Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Nhận Định, Sang Việt ngữ Email bài này

Chủ nghĩa hậu hiện đại: Vài điều đính chính và xác minh


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 24.11.2020

 

OrbisSensualiumPictus-GodsProvidence

Hình trong ấn bản tiếng Anh năm 1705 của sách
Orbis Sensualium Pictus của John Comenius

 

Elena Shalneva là giảng viên tại King’s College London, Anh quốc. Bà có nhiều bài viết về sách, phim và văn hóa đăng ở Standpoint City AM. Bà cũng đang hoàn tất tập truyện ngắn đầu tay. Bài này xuất hiện trên báo mạng Quillette ở Úc giữa lúc phong trào “công lý xã hội” (social justice) diễn ra tại Âu-Mỹ, và có cáo buộc rằng tư tưởng hậu hiện đại là nguồn gốc chính yếu của những “lý thuyết phê bình” (critical theories) gây tranh cãi mà phong trào này đặt làm nền tảng.

 

 

Trước khi tôi tiến tới với một cuộc bàn luận ngắn về chủ nghĩa hậu hiện đại và đóng góp của nó cho tư tưởng trong thế kỷ 20, một xác minh: trái với quan điểm chung, phần “hiện đại” (modernism) trong “chủ nghĩa hậu hiện đại” (postmodernism) không có nghĩa là “tính hiện đại” (modernity). Cách diễn giải ấy sai (và cũng làm dấy lên câu hỏi tại sao chủ nghĩa hậu hiện đại đã không xuất hiện 200 năm sớm hơn). Phần “hiện đại” của thuật ngữ nhắc đến phong trào văn chương và nghệ thuật chủ đạo vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Nói cách khác, chủ nghĩa hậu hiện đại không phải là cái đến sau thời Phục Hưng, cuộc cách mạng công nghiệp, Voltaire và Descartes – nó là cái đến sau những nhà lập thể, nhà hiện sinh, Kafka và Joyce.

Lời phân trần này quan trọng vì cần có sự chính xác nghi thức – nhưng nó cũng là một lời nhắc nhở rằng chủ nghĩa hậu hiện đại không phải là trào lưu đầu tiên mà cũng không phải trào lưu quan trọng nhất tấn công các giá trị của văn minh Tây phương. Chủ nghĩa kiểu cách đã làm điều đó trong những năm 1520, theo sau là ba-rốc, rồi gô-tích và lãng mạn, và, sau cùng, đến đầu thế kỷ 20, các nhà hiện đại. Nhóm sau này nổi loạn trên một quy mô thật sự kỳ vĩ, bác bỏ và tiêu diệt tất cả những gì đã đứng vững trước đó: các nhà tượng trưng chối bỏ thực tại để đến với những giấc mơ và những cơn ảo giác; các nhà đa-đa tuyên bố “cảm hứng vô thức” là nguồn đáng tin cậy nhất cung cấp sự thật; các nhà siêu thực kêu gọi “vượt ra khỏi bất cứ mối quan tâm đạo đức nào”; Picasso và Apollinaire tận hủy các quy luật của mỹ học bằng cách lấy cái đẹp ra khỏi hội họa và thơ ca; và André Breton có quan điểm rõ ràng là phi nhân với lời kêu gọi “hãy phóng ra đường… và nổ súng bừa bãi vào đám đông.”

So với tiếng sư tử gầm của chủ nghĩa hiện đại, sức đả phá biểu tượng của nó, thiên tài quỷ mị của những tên tuổi chủ chốt của nó, thì chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ vừa bằng một tiếng ré. Thế thì, làm ơn, chúng ta đừng ghi công nó (hay buộc tội nó) là đã hạ thấp tính hiện đại. Thay vào đó, chúng ta hãy so sánh hai trào lưu này một cách chi tiết hơn và cố gắng hiểu ra những gì, nếu có, là di sản riêng của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Tại điểm này, tôi muốn đính chính một điều ngộ nhận thứ hai. Người ta thường nói – hoặc, ít nhất, ám chỉ – rằng sở dĩ chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện là nhờ Karl Marx. Điều này sai. Giống như hầu hết – tất cả? – các trào lưu của thế kỷ 20, chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện là nhờ Nietzsche. Với tuyên bố “Thượng Đế đã chết,” Nietzsche không chỉ lên án Ky-tô giáo – ông còn lên án cả những giá trị nông cạn, thù ghét nghệ thuật, duy phương tiện mà Ky-tô giáo khuyến khích, và “những linh hồn ốm đói, tự mãn” đang bước đi trên mặt đất vì đó mà chẳng hề biết đến cái gì là “cơn cuồng loạn hay bầu nhiệt huyết.” Thay cho chúng, Nietzsche tuyên bố sự xuất hiện của một loại người mới – loại người này sẽ hô “một tiếng Dạ lớn đối với tất cả những điều cao cả, đẹp đẽ, táo bạo,” và kim chỉ nam duy nhất trong đời họ sẽ là bản năng của chính họ.

Sống với “cơn cuồng loạn và bầu nhiệt huyết” và dựa vào bản năng của mình để tìm hạnh phúc nghe có vẻ kỳ vĩ, và tôi hy vọng mình có thể làm được. Than ôi, tôi lại ngả nhiều hơn về phía “những linh hồn ốm đói, tự mãn” – những kẻ có “những khoái cảm nhỏ nhoi ban ngày, và những khoái cảm nhỏ nhoi ban đêm,” và những kẻ mà, bất kể cố gắng cách nào, sẽ không bao giờ “đẻ ra một ngôi sao đang nhảy múa.” Chỉ có ít người như thế trong chúng ta, vốn là những kẻ có thế giới nội tâm, thật tình mà nói, trung bình, và cần phải tìm kiếm một nguồn an ủi siêu hình từ nơi khác. Trước kia Thượng Đế cung cấp điều này, nhưng Thượng Đế đã chết, và cùng với ông ấy là con đường thẳng đi đến thế giới vô hình. Vì vậy, trong một tình huống như thế này, những kẻ không-siêu-nhân phải làm gì? Chúng ta đánh mất la bàn siêu hình học của mình, và đối diện với sự hỗn loạn và sự phi lý.

Cả chủ nghĩa hiện đại lẫn chủ nghĩa hậu hiện đại đều ra đời như là một phản ứng với sự hỗn loạn của một thế giới hậu-Nietzsche. Tuy nhiên mỗi trào lưu ứng phó với nó theo cách riêng của mình. Chủ nghĩa hiện đại phản kháng – dù có vẻ theo chủ nghĩa hư vô, nó là một trào lưu đầy lý tưởng. Bạn thậm chí có thể gọi nó là không tưởng: Trong sự gớm ghiếc và tính phi lý của cuộc sống hàng ngày, nó nhìn thấy niềm hy vọng nơi một tương lai tốt hơn. Các nhà hậu hiện đại thì chẳng hề nhìn thấy điều gì như vậy. Họ chấp nhận sự hỗn loạn và tự đặt mình vào đó. Họ đầu hàng hoàn toàn và vô điều kiện. Và điều này đưa tôi đến điều sai lầm thứ ba cần đính chính: Chủ nghĩa hậu hiên đại không phải là một trào lưu được chính trị hóa. Phải, một số lý thuyết của nó tập trung vào vai trò của ý thức hệ; phải, lập trường chính trị của hầu hết tên tuổi hậu hiện đại là thiên tả mạnh; và phải, nhiều khái niệm hậu hiện đại đã được vay mượn bởi những kẻ sách động công lý xã hội của thế kỷ 21 với những hậu quả đáng tiếc. Tuy nhiên, di sản đáng kể nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại, tiểu thuyết, về căn bản và về chiều sâu là phi chính trị – nó không đề ra một quan điểm xã hội, một bối cảnh lịch sử, hay một thế đứng ý thức hệ nào. Nó hoàn toàn tách rời khỏi thực tế. Nó là một sự trừu tượng hóa phi thời gian, phi không gian.

Cuốn tiểu thuyết hậu hiện đại cũng là một cuốn tiểu thuyết liên văn bản. Chủ nghĩa hậu hiện đại được nhiều người liên hệ với (và bị chỉ trích vì) triết lý tương đối của nó. Chủ nghĩa tương đối, tất nhiên, xưa như trái đất, xưa như nhóm hiền triết thời trước Socrates và thời Heraclitus; xưa như Sách Giảng Viên và Hamlet, với câu “không có gì tự nó thật tốt hoặc tệ — tất cả nằm ở chỗ người ta nghĩ về nó như thế nào”; xưa như Cervantes và Sterne; và, gần đây hơn, như Proust. Các nhà hậu hiện đại không phát minh ra chủ nghĩa tương đối, họ chỉ đưa nó lên tầm mức kế tiếp. Tuy nhiên, lý thuyết về tính liên văn bản – đầu tiên được giới thiệu bởi Julia Kristeva (dựa trên các tác phẩm của nhà ngữ học Mikhail Bakhtin người Nga), và được phát triển sâu rộng bởi người dẫn dắt của bà là Roland Barthes – thực sự nó là phát minh của chủ nghĩa hậu hiện đại. Sự “cách tân” của nó, nếu bạn muốn nói như thế.

Đây là cách nó vận hành. Chúng ta đều muốn tin rằng mình sử dụng ngôn ngữ theo một cách riêng biệt. Rất tiếc, điều này không đúng. Điều mà ta chủ yếu làm với ngôn ngữ là tái dụng – ta sử dụng những từ, câu, ngữ, cấu trúc ngữ pháp, nhịp điệu ngữ âm, vân vân, đã từng được sử dụng nhiều lần trước kia. Thỉnh thoảng ta cố tình vay mượn ngôn ngữ của người khác – trong hầu hết tình huống ta làm vậy một cách vô thức, đơn giản bằng cách dùng lại những gì ta thu thập được từ sách vở, phim ảnh, những ca khúc, và những cuộc trò chuyện; đủ mọi thể loại diễn ngôn mà ta từng bắt gặp trong đời.

Tình huống này có một hậu quả quan trọng: Nếu ta viết và nói theo một cách hàm chứa dấu vết văn bản của những người khác, các văn bản của chính ta sẽ không tránh khỏi hàm chứa những đối chiếu và những liên tưởng (những hàm ý) ngoài ý muốn của ta, nhưng có thể được người đọc nhận ra. Kết quả, một văn bản không chỉ là một tác phẩm tĩnh tại mà ý nghĩa là do tác giả xác định một lần rồi thôi – thay vào đó, nó trở thành một bức ghép mảnh năng động, không ngừng tiến hóa của những ý nghĩa, cách diễn giải, và sự liên tưởng – một cuộc đối thoại giữa tác giả và độc giả, tác giả và bối cảnh văn hóa của mình, tác giả và mọi điều khác đã từng được viết và nói ra.

Tôi tình cờ ở một vị trí tốt để bàn về giá trị của liên văn bản, vì tôi thường nói hai ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ, và cũng vì tôi có trí nhớ nhiếp ảnh. Tôi học tiếng Anh ở trường, và tôi học tiếng Pháp ở đại học, và trong cả hai trường hợp, việc ghi nhớ và lặp lại từng mảng từ những văn bản của người khác (tiểu thuyết, thơ, tạp chí) là một phần của phương pháp học. Tôi vẫn còn nhớ hầu hết các văn bản ấy, và vì vậy tôi có thể truy nguyên việc sử dụng ngôn ngữ của mình tới bản gốc. Chẳng hạn, khi tôi tìm cách phát triển một lối nói phúng dụ, áp dụng một cơ năng về phong cách, hoặc dùng cách chấm câu bất thường, một hình ảnh của trang sách chứa tiền thân của nó sẽ xuất hiện trong nhãn giới nội tâm của tôi, với đầy đủ kiểu chữ và số trang, và, ngay lập tức, tôi sẽ bắt đầu cuộc đối thoại với một người viết của quá khứ. Tôi có thể bắt chước tác phẩm của họ, tôi có thể đạo văn từ đó, tôi có thể cười cợt và nhại lại nó, hoặc tôi có thể đi vào một cuộc bút chiến và tìm cách nói ngược hẳn lại. Nhưng bất kể làm gì, tôi không còn là tác giả duy nhất của văn bản của tôi. Và đây là cách mà quy trình này hoạt động đối với mọi người, duy có điều hầu hết mọi người không nhớ được sự thôi thúc ngôn ngữ nguyên thủy của mình từ đâu đến.

Các nhà hậu hiện đại đã đưa liên văn bản tới những cực đoan kỳ quái, đến độ chối bỏ nhu cầu về một tác giả và giọng kể riêng biệt của một tác giả. Dù sao, nó vẫn là một lý thuyết khả thi và, cho đến nay, nó thường xuyên được dùng bởi các nhà phê bình văn học để hỗ trợ các phương pháp phân tích văn chương khác. Các nhà hậu hiện đại nên dừng lại ở đó. Rất tiếc, họ đã không dừng – họ quyết định đưa lý thuyết vào thực hành và bắt đầu viết những tiểu thuyết liên văn bản. Và đây là chỗ mọi sự đi sai một cách tai hại.

Trong đoản văn đáng lưu ý về Joyce của mình, Carl Jung viết rằng Ulysses “chẳng những bắt đầu và chấm dứt bằng hư vô, nó hàm chứa không gì ngoài hư vô.” Có lẽ cũng tốt cho Jung khi ông chết trước ngày ấn hành cuốn tiểu thuyết Drame năm 1965 của Philippe Sollers – một “tác phẩm kinh điển” hậu hiện đại không có tình tiết, nhân vật, bối cảnh, thông điệp, hay giọng kể của tác giả. Nó không nói gì với người đọc, và đó là chủ ý của nó. Cốt yếu, nó là một trò chơi ngôn ngữ, một cuộc tập dợt sắp xếp và tái sắp xếp từ ngữ, một thí nghiệm về cú pháp và hình thái học. Đây là một tác phẩm của sự phi lý cùng cực. So với Drame, Ulysses rõ mang phong thái Dickens.

Bạn có thể cãi rằng văn chương hiện đại cũng chứa đầy sự phi lý. Quả thật, trong khi bị Nietzche phà hơi xuống cổ, các nhà hiện đại chối bỏ, khiêu khích, và đập phá. Tuy nhiên, trong cuộc tàn sát, giữa những mảnh vụn và đống đổ nát, có làn ánh sáng cứu chuộc, chiếc bóng thấp thoáng của lòng tin, tia hy vọng trong muôn một rằng có sự thật để tìm ra trong thế giới này, và cái đẹp, và lòng nhân từ, và tình yêu. Nếu bạn không tin tôi, hãy đọc đoạn độc thoại của Molly Bloom ở cuối truyện Ulysses, hay cảnh hành quyết Joseph K ở cuối truyện The Trial. Phía sau mặt tiền là chủ nghĩa hư vô, cuốn tiểu thuyết hiện đại có một mục tiêu rất xây dựng: tìm kiếm ý nghĩa trong một thế giới không có Thượng Đế.

Sollers và các đồng đạo hậu hiện đại của ông không có một mục tiêu nào như thế: tác phẩm của họ không hàm chứa ý nghĩa, không ao ước tìm thấy ý nghĩa, và không mang niềm tin rằng ý nghĩa tồn tại. Thay vào đó, tất cả những gì nó có là một ý thức lạnh lùng, biệt lập, khinh thị sa đà trong những trò chơi từ ngữ. Thay cho đốt phá và nổi điên kiểu hiện đại chủ nghĩa, chỉ có sự dửng dưng; thay cho nổi loạn, là buông xuôi; thay cho những tiểu thuyết “viết bằng máu,” ta có những tiểu thuyết viết bằng đờm. (Ở đây tôi thấy có một điểm quan trọng cần công nhận: dĩ nhiên, đã có những tác giả hậu hiện đại tầm vóc như Eco, Borges, Kundera, Fowles, và Nabokov, và di sản của họ trường tồn. Tuy nhiên, không một nhà văn nào trong đó sáng tác trong một thể loại thuần túy hậu hiện đại – tác phẩm của họ là một lai ghép, một tổng hợp của liên văn bản hậu hiện đại với những thể loại truyền thống, chẳng hạn như tiểu thuyết lịch sử hay tâm lý.)

So với những người khổng lồ của chủ nghĩa hiện đại, các nhà hậu hiện đại – dù cho có vài tư tưởng gia thu hút như Barthes và Derrida – không hơn gì những ông phỗng trong vườn. Các nhà hiện đại đối đầu với siêu hình học, các nhà hậu hiện đại vẽ vời trong ký hiệu học. Trong tư cách một trào lưu, chủ nghĩa hậu hiện đại bị cô lập và mang tính phái sinh. Đi đứt là hạng hai. Tuy nhiên, nó đã thành công ở chỗ chủ nghĩa hiện đại thất bại: Nó đưa tính phi lý của một thế giới không có Thượng Đế đến cái kết luận hợp lý và cho ta thấy một thế giới tĩnh lặng, hoàn tất, xoay vòng đã không còn di chuyển về phía trước. Và điều này, chủ nghĩa bi quan của nó, việc nó chối từ tin theo thế giới không tưởng của một trật tự xã hội tốt hơn, là di sản đích thực của chủ nghĩa hậu hiện đại.

 

PhilippeSollers&JuliaKristeva

Philippe Sollers và Julia Kristeva trên đảo Ré năm 1980
(Ảnh: Anne de Brunhoff)

 

Hồi tôi còn sinh sống ở Pháp, Philippe Sollers là một khuôn mặt thường xuyên tại nhiều buổi hội thoại. Tôi thích thú theo dõi ông. Ông là một người đàn ông đẹp trai, thanh lịch nói thứ tiếng Pháp Hàn Lâm Viện hoàn hảo (không phải thứ ngôn ngữ rườm rà rỗi hơi trong chính những cuốn tiểu thuyết của ông). Ông trông cũng khôn khéo và thực tế, cười nhiều, và thích bơi lội và vũ cầu (hay có lẽ bóng chuyền, tôi không còn nhớ). Ông thành hôn với một người phụ nữ đẹp (Kristeva), và ông đã ngủ với vô số phụ nữ khác. Là tay sát gái và trác táng, Philippe Sollers trông có vẻ là người đàn ông hạnh phúc. Chắc chắn ông đã sống đời mình đến tràn đầy. Và vì thế, khi nghe giọng tán gẫu sôi nổi của ông, tôi không khỏi thắc mắc biết đâu tất cả những cuốn tiểu thuyết vô nghĩa, duy ngã, lánh đời mà ông và các đồng chí của ông đã từng đặt bút viết ra – thái độ khinh miệt không dấu giếm của họ dành cho người đọc, cái mỹ học yếm thế và lãnh cảm của họ – chẳng qua chỉ là một quả lừa đồ sộ.

 

Nguồn: Bài “Postmodernism: Some Corrections and Clarifications” của Elena Shalneva đăng trên tạp chí mạng Quillette ngày 18 tháng 9, 2020
https://quillette.com/2020/09/18/postmodernism-some-corrections-and-clarifications/

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

  • Nguyễn Đức Tùng says:

    Bài viết xuất sắc. Và cần thiết. Riêng nhận xét về trường hợp Sollers độc đáo, nhưng có thể gây tranh cãi. Bravo dịch giả Nhất Lang. NĐT

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)