Trang chính » Chuyên Đề, Nhật Tiến, Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết, Văn Học Miền Nam Việt Nam Email bài này

Những Người Áo Trắng- Phần Thứ Hai – Chương II

Tôi gặp chàng vào một ngày đầu mùa hạ. Như lệ thường chúng tôi đi chơi vườn hoa vào những buổi sáng trời nắng đẹp. Lòng tôi nhẹ nhàng thư thái ngắm cảnh vật bừng lên sau những ngày mưa phùn rả rích. Đã từ lâu lắm tôi không tìm được cảm giác êm dịu ấy. Trời xanh cao. Gió lồng lộng thổi trong vườn. Ngày hôm ấy tôi không còn có ý nghĩ xấu hổ trong bộ quần áo trắng, không còn phải kéo nón sụp mặt mỗi khi gặp kẻ qua đường. Tôi mạnh dạn đùa với lũ trẻ. Tôi nắm tay chúng nó nhẩy dây và chơi đùa với tất cả vô tư.

Cho đến lúc tôi chợt để ý đến một thanh niên ngồi gần chỗ chúng tôi, đang cắm cúi xem sách không biết tự lúc nào. Có lẽ chàng là một sinh viên nghèo. Quần áo rất giản dị, tóc rủ xuống trán, mắt chàng dán vào quyển sách mà không để ý đến chung quanh. Cặp kính trắng gọng đen làm cho chàng đạo mạo thêm chút nữa, tôi có cảm tưởng rằng chàng thuộc loại sinh viên chăm chỉ đến độ mọt sách mọt đèn. Cũng vì thế mà tôi thấy có cảm tình với chàng.

Nhưng ý nghĩ vơ vẩn ấy chỉ thoáng qua trong óc và tôi lại quay về cuộc vui với lũ trẻ.

Tuy vậy, không hiểu tại sao từ phút đó thỉnh thoảng tôi lại nhìn trộm chàng. Hai vai gầy của chàng nhô lên, chiếc đầu cúi xuống như hiện thân của sự nhẫn nại. Tôi có cảm tưởng như tìm được ở chàng một vẻ gì độ lượng rất hợp với tâm tình của tôi.

Rồi có một lần chàng chợt ngẩng lên nhìn tôi. Vô tình bốn cặp mắt chúng tôi gặp nhau. Không hiểu sao má tôi nóng bừng và chắc là đỏ lắm. Tôi khẽ mỉm cười và lơ đãng quay đi.

Cái nhìn ấy bất ngờ làm xáo trộn lòng lôi không xiết kể. Tôi thiếu tự nhiên hơn trước và hình như chàng cũng không còn chăm chú đọc sách nữa. Tôi thấy chàng đứng dậy gấp cuốn sách lại, lững thững đi bách bộ rồi lại ngồi xuống bứt những sợi cỏ ở dưới chân để thỉnh thoảng nhìn tôi. Sao cái nhìn của chàng bao dung đến thế. Cặp mắt kẻ cả sâu thăm thẳm như soi mói, như âu yếm, dịu dàng. Cũng vì vậy tôi không dám nhìn chàng nữa nhưng lòng tôi tràn ngập một niềm vui khó tả.

Đến giờ ra về, tôi nửa như vui mừng nửa như tiếc nuối. Điều ấy làm tôi bâng khuâng. Khi dẫn chúng nó đi ngang qua lề đường, tự nhiên tội ngoái cổ lại một lần nữa. Tôi thấy chàng cũng đang nhìn theo tôi. Không hiểu sao tự nhiên tôi lại cười. Và khi cười xong tôi mới thấy ân hận, nhưng trong sự ân hận tôi lại thấy lòng tràn ngập sung sướng. Mọi lần nghe chúng nó lao xao trong hàng ngũ tôi đã mắng chúng nó, thì ngược lại lần này tôi bàn góp với chúng. Giọng của tôi không được tự nhiên, trầm tĩnh bởi vì quanh tôi, tôi có cảm tưởng như chỗ nào cũng có cặp mắt bao dung của chàng theo tôi. Cái tâm trạng ấy xáo trộn một cách nhẹ nhàng trong tâm tư cho đến khi bức tường trắng cao ngất hiện ra trước mắt. Sự ngao ngán lại đến với lòng tôi. Tôi thấy xa chàng quá bởi vì tôi là đứa mồ côi. Đời tôi còn phải ràng buộc với công ơn của các bà phước, với lũ trẻ đã bao năm sống cùng tôi trong Cô Nhi Viện này.

Nghe tiếng bánh xe sắt rền rĩ của chiếc cổng cao ngất nghiến trên đá sỏi, tôi có cảm tưởng rằng nó đã nghiến nát lòng tôi. Tự nhiên tôi lại nghĩ đến chàng thanh niên hồi sáng. Ngày hôm ấy về, tôi đã soi mặt vào tấm kính cửa rồi tự hỏi không hiểu mặt tôi lúc đó có được tự nhiên không. Tôi thử lại vài dáng điệu của tôi lúc gặp chàng và tôi thấy tự mãn. Nhiều lúc tôi lo sợ cho cái tâm trạng ấy. Tôi yêu ư? Không lẽ quan niệm tình yêu đối với tôi dễ dãi thế. Nhưng sự thật là như vậy, rồi vì lòng tôi sinh ra mong mỏi, nhớ nhung và tôi lại chờ đợi mau cho đến ngày Chủ nhật. Bẩy ngày đối với tôi dài quá. Tôi thấy mình có lúc như bâng khuâng, nhớ nhung, có lúc lại buồn thảm, trống rỗng. Có lẽ tôi đã yêu chàng thật rồi. Tôi muốn tình yêu của tôi thu lại thật nhỏ, để giấu kín tận đáy lòng, vì quanh tôi, những bóng áo trắng thấp thoáng của lũ trẻ, những tiếng chân nhẹ nhàng của các bà phước, tất cả làm tôi nơm nớp lo âu.

Và rồi tuần nầy qua tuần khác, tình yêu của tôi một ngày một rõ rệt hơn lên. Đôi vai gầy, mái tóc bù, cặp kính trắng của chàng lôi cuốn tôi một cách mãnh liệt. Mỗi lần nhớ đến hình ảnh ấy, một cảm giác dịu dàng lại đi qua óc. Tôi thả lỏng hồn tôi trong muôn ngàn tưởng tượng để xây lại một cái mộng êm đềm trong óc. Nhưng cũng có lúc tôi nghĩ rằng tôi không xứng đáng là người yêu của chàng vì tôi là đứa mồ côi. Trong cuộc sống bên ngoài, bên cạnh chàng còn có biết bao nhiêu thiếu nữ hơn tôi. Ý nghĩ ấy làm tôi uất ức, khổ sở, nhưng cũng vì thế tôi thấy yêu chàng mãnh liệt hơn lên.

Giang có lẽ hơi nghi ngờ tôi, bởi vì một đôi lần nàng bắt gặp tôi ngồi cười một mình. Tuy vậy nàng chỉ nhìn tôi với một nụ cười tinh quái chứ chưa đọc rõ được lòng tôi. Bây giờ tôi lại thích sống cô độc. Tôi hay ngồi ở hàng hiên để được suy nghĩ một mình, để được tự do sống với chàng trong mơ mộng. Cũng vì thế mà tôi sinh ra lười biếng. Mỗi lần cầm đến sách là hình ảnh chàng hiện ra trước mắt. Tôi học chẳng thuộc trơn một bài nào. Bà Nhân, bà Hạnh đã bắt đầu để ý dò xét tôi. Những lúc ấy tôi cho rằng không ai có thể hiểu được câu chuyện lòng của tôi nếu tôi chẳng nói ra.

Đêm tối đi ngủ, tôi bắt đầu mang cái tật ôm gối. Tôi tưởng tượng là tôi được nũng nịu trong cách tay chàng, được vòi vĩnh, được giận dỗi, được ngoan ngoãn vâng theo lời chàng. Trong giấc ngủ ít khi tôi không nằm mơ thấy chàng, những giấc mơ êm đềm gây cho tôi sự sung sướng nhẹ nhàng suốt cả buổi sáng hôm sau.

Cứ như vậy tôi đã sống những ngày tạm gọi là đầy đủ. Tình yêu thầm kín ấy an ủi tôi rất nhiều và làm cho tâm tư tôi bớt hằn học, u uất. Làm việc gì tôi cũng đem chàng ra làm đối tượng. Tôi coi tình yêu như một cái gì thiêng liêng cao quí. Tôi không thể nào hành động những điều gì không xứng đáng với tình yêu ấy. Do đó mà tôi trở nên ngoan ngoãn hơn, dịu dàng hơn và tâm hồn tôi thanh cao hơn trước.

Tuy vậy, không hiểu chàng có yêu lại không, nhưng riêng tôi, từ nay nếu không có chàng có lẽ đời tôi có thể héo khô đến chết được.

***

Một ngày Chủ nhật, trời lâm râm mưa. Bọn chúng tôi phải ở lại không được ra ngoài.

Tôi bồn chồn không lúc nào đứng yên một chỗ. Tôi oán ông Trời không sao kể xiết. Tiếng ồn ào trong phòng, tiếng cười đùa, tiếng hát hỏng, tiếng học bài của lũ trẻ gieo vào lòng tôi biết bao nhiêu chán nản. Tôi từ chối không kể chuyện cho bé Phượng, không nhận lời mời của Giang rủ lên phòng chị Nam tán chuyện gẫu. Tôi cũng bỏ cả lời dặn của bà Nhân rằng sáng nay phải lên phòng bà Madeleine mà uống thuốc sốt, vì tôi bị nhiễm cảm do trận mưa chiều hôm kia.

Tôi không muốn làm gì cả. Đầu óc tôi rối bời. Tôi nhớ những buổi trời đẹp nắng, nhớ hình dáng người yêu, tiếc khoảng thời gian ngắn ngủi êm đềm của những ngày hôm ấy. Và tôi thấy cần phải ra khỏi chốn này, cần phải đi để được suy nghĩ một mình. Tôi liền xin phép bà Nhân đi thăm Liễu.

Bà Nhân có vẻ nghi ngờ, nhưng bà không giữ, bà cho phép tôi được đi đến mười một giờ.

Người tôi nhẹ đi một nửa. Tôi sung sướng về phòng mặc áo và cứ thế, mặc cho trời mưa, tôi lững thững đi ra cổng.

Nhưng khi ra đến ngoài phố, nhìn mặt đường loáng nước, nhìn mưa phơi phới trên chòm cây, tôi mới thấy mình liều lĩnh và kỳ lạ. Tôi thấy ngượng với mình. Tại sao tôi làm như vậy? Có phải chúng tôi đã yêu nhau đâu! Rồi nhìn đến bộ quần áo thiểu não của tôi ẩm ướt và nhớp nháp, tôi thấy không xứng đáng với chàng một chút nào. Qua một cửa hiệu, nhìn bóng mình trong cửa kính, tôi thấy xấu hổ vì hành động vô lý của mình. Nhưng không hiểu sao, tôi vẫn không muốn quay về để cứ thế một mình lủi thủi đi dưới mái hiên của thành phố. Chủ nhật vào ngày mưa thế mà phố xá vẫn nhộn nhịp. Hàng Bông, hàng Gai, Bờ Hồ còn có vẻ lộng lẫy hơn ngày thường. Mỗi chuyến xe điện chạy qua, tôi thấy chật ních những tà áo màu xanh đỏ.

Bên hè phố, các thiếu nữ Hà Nội nhởn nhơ đi dưới mưa. Tôi thấy kém người ta quá. Tôi có cảm tưởng như không bao giờ gần được bọn họ. Ý nghĩ ấy cũng làm tôi thấy xa chàng quá. Cuộc sống bên ngoài sang trọng và đài các như vậy, có bao giờ chàng lại thèm để ý đến tôi. Rồi tôi lại thấy đau khổ cùng cực, phải kéo thấp cái nón xuống để chùi mấy hạt nước mắt long lanh.

Tôi thẫn thờ tiến vào vườn hoa như một cái máy. Không hiểu ý nghĩ nào đã thúc đẩy tôi làm như vậy. Tôi tần ngần đứng dựa vào cái ghế đá mà chàng vẫn ngồi mọi tuần. Hôm nay trong vườn hoa vắng ngắt, con đường quanh co trên những bãi cỏ vũng đầy nước, mưa vẫn phơi phới phủ trắng xóa cả những lùm cây. Tôi cố mà không thể tưởng tượng nổi cái khung cảnh êm đềm của những tuần qua. Quanh tôi chỉ là một vùng vắng lặng không một bóng người, và rồi tôi chợt thấy mình trơ trẽn một cách lạ lùng. Một ý nghĩ hốt hoảng thoáng qua óc, tôi thấy sợ hãi như có một cặp mắt tò mò nào hiểu rõ tâm sự của tôi đương nhìn thấy tôi lúc ấy. Vội vàng tôi bước mau như kẻ trốn tránh và thấy hối hận vì câu chuyện xin phép ra ngoài hôm nay. Tôi nhớ đến Phượng, đến lũ nhỏ, đến Giang, Nam. Hình như tôi thấy mình có tội với những con người ấy. Tôi đã bỏ họ, xa lánh sự an ủi cho nhau trong những ngày đau khổ, để một mình ra đứng đây. Điều đó làm tôi càng thêm ân hận, và tôi rời bỏ khu vườn ra về mà không luyến tiếc.

Mưa ngoài trời vẫn nặng haạt. Nước mưa làm hai vai áo của tôi ướt đẫm. Tôi thấy người gây gây lạnh. Đồng hồ ở một cửa hiệu chỉ hơn mười giờ. Tôi nghĩ đến lúc phải quay về cho đúng hẹn với bà Nhân. Nhưng tự nhiên tôi lại thấy chán nản lạ. Hình ảnh chiếc cổng sắt, những bức tường chạy dài, chiếc sân cỏ bao la rộng rãi gieo vào lòng tôi biết bao nhiêu tủi hận. Tôi nghĩ rằng đó không phải là chỗ dung thân của tôi, cũng như cuộc sống bên ngoài đã hờ hững với tôi đến độ như hắt hủi. Như vậy con người tôi trở nên lạc lõng bơ vơ. Tôi không còn tìm đâu ra được chỗ bấu víu, ngay cả đến người yêu mà tôi vẫn tôn thờ.

Những ý nghĩ chán nản ấy cứ quanh quẩn đến vò xé tâm tư, làm tôi thấy vô cùng chán nản. Chân tôi vẫn bước mà không rõ sẽ đi đâu? Óc tôi suy nghĩ rất nhiều mà hóa ra chẳng suy nghĩ gì cả. Tôi tự mong giá lúc ấy được khóc to lên, rũ mình xuống, mặc cho giòng nước mắt đau khổ được tự do chẩy thì có lẽ tôi sẽ khuây khỏa được phần nào.

Qua phố Cửa Nam, tôi chợt nhớ đến Liễu. Trong bức thư gửi cho tôi, Liễu có cho biết địa chỉ. Có được một người bạn để thổ lộ tâm tình lúc này thì thật là sung sướng, nhất là người ấy lại ấy lại là Liễu. Nhưng nhìn đến bộ quần áo thiểu não của tôi, nghĩ đến cuộc sống sa hoa của Liễu, tôi lại ngại ngần. Tuy vậy tôi vẫn như một cái máy đi rẽ vào ngõ Nam Ngư. Tôi tìm được nhà Liễu một cách dễ dàng. Đó là một cái biệt thự nho nhỏ, có rặng ti-gôn leo kín. Tôi không ngờ cuộc sống của Liễu bây giờ đường hoàng thế. Tôi nhớ đến hình ảnh người thiếu nữ ấy hơn một năm trước. Ngày ấy Liễu cũng như tôi, chắt chiu từng mảnh vải, ước mong những cái thật tầm thường như cái bút, quyển vở hay một cuốn sách. Tôi còn nhớ mãi những buổi rỗi rãi ngồi bên Liễu, chúng tôi mài lại cái ngòi bút cùn lên chôn một cái bát, Liễu bảo tôi với tất cả vô tư:

– Thiên hạ ai cững như mình thì các nhà sản xuất đồ dùng đến đóng cửa hết.

Và chúng tôi cùng cười, cái cười chẳng có nghĩa gì cả. Bây giờ Liễu khác xưa quá rồi mặc dầu đánh đổi cuộc sống nhung lụa ấy, Liễu đã mất đi cái gì cao quí nhất của đời người con gái. Tôi lại bâng khuâng nghĩ rằng không biết tôi nên thương Liễu hay chính Liễu cũng đã thương đến tôi.

Tôi lượn qua nhà nàng tất cả ba lượt. Tiếng cười ròn rã ở bên trong vọng ra làm tôi ngần ngại. Tôi đoán Liễu đang vui với bạn nàng ở trong ấy. Nghĩ đến những vũ nữ ăn mặc hở hang, kiểu cách, đến những dáng điệu đi đứng, cách ăn nói phù hợp với nghề nghiệp của họ, tôi lại thấy rằng mình không thể nào gọi cửa được trong lúc này. Ý nghĩ ấy làm tôi thấy xa Liễu, tôi không thể thổ lộ tâm tình của tôi cho Liễu nghe nữa. Vì chúng tôi bây giờ không còn đồng cảnh ngộ. Trong hai đứa tuy sự đau khổ đều có thể ngang nhau, nhưng hai cuộc sống là hai sự cách biệt.

Cho nên hình ảnh bé Phượng lại hiện ra trong óc. Có lẽ chỉ có bé Phượng là gây cho tôi được nhiều nguồn an ủi. Tôi thấy lòng nhẹ hơn, đỡ trống trải và lần ấy tôi nhất định quay trở về.

Chuông đồng hồ ở nhà ai ngân nga điểm mười hai tiếng…

bài đã đăng của Nhật Tiến


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)