Trang chính » Tạp ghi, Văn Chương Thiếu Nhi Email bài này

tháng ngày ê a

0 bình luận ♦ 17.11.2020

(trích đoạn)

… Vẫn y như những ngày đi học trước, tôi đã quên tiệt những gì được truyền dạy trên lớp ở năm lớp 6 thứ hai này ngoài mấy khái niệm hằng đẳng thức, phương trình, qũy tích. Nhưng đấy lại là năm tôi hình như bắt đầu lớn, thoạt đầu từ cảm xúc lạ lùng khi nghe thằng Ngọc Tân – anh trai diễn viên kịch nói Ngọc Huyền lúc bấy giờ còn là một con bé đanh đá – đứng lên khai báo tiểu sử với cô chủ nhiệm: “thưa cô bố mẹ em là nhân dân bố mẹ em là người tự do.“ Ngọc Tân hiền, học giỏi và tôi không hiểu sao nó có vẻ ngượng ngập khi đứng trước lớp nói điều đó, khác hẳn với Hải Vân và nhiều đứa nữa khi “thưa cô bố mẹ em là cán bộ nhà nước“. Là nhân dân thì chỉ được ăn bìa nhân dân, tiêu chuẩn tem phiếu không bằng người nhà nước, nhưng Ngọc Tân chả có vẻ gì là con nhà nghèo cả, khiến tôi cứ băn khoăn mãi một mình. Tôi lớn dần lên qua những bối rối băn khoăn không thật hợp tuổi như thế, rồi chợt nhìn ra đường nét hình thù những cảm giác của mình rõ hơn vào một buổi trưa xuân sau giờ sinh hoạt Đội phải học hát đồng ca. ‘Trùng trùng quân đi như sóng lớp lớp đoàn quân tiến về chúng ta đi nghe vui… Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về như đài hoa đón chào nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh… Chúng ta ươm đài hoa sắc hương say ngày xa ôi phố phường Hà Nội thủ đô yêu dấu…“ Tôi bé nhỏ quen đơn độc đã một lần được cảm nhận niềm phấn chấn hân hoan của đám đông, của chiến thắng, của niềm tin khi đi xem bắn pháo hoa trên Bờ Hồ ngày sáu tuổi vừa từ nơi sơ tán trở về sau cuộc Tổng tấn công lần thứ nhất vào mùa xuân Mậu thân, 1968. Nếu tính từ lúc ngây ngô tưởng và thích hát ‘”Em là búp măng non em lớn lên trong mùa Cách mạng sướng vui có Đảng tiên phong có Đảng như ánh thái dương…“ tới cái lúc biết hân hoan rồi bâng khuâng về “sắc hương say ngày xa“ thì đây là lần thứ hai tôi cảm ra được niềm phấn chấn, hân hoan và đấy là một quãng đời rất dài để hồi tưởng của tôi dù chỉ là mấy năm trời, gồm trong đó là cả một cuộc chiến tranh và những nhận biết bàng hoàng về sống và chết. Trong cơn mưa xuân bắt đầu mỏng dần vì nắng mới, biết đến đêm mình sẽ lăn quay ra ốm, tôi âm thầm vui với giai điệu vang vọng trong đầu lúc lóc cóc đi bộ từ trường về nhà. Ở nhà, có hai cuốn sách đợi tôi. Một là Truyện Kiều, và một: Chinh phụ ngâm, do Lại Văn Cang hiệu đính. Hình như Truyện Kiều là cuốn sách mới in lại nhà tôi mua được bằng con đường công chính. Những người trẻ tuổi hôm nay có rất nhiều địa điểm để ăn chơi giữa đất Hà Nội, chưa chắc có được trong ký ức một địa điểm đẹp như tuổi tôi từng có, dù tới đó không phải là sẽ được ăn và chơi. Đấy là phòng triển lãm nghệ thuật ở Ngô Quyền và đối diện: hiệu sách Hà Nội – Huế – Sài Gòn chiếm trọn góc phố Ngô Quyền và Tràng Tiền. Kiều đi từ đấy ra về nhà tôi. Còn nàng chinh phụ thì có nguồn gốc từ một gánh đồng nát. Một chị hàng xóm nhà ở dãy bên cạnh khuân sách báo cũ đi bán và tôi táy máy ngồi bới, rồi run run nhận ra cuốn Gió lộng với Chinh phụ ngâm. Gió lộng của Tố Hữu thì không khó tìm, tôi cũng đọc rồi, còn Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm thì tôi chỉ biết khi loay hoay một mình những ngày hổn hển liệt giường, với cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam do nhóm Lê Quý Đôn soạn, rằng quý lắm, khó tìm lắm, vì không được in lại. In lại thế nào được khi chiến tranh vẫn thở đều hơi thở của quỷ, rất nhiều đàn ông trẻ khoẻ phải xa nhà, xa vú mẹ vú vợ, còn những chinh phụ thời hiện đại thì ở lại chổng mông cày cấy và nghe người ta hát về mình “từ ngày anh đi đường cày em đảm đang ruộng cấy chăng dây cây lúa thẳng hàng đào đắp mương giữ nước quanh làng…“ Khúc ngâm của người đàn bà có chồng ra lính, đúng hơn và sướng hơn: có chồng ra làm tướng, vì thế mà ắng tiếng dần ngay cả trong sách giáo khoa. Tôi nhìn cuốn sách, trống ngực đập thùm thụp. Mười một tuổi mà tôi đã biết gian giảo phết. Ngồi bên gánh đồng nát, tôi làm ra vẻ thản nhiên sờ lần hai cuốn sách, không dám để cho bà chị hàng xóm, chị Hiền Lương tóc quăn má lúm đồng tiền lông mi cong veo biết nỗi mừng rỡ sợ hãi của mình. Sợ, sợ bà chị mà cân chinh phụ lên rồi bán luôn thì mình lấy đâu ra tiền mua lại, cũng không thể lê la theo chân chị đồng nát chờ khi có tiền. Sợ bà chị thấy mình thiết tha bỗng đổi ý khuân về. Bà chị không hề biết con ranh con giở trò, sốt ruột quăng luôn hai cuốn sách ra bảo cho mày, thế là tôi vội vàng ôm Tố Hữu cùng Đoàn Thị Điểm phới thẳng. Vậy mà mấy chục năm qua rồi, chị Hiền Lương giờ chẳng biết sống ở đâu để tôi có dịp kể cho chị ấy nghe tôi đã bịp chị, qua mặt chị như thế nào.

Cuốn Chinh phụ ngâm in khổ to, bìa màu vàng đất do Lại Văn Cang hiệu đính theo tôi bao nhiêu năm tháng. Bảo đọc là hiểu thì chết liền. Lấy đâu ra cái đồ giỏi giang thế. Nhưng thơ không phải là thứ để hiểu, ngay cả khi là tự sự. Chinh phụ ngâm dĩ nhiên không phải là thơ tượng trưng. Nhưng ngôn ngữ trong đó là thứ ngôn ngữ tượng trưng của một thời, tầng tầng lớp lớp điển tích mà lại không hề phi ngã và tôi phải vượt qua những lớp ý nghĩa của ngôn từ, vượt qua tính phi logic của các ước lệ để tìm một liên thông với người viết. Nói thế quả có to mồm, làm gì có liên thông giữa một phụ nữ của những thế kỉ xa xưa trước với một con bé mười một tuổi đang sống trong thế kỉ hai mươi. Nhưng nghệ thuật tạo được ra điều ấy. Cho tới tận bây giờ tôi vẫn cảm được lúc trái tim bé nhỏ của mình thắt lại khi tự dưng trong trí Đoàn Thị Điểm bỗng rầm rì “Buổi xuất chinh lòng bịn thê noa – Bóng cờ tiếng trống xa xa – Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng“, “thuở đăng đồ mai chưa dạn gió – hỏi ngày về ước độ đào bông – nay đào đã quyến gió đông – phù dung lại rã bên sông ba xoà…“, hay “hồn tử sĩ gió ù ù thổi – mặt chinh phu trăng dõi dõi soi – chinh phu tử sĩ mấy người – nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn…“ Không biết tại sao, con bé con là tôi khi ấy đặc biệt thích Chinh phụ ngâm, thích hơn cả Truyện Kiều, mà cái này chẳng liên quan gì tới giới tính của tôi và của tác giả cả. Hai tác phẩm này, in ra thì ngắn ngủn dăm chục trang, ngắn hơn nhiều so với chú thích ở từng cuốn lèn chặt trí não người đọc bằng những từ cổ và điển tích điển cố đã nhũng nhẵng giăng mắc đủ thứ lên tâm tính tôi.

Có ảnh hưởng mạnh không kém là những chồng sách văn học nước ngoài tôi moi được từ một nguồn đặc biệt cũng vào năm lớp sáu. Đứa bạn cùng lớp sống ở Lê Văn Hưu sát với Phố Huế có lần khoe khoang nhà lắm sách, thế là tôi phát huy thói thực dụng vừa tự thấy mình có, làm thân luôn. Sách nó khoe hỏi ra là gia tài của chú em kết nghĩa với ba nó, dạy ở đại học Tổng hợp Hà Nội. Lúc đó cuối 1974, sắp tổng tấn công – điều phó thường dân mãi về sau mới biết – chú phải gửi lại giá sách to đùng của mình vì có lệnh vào Nam. Nguyên cái phòng xép đầu cầu thang nhà nó chỉ để sách của chú. Vài ba lần một tuần tan học tôi lại mua đường theo nó về nhà lục lọi. Tôi đã khuân từ đấy về Honoré de Balzac, Alphonce Daudet, Guy de Maupassant, Gogol…, tôi đã đọc Eugénie Grandet, Miếng da lừa, Những linh hồn chết, Những con đường đói khát… và đầu óc lộn tùng phèo vì rất nhiều chi tiết không tài nào hiểu là cái gì, ví dụ như cái hợp đồng hôn nhân của cô gái già với ông chưởng lí, ví dụ như là cổ phiếu và lợi tức… Câu chuyện về cô gái điếm biệt danh là Viên Mỡ Bò của Maupatssant cũng làm tôi bần thần mãi, không phải vì hiểu mà là vì không hiểu gì, bé tí hiểu thế nào mà hiểu, nên cứ thắc mắc sao cô Viên Mỡ Bò chỉ đi theo gã sĩ quan Đức có một đêm đúng với mong muốn của hành khách cùng xe mà sau đó chả ai hỏi tới cô kể cả người đã ăn gà rán cô mời. Tôi đọc Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy cũng từ ngày ấy và suốt hai mươi năm sau năm nào cũng đọc lại bộ tiểu thuyết cồng kềnh đó một đôi lần trong những bữa ăn một mình thiếu chất thời hậu chiến mà cơm gạo mốc, rau lạc mùa nấu suông, bo bo hầm là món chính, còn sách là gia vị, hoặc ngược lại không chừng. Tôi ghen tị với bạn vì nó là con một, vì nhà nó khá giả, vì ba mẹ nó chiều nó, vì sàn nhà nó lát gỗ nâu bóng thật là sang, vì cửa sổ nhà nó nhìn xuống phố và vì tủ sách đó. Tôi đâu biết chẳng bao lâu nữa tuổi thiếu thời vô tư lự của bạn mình sẽ kết thúc và có lẽ nó còn khổ hơn tôi khi theo ba mẹ về Nam sau ngày thống nhất. Người thiếu phụ Hà Nội, giọng thuyết minh đầy truyền cảm của rạp Meling một thời gặp lại được mẹ cha sau hai mấy năm chia xa, nhưng mất chồng. Và mẹ cô bạn nhỏ của tôi đã không chịu đựng nổi. Ba nó về lại với người vợ cưới ngay trước buổi đi tập kết mà không kịp chung sống vẫn một lòng chờ đợi mấy chục năm trường. Không phải chỉ chiến tranh mới tạo ra được nạn nhân. Chiến thắng cũng có nạn nhân của nó ngay bên phía người thắng cuộc.

Tôi biết tôi dở hơi, vì những gì mình đọc chẳng có cách nào hòa nhập được với các câu chuyện vặt vãnh thường ngày ở sân chơi, bên máy nước công cộng, trước xe rau mậu dịch ở trường và ở nhà. Sách giúp người ta cân bằng lại trong thế bấp bênh của một hiện thực huyền ảo, giữa nghe và nhìn. Những đứa con trong nhiều gia đình (ăn bìa) Nhân dân có vẻ khôn hơn, sung sướng hơn những đứa con của các gia đình cán bộ nhà nước bình thường. Dĩ nhiên, với những đứa có bố mẹ làm cán bộ cao cấp thì ai lại ngốc nghếch đi so sánh với chúng nó. Thời nào và ở đâu chẳng thế, dân đã khi nào thỏa mãn với đời hơn quan. Sách là cái thước cho tôi đo lường mọi điều hiểu và không hiểu. Có điều may mắn là tự biết dở hơi nhưng dù sao thì tôi cũng chưa dở hơi đến mức không biết giấu biệt mình. Thú thật là tôi sợ mọi người, sợ thầy cô giáo, sợ người lớn xung quanh, sợ bọn trẻ con cùng học cùng chơi biết điều ấy. Biết tôi đọc đủ thứ vớ vẩn còn lâu mới hiểu, kiểu như Đỏ và đen, Hội chợ phù hoa, Những người khốn khổ, Chinh phụ ngâm hay Kiều, hay thơ Mới, và thuộc linh tinh đủ thứ. Từ Tiếng địch sông Ô tới Đây thôn Vĩ Dạ. Từ Tràng giang tới Nguyệt cầm. Thuộc, thế thôi, không định. Nghệ thuật có khả năng chinh phục êm ái thế. Bây giờ, sau bao nhiêu năm tháng, không còn sợ bị coi là ngớ ngẩn vì thế nữa, tôi cho rằng rất không nên giới hạn quá chặt chẽ đề tài sách vở cũng như hướng dẫn trẻ con chỉ đọc sách đúng lứa tuổi. Đọc kiểu đó thì được bao nhiêu chữ trong cuộc đời? Cứ để cho trẻ đọc, cho chúng tự mò mẫm vào thế giới tự nhiên và thế giới tâm tình khác. Chữ nghĩa có thể không làm ta may mắn và sung sướng, nhưng cho ta những hạnh phúc rất không ngờ, một cách vô cùng thực tế. Nó làm tôi nhãng đi được cơn bệnh năm ngày ba trận, cho tôi khả năng nghĩ xiên xẹo ngược xuôi, và cứ thế, đồng cảm được với nhiều người ngay cả khi giữa chúng tôi không có gì giống nhau hay gần gũi. Nhưng điều gì cũng phải nhìn cả hai chiều. Chữ nghĩa làm khó tôi cũng nhiều, nhiều hơn là tôi tưởng, trước tiên là làm tôi khó yêu khi đến tuổi yêu. Yêu làm sao khi tôi hoang mang không hiểu vì sao những mối tình giản dị thật Aitmatov trong cuốn Người thầy đầu tiên tôi đọc trộm của mẹ lại bị cấm, khi tôi đã trót choáng ngợp quá sớm trước chàng công tước ưa suy tư Andrey Nicoleievich Bolkonsky, khi chàng nằm đó dưới bầu trời Austerlitz, ngộ ra trong vị hoàng đế vĩ nhân lùn Napoleon là trùng trùng sâu thẳm tầm thường. Công tước Bolconsky không chỉ là bóng dáng người yêu tôi kiếm tìm từ lúc mười hai mười ba tuổi đầu đâu, chàng còn là ông thầy dạy cho tôi vô khối điều, về sự không nhất thiết phải nhún nhường trước toàn bộ giới thượng lưu, về cách nhìn phụ nữ và trước nhất là về sự đừng có mà thần thánh hóa một ai cũng đứng bằng hai chân trên mặt đất này y như mình. Tóm lại, với Chiến tranh và hòa bình, tôi có trong danh sách các ông bà thầy của mình tác giả của nó – một ông râu rất dài cư dân của một đất nước diện tích chiếm tới 1/ 6 quả đất.

Đừng ngạc nhiên khi tuổi ấy tôi và không chỉ mình tôi lại chúi mũi vào đống giấy dày quỵch chắc chắn là nhiều bụi bặm và không thể không dây vài ba giọt nước mắm đã pha hoặc chưa pha. Ốm đau yếu ớt không thể làm gì là một chuyện. Phần khác, tuổi chúng tôi không có nhiều trò để chơi. Bé thì còn thả đỉa ba ba ở nhà quê nơi sơ tán, lớn ra Hà Nội thì hết ô ăn quan nhảy lò cò chơi ù cũng chỉ đến trốn tìm trong hầm công cộng là cùng. Không đọc thì còn biết làm gì. Vả thị trường sách ngày đó đâu có thừa mứa như bây giờ. Ngồi với nhau mà so sánh kỷ yếu của các nhà xuất bản (trừ nhà xuất bản Sự Thật) nhà nào in bao nhiêu đầu sách khéo bọn thích đọc xơi không sót cuốn nào. Do vậy mà tâm trí chúng tôi bị nhào nặn rất buồn cười. Vừa nghiên cứu các thủ thuật tán gái kiểu gà trống khinh khỉnh quay đầu rồi lại nghểnh mỏ hé mắt nhìn phản ứng của lũ gà mái mà chàng Julien Soren thành thạo ở Đỏ và đen xong, vừa thở hào hển với “ơi em“ nọ kia của núi rừng Tây Nguyên bụng thon như bụng kiến vàng tóc như con rắn đen trườn trên tấm lưng cong lá mía trong “Trường ca Tây Nguyên“ xong, vừa chua xót khi khí tận tài còn với Khổng Minh “trời xanh thăm thẳm hận này biết bao giờ nguôi“Tam quốc chí xong, tôi lại có thể quay ngoắt qua những cuốn truyện trẻ con kiểu Đất rừng phương Nam, Quê nội ta hay Không gia đình, Thôn Tiểu Bắc Đẩu, Pháo đài cổ tây. Chữ nghĩa hay thật, nó giải phóng năng lượng cho đám trẻ chẳng mấy khi được đi đâu xa bao giờ, nơi xa nhất từng tới có lẽ chỉ là một miền quê đêm nằm năm ở thời sơ tán. Nó cho phép trí tưởng tượng vùng vẫy, phục hiện lại các chi tiết ở từng trang đã đọc, chuyển thể, biến mình thành nhân vật, sống rất chậm mà ào ạt. Chữ càng được tác giả sắc đặc lại càng nhiều khả năng bùng nổ. Và chúng ta đọc sách là sống qua bao nhiêu cuộc đời.

(Trích Tháng ngày ê a – Nhà xuất bản Kim Đồng – Hà Nội 2018)

bài đã đăng của Lê Minh Hà


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)