, 41, 42).” Không thích cười là quyền của ông nhưng gán những chữ tồi tàn, gàn dở, quê kệch, đê hèn để bảo Tuồng cổ tân thời mô tả Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Khắc Hiếu là quá tệ, bởi vì một giáo sư văn chương đánh giá sai một tác phẩm đã là kém rồi, bằng những chữ quá trớn như vậy là rất đáng ngại.

Sau khi “tiêu diệt” vở kịch Tuồng cổ tân thời của Tứ Ly, ông kê khai một danh sách dài các bài “chửi” trên Phong Hóa, với lời giới thiệu:

Để thêm tài liệu ta có thể tìm đọc những bài chửi Dương Bá Trạc (Phong Hóa số 120), chửi Nguyễn Tiến Lãng (Phong Hóa số 105, 137) chửi ông Lê Diễm ở báo Tân Thiều niên (Phong Hóa số 112, chửi Thái Phỉ ở Ngọ Báo (Phong Hóa, số 110), chửi Nguyễn Khắc Hiếu… v.v… “ (trang 653). Cái danh sách này kéo dài từ trang 653 đến trang 655. Chúng ta vẫn đang ở trong phần Lịch sử phê bình thế hệ 1932.

Trong phần thứ ba ông dành cho khối C, tức là khối phản công Phong Hóa, lần này “đầy đủ” hơn, tức là ông dành toàn diện 8 trang sách khổ lớn từ 655 đến trang 663; vừa ghi danh sách vừa trích dẫn cẩn thận những đoạn các báo này “chửi” Phong Hóa, mà ông cho là đích đáng lắm. Chúng ta vẫn đang ở trong phần Lịch sử phê bình thế hệ 1932.

Không hiểu tại sao giáo sư Thanh Lãng lại mất thì giờ làm công việc này, thay vì tìm ghi danh sách những số báo có truyện ngắn, truyện dài, kịch, thơ, xã luận… có giá trị trên Phong Hóa, để độc giả dễ dàng tìm biết mà đọc, thì ông lại chỉ ghi danh sách những bài “chửi”, chỉ cho học trò đọc những chỗ chửi.

Hàng trăm truyện ngắn của Khái Hưng chưa ai ghi lại đầy đủ, sao ông không làm việc ấy?

Thực chưa từng thấy ai coi phê bình văn học là những lời “chửi” như vậy, và lại có thể có một lối viết văn học sử nào kỳ quặc như thế cả.

Nhưng tệ hại nhất là ông cho rằng Phong Hóa bị đóng cửa vì có nhiều tờ báo mới ra đời, họ “liên hiệp lại để phản công Phong Hóa. Phải chăng vì vậy mà Phong Hóa phải chết để đầu thai dưới một tên khác “Ngày Nay” ?? (trang 656). Lời độc này là giọt nước tràn ly, chứng tỏ khi thực dân bắt Phong Hóa phải đóng cửa, ông sửa lại là Phong Hóa bị báo chí phản công đánh chết. Vô tình hay hữu ý, ông đã nhắm mắt vỗ tay hành động của thực dân, vì ông căm thù văn chương trào phúng như các giáo sĩ thời trung cổ?

Tú Mỡ và sự vu khống Nguyễn Tường Tam

Tự Lực Văn Đoàn không những chỉ bị bôi nhọ trong sách giáo khoa đại học của Thanh Lãng ở miền Nam, mà sự vu khống Nhất Linh còn được xuất cảng ra ngoài.

Có người cho rằng Nhất Linh hâm mộ Hitler. Một trong những người tung tin đó là Tú Mỡ.

Việc này khá trầm trọng, không thể bỏ qua.

Trước hết, chúng tôi xin lưu ý độc giả đến cái dấu ấn của Tự Lực Văn Đoàn.

Tự Lực Văn Đoàn in dấu ấn này lần đầu tiên trên Phong Hóa số 56 (21-7-1933), nhưng không giải thích gì cả, từ Phong Hóa số 89 (16-3-34) trở đi, dấu ấn được in trên tựa báo Phong Hóa.

clip_image004

Dấu ấn Tự Lực Văn Đoàn và Annam xuất bản cục, PH số 56 (21-7-1933), trang 2.

clip_image006

Tựa báo Phong Hóa kể từ số 89 (16-3-1934)

Đến Phong Hóa số 87 (2-3-34), trong mục Cuộc điểm báo và điểm sách mùa xuân của Nhất-Nhị-Linh (Nhất Linh và Khái Hưng), hai ông phản đối bìa cuốn sách Tuổi xuân với ngày xuân “dám” ghi bốn chữ: “Tiên phong Văn Đoàn“, tức là “dám” bắt chước Tự Lực Văn Đoàn, nhân thể kể luôn “tội” cuốn Tân quốc dân:

Nói đến Tiên phong Văn Đoàn lại nhớ đến cuốn Tân quốc dân. Ngoài bìa có đặt một cái dấu ấn na ná như cái dấu của Tự Lực Văn Đoàn: cũng chỉ có con chim và mấy ngấn nước. Chỉ khác có một tý là con chim ở cuốn Tân quốc dân, có lòi thêm cái đuôi. Chẳng trách thiên hạ vẫn thường nói, bắt chước lòi đuôi[8].

Nhờ câu này, ta mới biết: dấu ấn Tự Lực Văn Đoàn vẽ con chim và mấy ngấn nước.

Có người “nhìn ra” là chim ó (diều hâu) tuy hình này không xác định chim gì cả.

Có kẻ tưởng đó là dấu chữ thập có móc (croix gammée) hay chữ vạn của đảng Hiller, trong số đó có Phòng nhì Pháp, ý này giúp họ có thêm lý do hạ thấp giá trị Việt Nam Quốc Dân Đảng.

clip_image008

Dấu ấn Tự Lực Văn Đoàn và Croix gammée của Đức quốc xã

Nhưng tệ nhất là mấy lời Tú Mỡ viết về Nhất Linh trong bài Trong bếp núc của Tự Lực Văn Đoàn. Bài hồi ký này được rất nhiều sách in lại, hoặc trích dịch, vì hai lý do:

– Tú Mỡ là một trong những thành viên Tự Lực Văn Đoàn từ đầu.

– Tú Mỡ đã từng nhận là rất thân với “anh Tam”, nên những điều Tú Mỡ “nhận định” về “anh Tam” sau đây, hoàn toàn tin được, ông viết:

Bị lôi cuốn vào guồng Việt Nam Quốc Dân Đảng, anh Tam muốn đóng vai lãnh tụ. Tôi thấy trước đây anh có đọc “Mein Kamf” của Hít-le và giờ đây anh muốn bắt chước Hít-le từ y phục, cử chỉ đến đầu óc quốc xã.[9]

Ảnh hưởng tai hại của câu này rất rộng lớn, đặc biệt trong cuốn Đại Việt, indépendance et révolution au Việt Nam, L’échec de la troisième voie (1938-1955)- Đại Việt, cách mạng và độc lập ở Việt Nam, Sự thất bại của con đường thứ ba (1938-1955) của François Guillemot[10] trong đó, tác giả đã dùng “thông tin” của Phòng nhì Pháp, phối hợp với lời viết trên đây của Tú Mỡ, để “xác định” ba lần: Nguyễn Tường Tam là “người sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã” (fervent admirateur du nazisme)! (ở các trang 68, 78 và 90) trong quyển sử của ông.

Về thông tin của Phòng nhì Pháp, François Guillemot dựa vào bản báo cáo của Phòng nhì đề ngày 29-1-1949[11]. Bản báo cáo này có câu:

Đảng Đại Việt gồm những phần tử thân VNQDĐ ngày trước và những thành viên hoạt động nhất là các Ô. Nguyễn Tường Tam, thời đó sùng bái chủ nghiã Đức quốc xã, hiện lãnh đạo Việt Nam QDĐ hải ngoại ở Quảng Đông, Nguyễn Tường Long, người em vừa mới mất ở Quảng Đông, Nguyễn Gia Trí, họa sĩ…[12]

Những “thông tin” này của Công an Pháp viết tháng giêng 1949, không có gì mới cả, trừ sự sai lầm: Nguyễn Tường Tam thời đó sùng bái chủ nghiã Đức Quốc xã, thời đó là thời nào?

Tuy nhiên, François Guillemot đã dựa vào những “thông tin” này để đưa ra nhận định sau đây về Nguyễn Tường Tam:

Là nhà văn nổi tiếng và nhà bỉnh bút có tài, tuy nhiên nhân vật phức tạp này là người thất bại trong chính trị. Việc Công an truy lùng và trình bày ông, thời đó, như một người “sùng bài chủ nghĩa Đức quốc xã”, có thể cho chúng ta chìa khoá để hiểu sự thất bại của nhà văn về mặt ý thức hệ. Dường như, đối với chúng ta, khúc ngoặt theo chủ nghiã quốc gia xã hội năm 1940 của ông, sẽ như một vết sẹo trên hành trình chính trị của ông. Sự tham gia này lần theo thời gian trở thành cơn ác mộng khó xoá. Cái “lỗi lầm tuổi trẻ” này phát xuất, từ một trí thức không những sành sỏi mà còn thơ mộng và lý tưởng, sẽ là một gánh nặng”[13]

Và trong chú thích số 40, Guillemot đặt thêm câu hỏi: “Sự hòa nhập Đại Việt Dân Chính năm 1945 trong lòng Việt Nam Quốc Dân Đảng phải chăng có mục đích bí mật để sửa sai những bước đầu tai hại trong chính trị?»[14]

Như vậy, theo lập luận của François Guillemot, việc Nguyễn Tường Tam “sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã” đã dẫn đến sự thất bại chính trị của đảng ông. Việc “sùng bái” này, có lúc được xác định vào năm 1940, có lúc được coi là “lỗi lầm tuổi trẻ”.

Chữ hay được người ta dùng nhất là “thời ấy“(à l’époque, cette époque). Vậy cái thời ấy là thời nào, ta cần phải xét lại cho rõ.

Việc mật thám Pháp không đọc Phong Hóa và Ngày Nay, còn hiểu được, nhưng tại sao sử gia François Guillemot không kiểm chứng lại? Ông đã viết một cuốn sách lịch sử công phu, rất có giá trị về Đại Việt-Quốc Dân Đảng, mà lại cho rằng một trong những lãnh tụ của đảng này sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã, dẫn đến sự thất bại của đảng này, chỉ qua “thông tin” lười biếng của Phòng nhì Pháp và lời viết vu vơ của Tú Mỡ, mà không đọc trực tiếp Phong Hóa và Ngày Nay để kiểm chứng thực hư thế nào.

Bởi vì, dù chỉ đọc lướt qua, ta cũng có thể thấy những tranh hài hước hay những bài viết chống Hitler, có tựa đập vào mắt. Và “cái thời đó“, thời mà phòng nhì Pháp cho rằng Nguyễn Tường Tam sùng bái Chủ nghĩa Đức quốc xã, là những thời sau đây:

1- Năm 1934, Phong Hóa số 104 (29-6-34), trang 4, đăng bài: Hit-Le tướng công Y- Ta-li phó hội, của Lê Ta (Thế Lữ) chế giễu Hitler đi phó hội sang Ý gặp Mussolini, bài văn hài hước viết theo lối Đông chu liệt quốc và Tam quốc chí.

2- Ngày Nay số 11 (7-5-35) trang 3, đăng bức ảnh Trên sân khấu Âu Châu, giễu Tướng Hitler đóng tuồng, dưới đề: Ảnh chụp khí Hitler đang khoa đao và hò hét như một ông tướng Tầu.

clip_image010

Hitler, Ngày Nay số 11, 7-5-1935, trang 3

3- Ngày Nay số 32 (1-11-36) có dịch một đoạn bài viết của Drieu de la Rochelle trong báo Marianne, giới thiệu một thứ trường dạy cầm đầu (Une école de chefs) trong “nước Đức mới”: Kể rằng “nước Đức mới” lập ra không biết bao nhiêu cơ quan huấn luyện thanh niên như: Thanh niên đoàn Hitler (Jeunesse de Hitler), Tự ý lao động (Volontaires du travail), Trại tập làm việc… để luyện cho thanh niên có thân thể cường tráng và có tinh thần kỷ luật.

Đó là bài duy nhất, không công kích Hitler, Ngày Nay in với dụng ý cổ động thanh niên nên rèn luyện thân thể theo đúng cẩm nang “10 điều tâm niệm” của Hoàng Đạo đã bắt đầu đăng trên Ngày Nay hai tháng trước, từ số 25 (3-9-1936).

4- Ngày Nay số 53 (4-4-37) có tranh bìa ký Ritg TRAN AG (Nguyễn Gia Trí) chế giễu Hitler và thực dân: vẽ Hitler đem hoa đến cầu hôn cô Mỵ Nương Đông Dương của thực dân Pháp.

clip_image012

Bià Ngày Nay số 53 (4-4-1937) của Ritg (Nguyễn Gia Trí)

5- Ngày Nay số 108 (1-5-38), trong mục Chính trị và đảng phái, Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa Phát xít, phân tích cặn kẽ đường lối chính trị độc tài của Mussolini.

6- Ngày Nay số 109 (8-5-38) vẫn trong mục Chính trị và đảng phái, Hoàng Đạo viết bài Chủ nghiã quốc gia xã hội, phân tích và kết án không nhân nhượng chủ nghiã Hitler và chính sách xâm lược của Đức quốc xã.

Hai bài chính luận này Hoàng Đạo, lý thuyết gia Tự Lực Văn Đoàn, viết tháng 5-1938, trong thời kỳ Nguyễn Tường Tam thành lập đảng Hưng Việt; sau đổi thành Đại Việt Dân Chính. Chủ trương của đảng này là tiếp tục tư tưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học, theo chủ nghiã duy dân của Tôn Dật Tiên, không dính dáng đến chủ nghiã Quốc gia xã hội của Hitler. Những điều này sau sẽ đăng công khai trên các báo: Ngày Nay kỷ nguyên mới, Việt Nam và Chính Nghiã.

7- Ngày Nay số 154 (25-3-39), trang nhất có tranh hài hước: Cuộc bảo hộ nước Tiệp Khắc trong trí tưởng tượng của người Annam, không ký tên, chế giễu Hitler xâm nhập Tiệp Khắc.

clip_image002[19]Ngày Nay số 154 (25-3-1939)

8- Ngày Nay số 167 (24-6-39), trang 12, in bài Ông Hitler đã làm những người Anh thân Đức tỉnh ngộ, lược dịch một bài báo trên Paris Match, nói về tình trạng một số tờ báo Anh như tờ Times trước thân Đức, bây giờ đã đổi giọng chống Đức và một số chính khách Anh, như ông Montaga Norman, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng hay Hầu tước Lothian, Đại sứ Anh ở Washington, cùng một số người tai mắt và quý tộc Anh, trước theo Đức, nay đã “tỉnh ngộ”, có người đã phải xin lỗi.

9- Ngày Nay số 201 (2-3-40) có bài thơ trào phúng Diêm vương kén tướng của Tú Mỡ, ví Hitler như Diêm vương, sai hung thần, ác tướng đem quân lên chinh phục cõi trần:

Đem võ lực ra oai tác ác,
Cử binh đi cướp nước tranh quyền.
Hoàn cầu đang hưởng bình yên,
Bỗng đâu binh lửa dấy lên đùng đùng…

clip_image002[23]

Bài thơ Diêm vương kén tướng của Tú Mỡ, Ngày Nay số 201 (2-3-1940)

Tú Mỡ cộng tác liên tục với Phong Hóa và Ngày Nay từ những ngày đầu. Nhưng dường như ông không đọc các bài viết và tranh chống Hitler trên hai tờ báo này. Ngày 12 tháng 8 năm 1968 ông “nhớ” và viết rằng Nguyễn Tường Tam sùng bái Hiler![15]

Có lẽ vì quá ngây thơ, thấy Nhất Linh đọc Mein Kamf, nên Tú Mỡ–khi phải tìm tội Nhất Linh–đã vội gán cho bạn nhãn hiệu Hitler. Bởi Tú Mỡ đã từng nói: “Anh Tam là người đã tạo ra Tú Mỡ vậy.”[16], nên bài hồi ký Trong bếp núc của Tự Lực Văn Đoàn, dù có những giai thoại sai lầm, vẫn được người ta tin và trích dẫn, trong đó có sử gia François Guillemot, đã đưa việc này vào cuốn sử có giá trị mà ông đã bỏ nhiều năm nghiên cứu về Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Sự vu khống Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã là một vết nhơ, không những cho Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn mà còn cho cả các phong trào cách mạng dân tộc nữa.

(Còn tiếp)

Thụy Khuê

thuykhue.free.fr


[1] Theo chú thích của Nxb Thăng Long, khi tái bản bộ Nhà văn hiện đại ở Sài Gòn năm 1960, trang 904.

[2] Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập ba, Anh Phương ấn quán, Sài Gòn, 1965, Đại Nam chụp in lại, trang 430.

[3] Vu Gia, Nhất Linh đời văn đời người (trích), in lại trong Nhất Linh cây bút cột trụ của Tự Lực Văn Đoàn, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000, trang 74-75.

[4] Trương Bảo Sơn Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (in trong cuốn Nhất Linh người nghệ sĩ, người chiến sĩ, Thế Kỷ, Cali, 2004, t. 69).

[5] Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, Ba thế hệ của nền văn học mới (1862-1945) Nxb Trình Bày, Sài Gòn, 1967, phần Văn Học thế hệ 1932 (1932-1945), Chương I: Đặc tính chung của thế hệ 1932 trang 589.

[6] Thụy Khuê, Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nxb Văn Nghệ, Cali, 2002, trang 128.

[7] Thụy Khuê, Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nxb Văn Nghệ, Cali, 2002, trang 160.

[8] Cuộc điểm báo và điểm sách mùa xuân, của Nhất-Nhị-Linh (PH số 87(2-3-1934).

[9] Tú Mỡ, Trong bếp núc của Tự Lực Văn Đoàn, Hồi ký của Tú Mỡ, Tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 5-6 năm 1988 và số 1 năm 1989.

[10] Nhà xuất bản Les Indes savantes, Paris, 2012.

[11] Bản báo cáo này lưu trữ trong hồ sơ CAOM, GGI 65492 của Haut Commissaire de France en Indochine, Direction de la Police et de la Sureté fédérales, Secret, Les partis nationalistes vietnamiens (Cao Uỷ Pháp ở Đông Dương, Nha Giám đốc Cảnh sát Công an trung ương, Mật, hồ sơ Những đảng phái quốc gia Việt Nam.

[12]Le Đại Việt était composé d’anciens sympathisants VNQDĐ et ses membres les plus agissants furent MM. Nguyễn Tường Tam, à l’époque fervent admirateur du nazisme et actuellement chef du VNQDĐ d’outre-mer à Canton, Nguyễn Tường Long, frère du précédent et récemment décédé à Canton, Nguyễn Gia Trí, artiste peintre… ” (sđd trang 68).

[13] “Ce personnage complexe, écrivain renommé et chroniqueur de talent, a cependant un raté dans sa vie politique. La Sureté qui le présentait à cette époque comme “un fervent admirateur du nazisme”, nous donne peut être la clé de l’échec de l’écrivain sur le plan idéologique. Il nous semble que le virage national-socialiste qu’il prit en 1940 resta comme une cicatrice sur son parcours politique. Cette engagement était devenu au fil du temps comme un mauvais rêve difficile à effacer. Cette “erreur de jeunesse” émanant pourtant d’un intellectuel averti, mais aussi romantique et idéaliste, pesa sans doute d’un lourd fardeau” (sđd, trang 90).

[14]La dissolution du ĐVDC en 1945, au sein du QDĐ a-t-elle pour objet secret, la correction d’un début en politique plutôt compromettant?” (sđd, trang 90).

[15] Trong tập hồi ký Trong bếp núc của Tự Lực Văn Đoàn, in lại trên Tạp Chí Văn Học, Hà Nội, số 5-6 năm 1988 và số 1 năm 1989.

[16] Cuộc Phỏng vấn các nhà văn, của Lê Thanh, Nxb Đổi Mới, Hà Nội, 1943, trang 134-144.

bài đã đăng của Thụy Khuê