Trang chính » Chuyên Đề, Nhật Tiến, Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Những Người Áo Trắng- Phần Thứ Nhất- Chương I

LTS: Những Người Áo Trắng xuất bản năm 1959 là truyện dài đầu tay của Nhật Tiến, về đời sống trong cô nhi viện qua lời kể của Quỳnh, một cô gái có lòng nhân ái và đời sống nội tâm mãnh liệt. Ngay từ tác phẩm đầu tiên, Nhật Tiến đã cho thấy khuynh hướng xã hội, tinh thần nhân bản, và sự đồng cảm chân thành với những cảnh ngộ và mảnh đời bất hạnh. Theo nhận định của Đài Vô Tuyến Việt Nam năm 1960, “đây là một đề tài mới lạ có tính cách vĩnh cửu mà những nhà văn Việt Nam chưa một ai khai thác.” Trên bìa sau cuốn truyện còn có nhận định của Tạp chí Bách Khoa: “Nhật Tiến có cái tự nhiên của một con người giữ vững được thế quân bình và ý thức được giá trị nhiệm vụ của mình trong khi cầm bút.”

Trước khi vào truyện.

Ai có đi qua khu Tám-Mái, gần ô Kim Mã, Hà Nội chắc hẳn đã nom thấy bốn bức tường trắng chạy dài trên ven đường xe điện.

Bức tường ấy là của Viện Cô Nhi, là biên giới ngăn hẳn cuộc sống mồ côi của chúng tôi với cuộc sống bên ngoài.

Khoảng đất con bao bọc bởi dẫy tường ấy đã mang nặng một thế giới âm thầm đến độ đơn độc. Nhưng sự lặng lẽ càng lên cao thì cái sôi nổi gắt gao trong tâm hồn chúng tôi càng tăng thêm dữ dội.

Bởi vì mỗi đứa chúng tôi có một cuộc sống riêng biệt.  Cuộc sống chỉ chỗi dậy trong những đêm trằn trọc, thao thức, xót xa đầy nước mắt.

Chúng tôi không phủ nhận công lao của các bà phước, của các nhà hảo tâm, của các cơ quan từ thiện.  Nhưng tình nhân loại của các người mới chỉ an ủi được chúng tôi một phần nào sự đau khổ về vật chất, thiếu cơm, thiếu áo, trong quãng đời côi cút của chúng tôi.

Còn linh hồn chúng tôi, những linh hồn lạc lõng thiếu tình thương của cha mẹ, tình yêu của con người đến tuổi dậy thì và thiếu cái ước vọng vô bờ của tuổi hoa niên, hỏi bàn tay nào xoa dịu cho được?

Cho nên tâm hồn chúng tôi là những tâm hồn khao khát sự thương yêu, trằn trọc với thực tại, để chỉ quay về vò xé lòng mình trong những đêm dài mất ngủ.

Tiếng nói của những nhân vật trong cuốn sách nhỏ bé này chỉ là một trong muôn ngàn tiếng nói của những con người đang sống âm thầm bên kia bức tường trắng.  Những tâm tư  hỗn loạn gói ghém trong cuốn sách nhỏ bé này cũng chỉ là muôn ngàn tâm tư đang quay cuồng như bão lốc trong tâm hồn hàng ngàn lũ trẻ mồ côi.

Cho nên viết cuốn này, chúng tôi chỉ có ý định hé mở cái khung cửa sắt cao vòi vọi ngoài ngưỡng cửa Cô Nhi Viện ấy để các bạn được nhìn vào cuộc sống của chúng tôi, để thông cảm với chúng tôi về nỗi cực nhọc của những con người côi cút.

QUỲNH


PHẦN THỨ NHẤT

CHƯƠNG I

Đèn trong mọi phòng đã tắt mà ở buồng bên nó vẫn khóc. Tiếng bà Nhân dịu dàng biết mấy, nhưng cũng chỉ làm nó xuôi tai được một lúc, rồi lại vẫn nức lên ngặt nghẽo. Giọng nó hầu như đã khản. Tiếng khóc khê nồng nặc. Có vẻ nó cũng sắp buồn ngủ.

Nó là một con bé lên chín, mới được đưa vào hồi chiều. Tôi không nhìn rõ mặt nó vì lúc ấy tôi phải chia cơm cho lũ nhỏ. Nhưng hình như nó ngoan lắm, vì nghe tiếng nó gọi mẹ mới dễ thương làm sao. Nhất là lúc nó gọi tên chị Loan. Chắc chị Loan nó hiền lắm. Điều ấy làm tôi ứa nước mắt vì tám năm trước đây cũng đã có lần tôi gọi chị Hồng của tôi trong căn phòng ấy. Tám năm qua, tuy nhanh chóng nhưng đã làm tôi thay đổi biết bao. Dĩ vãng đối với tôi bây giờ như xa hẳn. Bởi vì tôi không muốn nghĩ và cũng không dám nghĩ tới nữa. Hình ảnh những người thân yêu của tôi mờ đi nhiều quá. Không hiểu rằng tôi là người vô tình hay vì đau khổ đến quá nhiều với cuộc đời xấu số của tôi.

Hôm nay tôi lại được nghe con bé gọi chị Loan, tôi muốn bật ra tiếng khóc. Nước mắt của tôi đã ướt đẫm mặt gối. Tôi xoay mình trên chiếc giường sắt nhỏ bé này không biết bao nhiêu lần rồi. Trong khi ấy quanh tôi lũ trẻ đã triền miên trong giấc ngủ. Dẫy màn trắng chạy dài khắp gian phòng rộng thênh thang về đêm, dưới ánh đèn vàng vọt nom buồn một cách ray rứt. Tôi nghe thấy cả tiếng thở đều hòa của chúng nó. Tự nhiên tôi thấy tình thương chúng nó dạt dào đến xâm chiếm hồn tôi. Chúng tôi đồng cảnh ngộ mồ côi như vậy cả. Nhưng chúng tôi còn hơn con bé bên kia. Bởi vì chúng tôi đã quên được, hay đúng hơn là đã vượt được quãng thời gian đầu tiên đau khổ nhất. Còn nó, nó vẫn còn nhớ mẹ, nhớ chị Loan của nó. Cho đến bao giờ nó mới quên được mẹ nó và chị nó đi. Nghĩ đến điều đó, tôi thấy thật là mai mỉa.

Trằn trọc giờ lâu, tôi tung cái mền và rón rén trở dậy. Tôi lén ra khỏi phòng để được ghé mắt nhin vào buồng bên. Dưới ánh đèn nhạt, bà phước Nhân vẫn nhẫn nại ngồi ôm nó vào lòng. Lúc này nó đã thiu thiu ngủ. Mắt nó còn ướt lệ. Mấy sợi tóc của nó còn dính chặt lấy hai bên má. Mặt nó nhem nhuốc quá nhưng bầu bĩnh làm sao. Tuy nó ngủ, nhưng mồm nó vẫn còn mếu, thỉnh thoảng nó lại nấc lên khiến bà Nhân phải ghì nó vào lòng. Bàn tay nhỏ xíu của nó níu chặt lấy áo bà. Mặt bà rười rượi buồn, cúi xuống sát má nó. Bàn tay mềm mại của bà vuốt ve từng nẹp áo của nó, thì ra nó chưa được thay quần áo. Bởi vì nó vẫn mặc chiếc quần lụa đen, và cái áo cổ vuông thêu chỉ đỏ. Đáng lẽ ra tất cả những trẻ đã vào trong này là phải mặc bộ quần áo vải thô trắng may đều một loạt.

Tôi tưởng tượng đến ngày mai, khi mặc bộ quần áo ấy, rồi đứng xếp hàng hai trong mọi công việc, từ lúc ăn, lúc chơi, đến lúc ngủ chắc nó sẽ thấy lạc lõng bơ vơ cũng như nó đã lạc lõng từ khi nó còn ở bên kia ngưỡng cửa Cô Nhi Viện này. Chạnh nhớ đến ngày mới vào của tôi cũng cùng một tâm trạng ấy, tôi lại ứa nước mắt. Lẳng lặng quay về phòng tôi đinh ninh rằng sáng mai tôi sẽ xin cho nó ở trong “đội” của tôi săn sóc. Tôi sẽ yêu nó như chị Loan của nó yêu nó, cũng như chị Hồng của tôi ngày xưa yêu tôi.

Đêm hôm ấy, một đêm hiếm có, tôi thả lỏng hồn tôi về dĩ vãng.

***

Hôm sau tôi được biết tên nó là Phượng. Ba Phượng mất từ ngày nó còn bé. Phượng đã sống đầm ấm dưới tình thương của hai người mẹ: Mẹ nó và chị Loan nó. Nhưng Chúa không thương nó, nên đã cướp đi một lúc hai người thân yêu nhất. Mẹ và chị nó chết vì trúng mìn trong một chuyến xe đi cất hàng ở xa.

Tôi xin được cho bé Phượng vào đội của tôi. Tôi đem Phượng đi tắm rửa. Biến cố nhanh chóng và phũ phàng quá làm mặt Phượng trở nên ngơ ngác tuy bây giờ nó không khóc nữa. Nó hành động theo tôi như một đứa mất hồn. Khi thay quần áo cho nó, nó bảo tôi:

– Chị giặt cho em rồi hôm nào đi học chị lại cho em mặc nhé.

Lòng tôi se lại và tôi chỉ biết gật đầu. Tôi không dám cho nó biết nhiều về những luật lệ sống ở đây. Để nó tự hiểu dần dần có lẽ đỡ khổ cho nó hơn. Tôi xỏ vào bàn chân xinh xắn của nó một đôi guốc mộc. Nó hỏi:

– Đôi dép đỏ của em đâu?

Tôi buộc lòng phải nói dối:

– Thôi đi thế này tiện hơn, dép đỏ để đi chơi mới đi chứ. Dùng ở nhà phí mất em ạ.

Và lần này tôi thấy ân hận vì đã nói dối, tuy rằng trong cái khung cảnh chứa chan đau khổ này người ta cũng chỉ dùng những lời nói dối để an ủi cho nhau. Tôi tự nghĩ, nếu tới Chủ nhật dẫn nó đi chơi tập đoàn, nó hỏi dép đỏ thì không biết tôi sẽ trả lời ra làm sao. Tôi mong rằng từ hôm nay đến hôm ấy nó sẽ quen với lối sống trong Cô Nhi Viện này.

Bữa cơm hôm ấy bé Phượng không ăn được nhiều. Tôi không dám nói rằng cơm ở đây kham khổ. Nhưng chắc rằng không thể bằng bữa cơm chiều chuộng ở nhà bé Phượng. Cho nên lúc ăn tráng miệng tôi đã nhường phần chuối của tôi cho nó.

Đáng lẽ ở đây tôi không được thiên vị một đứa nào, nhưng tôi đã làm trái cái lệ ấy. Buổi trưa tôi ôm bé Phượng vào lòng và kể chuyện Tấm Cám cho nó nghe. Tôi tưởng sẽ làm nó khuây khỏa, nhưng trái lại, càng nói tôi càng gợi cho nó hình ảnh ở nhà. Nó nói:

-Chị kể chuyện nghe giống chị Loan quá. Chị Loan em cũng hay kể chuyện cho em.

Và rồi nó bâng khuâng như đang theo đuổi ý nghĩ của riêng nó. Tôi phải cắt đứt những dòng tư tưởng của nó bằng cách dẫn nó ra hiên sau nói chuyện về cây cỏ, hoa lá. Đáng lẽ bà Phước Nhân sẽ trách tôi vì tôi không theo lệ ngủ trưa. Nhưng vì bé Phượng là đứa mới vào cần phải an ủi nó, cho nên bà chỉ nhìn tôi bằng cặp mắt hiền từ trước khi khép cánh cửa sổ buồng bà lại.

Bé Phượng tỏ ra thông minh lạ. Nó biết nói chuyện và biết nhiều thứ. Chắc chị Loan nó học khá lắm nên sau này có nhiều khi nó có cái tò mò rất tế nhị, những câu hỏi vẫn ngây thơ mà sâu sắc. Như thể : “Sao quần áo ở đây chỉ toàn mầu trắng ?”, “Sao ở đây đông đúc là thế mà ít nghe tiếng ồn ào cười nói.”, “Sao  em cứ phải xếp hàng vào nhà Nguyện trong khi ở nhà, em chỉ đi lễ Chùa”..vv…  Thú thật, tôi cũng chẳng biết trả lời nó ra sao nhưng tôi lại thấy yêu nó hơn và tôi càng muốn thay chỗ của chị Loan trong lòng nó.

Đến hai giờ, một hồi chuông rung lên báo hiệu giờ vào học, tôi phải tạm rời nó. Bởi vì tôi phải lên dạy lớp Nhất mà Phượng chỉ học tới lớp Ba. Tôi dẫn nó về phòng và xếp vở cho nó. Nó hơi lạ rằng mình không được đến trường cũ như trước nữa. Tôi thấy mặt Phượng có vẻ buồn buồn. Đưa nó vào lớp xong, tôi mới quay về lớp của tôi. Tôi thấy lòng bâng khuâng lạ, không biết tôi nhớ nó hay tôi lo cho nó bị bơ vơ, bé bỏng giữa đám người xa lạ.

Mải suy nghĩ như vậy làm tôi lơ đãng đi mấy phút. Đến khi tiếng nói chuyện xì xào ở bàn dưới vang lên tôi mới lấy được thăng bằng.

Hôm nay tôi cho chúng nó viết bài chính tả “Tương Lai” của Nguyễn Bá Học. Tôi tự nghĩ không hiểu làm sao tôi lại chọn cho chúng nó bài ấy. Tôi biết giảng cho chúng nó những gì đây? Bởi vì với chúng nó thì tương lai là cái gì ? Chúng nó học nhiều, hiểu nhiều, biết nhiều rồi đời chúng nó sẽ ra sao? Hay cũng lại như tôi sống âm thầm trong bốn bức tường trắng này để lại kế tiếp dạy dỗ những trẻ mồ côi đến sau, để trả nợ những người đi trước. Nghĩ đến đó tôi thấy mình thấp kém quá. Nhưng suy cho cùng thì tình cảm con người đều như thế cả. Ai mà mong vùi cả đời mình vào chốn tối tăm này. Tôi muốn phát khóc vì chính tôi đang ở trong cái hoàn cảnh tối tăm ấy.

Cho nên lời giảng của tôi hôm nay ngượng nghịu lạ. Vạch ra những sự cố gắng nỗ lực ngày hôm nay để xây dựng một tương lai rạng rỡ, tôi thấy như tôi đã nói dối chúng nó, đã vẽ cho chúng nó cái viễn tượng mà chúng nó không bao giờ được hưởng. Tôi rất khổ tâm về công việc làm như vậy. Thì ra những ngày trước, những năm trước tôi đã nói, đã làm và đã suy nghĩ như một cái máy.

Tôi bâng khuâng tự hỏi không hiểu vì lý do gì đã làm thay đổi lòng tôi một cách nhanh chóng đến thế. Rồi nghĩ đến chị Loan của bé Phượng, đến chiếc áo cổ vuông thêu chỉ đỏ, và đôi dép đỏ của nó, không hiểu mầu đỏ mà chị Loan thích cho nó dùng có phải là mầu háo hức của người con gái đến thì không?

Cứ mải suy nghĩ như vậy, tôi đâm lay hoay suốt cả buổi học.

Đến tối, tôi tìm bà phước Nhân để thú rõ tất cả những ý nghĩ của tôi về bài giảng ngày hôm nay. Bà suy nghĩ giây lâu rồi bảo tôi:

-Con quan niệm như vậy thì hẹp hòi quá. Cuộc sống có tương lai đâu phải chỉ ở sự sa hoa, vật chất, ở danh vọng, tiếng tăm. Tương lai đâu có phải chỉ ở sự thành công trên đường đời. Con học rộng, con biết nhiều con hiểu rõ nhiệm vụ của con dưới chân Chúa, con luyện linh hồn con sao cho được gần Chúa, con hành động sao cho xứng đáng là con Chúa, con xoa dịu được sự đau khổ nhọc nhằn của những tôi con Chúa, như vậy tức là con đã nắm được sự sống cao đẹp, đã đến gần được con đường dẫn tới Chúa rồi. Ta tưởng cái phần thưởng ấy lấy gì mà so sánh cho được.

Và rồi bà nói nhiều, nói rất nhiều, nhưng tôi không nghe thấy gì nữa, tôi chỉ gục đầu xuống khóc rưng rức. Tôi không ân hận về những điều tôi nghĩ ban chiều, vì lòng tôi còn trẻ quá, đời tôi chưa được nếm mùi khát vọng, tuổi tôi bây giờ mới chớm nở yêu đương, làm sao tôi có ý nghĩ thanh cao được như bà. Cho nên tôi khóc. Tôi khóc thương cho tất cả những thiếu nữ cùng cảnh ngộ, cùng lứa như tôi. Nhưng tôi không dám nói ra cái ý nghĩ ấy cho bà phước Nhân nghe, tôi chỉ biết giấu kín ở trong lòng. Có nhiều sự thật mà chẳng ai có thể thổ lộ ra ngoài. Lần ấy là lần đầu tiên bà phước Nhân không giải quyết được cho tôi nỗi thắc mắc, bởi vì nó thuộc về một khía cạnh tâm lý của những con người mới trưởng thành như tôi mà không thuộc phạm vi đạo lý của bà.

Từ giã bà phước Nhân với tất cả tan nát tôi về phòng học. Lúc ấy trong phòng lao xao như ong vỡ tổ. Hơn một trăm mái đầu đổ bóng lẫn lộn lên những nếp tường vàng vọt.

Chúng nó đang gào bài như cuốc kêu. Tôi đảo mắt nhìn bé Phượng, nhưng không thấy nó. Tôi vội vã bước ra hiên sau. Dưới ánh đèn héo úa từ sân chiếu chếch vào, tôi thấy bé Phượng đang ôm gối ngồi trên lan can nhìn lơ đãng ra ngoài phố. Mắt nó đen lay láy và hình như ướt lệ. Hình dáng nhỏ xíu của nó thu bên cột gạch. Trước khoảng sân bao la, rộng rãi với những bức tường trắng chạy dài, tôi cảm thông nỗi trơ trọi của nó vô cùng. Rồi hình ảnh mẹ nó, chị Loan nó, người thiếu nữ tôi không bao giờ gặp mặt nhưng chắc là đẹp lắm, hiện ra lờ mờ trong óc tôi. Tôi thấy thương Phượng lạ. Tôi muốn phát khóc. Lúc ấy tôi như quên hẳn cảnh ngộ của bé Phượng. Tình yêu thương Phượng lại dạt dào trong lòng tôi, và bây giờ lôi lại thấy bà Nhân nói đúng.

“ Con hành động sao cho xứng đáng là con Chúa, con xoa dịu được tất cả sự đau khổ nhọc của những tôi con Chúa, như vậy là con đã nắm được sự sống cao đẹp, đã tới gần được con đường dẫn tới Chúa rồi.”

Tôi muốn chạy ngay vào phòng bà Phước Nhân để được ôm lấy chân bà, để mà khóc, để mà tạ lỗi, nhưng tôi lại ghì bé Phượng vào lòng. Óc tôi thoáng qua một ý nghĩ. Đáng lẽ tôi cầu xin sự che chở của bà phước Nhân cho linh hồn yếu ớt của tôi, thì tôi lại đem sự yếu ớt ấy che chở cho bé Phượng. Nhưng có lẽ Phượng không thấy rõ sự trái ngược ấy, mà nó vòng tay qua tôi như níu lấy một sự gì vững chắc lắm. Mồm Phượng mếu đi. Tôi chắc nước mắt của tôi làm nóng má nó nên nó mới giơ bàn tay xinh xắn lên sờ vào mí mắt tôi. Thấy tôi khóc bàn tay nó bỗng như thẫn thờ, rồi dừng lại trên má tôi, vuốt ve. Tôi định an ủi nó không ngờ chính nó lại là người an ủi tôi. Cặp mắt đen láy của nó mở to ra nhìn tôi. Tôi cúi xuống hôn lên cặp mắt nó. Đây là cái hôn nồng nàn đầu tiên trong đời tôi. Nụ hôn dâng lên tự đáy lòng, tôi biết rằng tôi không hôn Phượng, tôi chỉ trút lên nó tất cả nỗi mê đắm của lòng tôi. Nhưng hôn Phượng xong, tôi ngượng ngùng hổ thẹn. Bên sự đau khổ của nó, tôi không muốn có một ý nghĩ mờ ám cho riêng tôi. Nếu nó biết sự thật ấy, nó sẽ nghĩ thế nào về tôi? Nhưng nhìn lại, tôi thấy hơi yên tâm vì Phượng còn bé quá. Nó đâu có hiểu được những điều khúc mắc như thế.

Tôi ôm chặt Phượng vào lòng, giấu mặt tôi vào một bên tóc nó. Tôi không muốn nhận rằng trong thâm tâm lúc ấy, tôi đang cần một sự tha thứ. Sự tha thứ hình như không phải của riêng một mình Phượng mà lẫn lộn của chính tôi và nhiều nữa. Sự cầu xin to lớn quá khiến tôi không dám nghĩ ra.

Sau phút giây ấy, cả hai chúng tôi cùng lơ đãng nhìn ra xa. Qua bức tường trắng cao ngất, bên kia là cuộc sống ồn ào, náo nhiệt. Tuy đây là nơi đã khuất, thế mà âm thanh nhộn nhịp của thành phố vẫn còn mơ hồ vẳng lại. Tôi có cảm tưởng rằng tất cả chúng tôi đang ở trong một thế giới riêng biệt, xa xôi, cái thế giới mà không bao giờ chúng tôi có quyền nghĩ đến những cái gì ở bên kia bức tường trắng. Cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống âm thầm, cô quạnh, ngày lại ngày, mòn mỏi mà không có tương lai.

Ý nghĩ đó lại khiến tôi nhớ đến câu chuyện ban chiều và bà phước Nhân. Tôi nhăn mặt lấy ngón tay cấu lấy trán. Sao tâm tư tôi hỗn loạn như thế này. Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi mà không biết bao nhiêu ý nghĩ mâu thuẫn đã đi qua trong đầu tôi…

Tôi thấy khổ sở lạ lùng. Bé Phượng tưởng tôi mệt nên rủ tôi vào phòng. Tôi bước theo nó như một cái máy. Không hiểu rằng từ đây, nó cần tôi hay tôi cần nó.

***

Buổi sáng hôm ấy có một bà to béo phúc hậu đến tìm bà phước Nhân, hai người nói chuyện với nhau lâu lắm. Và gần nửa giờ sau, bà Nhân dẫn bà ta vào phòng ăn. Lúc ấy vào giờ ăn sáng. Trên hai dãy bàn dài, hơn một trăm đứa trẻ láo nháo khua bát khua thìa ầm ĩ. Tôi đang giúp bà phước Tâm múc cháo cho chúng nó. Thấy hai người vào, kéo bà Tâm ra xì xào, tôi đoán ngay là bà ấy muốn xin một đứa con nuôi. Lòng tôi se lại. Ở trong này đã diễn ra không biết bao nhiêu lần cái cảnh ấy. Có đứa ra ngoài được trót lọt, có đứa năm sáu tháng sau lại vất vưởng trở về, mặc dầu mẹ nuôi nó đã phải cam đoan đủ mọi điều.

Vừa trông nom cho chúng nó ăn, tôi vừa kín đáo dò xét bà ta. Mặc dầu bà ta có vẻ phúc hậu nhưng tôi không cảm thấy cái vẻ gì là tình mẫu tử thoát ra ở con người ấy. Tuy vậy tôi không phải là người có quyền ở đây. Tôi cũng chỉ là những đứa trẻ mồ côi như chúng nó. Sự ngăn cản một đứa thoát ra khỏi chốn này đối với tôi là một tội. Mắt bà ta đảo khắp phòng, xét nét từng đứa một, như thể người ta chọn một món hàng. Tôi thấy lòng tràn ngập mai mỉa. Nhưng lũ trẻ thì khác, chúng nó mong được bà ta để ý đến. Những cặp mắt ngây thơ, đen lay láy của chúng nhìn bà ta như hy vọng. Tôi biết chúng nó cũng mong được thay đổi cái không khí độc điệu này lắm.

Nhưng có nhiều đứa thất vọng, vì bà ta đã chỉ một đứa đang húp cháo ở cuối phòng. Nó là con Nguyệt, một đứa kháu khỉnh và ngoan ngoãn. Mặt nó không giấu được vẻ bối rối khi thấy các bà phước gọi đến tên nó. Nó rụt rè bước ra khỏi bàn và không thấy rằng con Dung ngồi bên cạnh nó thò tay ra nháy nó. Tôi hiểu nỗi lòng của con Dung khi đọc những tia mắt lo âu, buồn bã của nó nhìn theo con Nguyệt.

Hình như Nguyệt nửa muốn ra ngoài và nửa tiếc rẻ cuộc sống ở đây. Nó với con Dung là hai đứa bạn thân với nhau lắm. Ít khi tôi thấy chúng nó rời nhau. Bởi vậy, khi bà phước Nhân hỏi ý kiến nó, nó chỉ ngập ngừng. Biết tâm trạng của nó cũng như tất cả những đứa khác mới được xin ra, bà Nhân không đợi nó trả lời, mà kéo tay nó ra khỏi phòng. Chân nó ríu lại, nó bước theo bà như một cái máy và hình như nó muốn quay lại nhìn con Dung lắm. Nhưng nó đã bị kéo đi khuất cánh cửa phòng.

Trong này con Dung đã bắt đầu khóc. Nó bỏ bát cháo đang ăn giở mà úp mặt vào một góc tường. Chân nó dẫm xuống đất đành đạch. Nó gọi tên con Nguyệt mấy lần. Lòng tôi quặn lại. Tôi thương nó vì nó đã bị cướp mất đi một nguồn an ủi. Mà thiếu nguồn an ủi thì có thể héo lòng được ở chốn này.

Cả ngày hôm ấy tôi phải xa bé Phượng để săn sóc con Dung vì nó sốt. Tôi không ngờ tình cảm của chúng nó đối với nhau sâu nặng thế, Nó không gọi tên con Nguyệt như hồi sáng nữa. Bây giờ nó nằm thừ trên giường, mắt giương lên đình màn buồn bã. Mọi ngày nó thích nghe tôi kể chuyện, nhưng bây giờ nó chỉ thỉnh thoảng nhếch mép làm vui lòng tôi. Tay nó mân mê cỗ chuyền bằng que kem mà nó vẫn chơi với con Nguyệt. Thỉnh thoảng tôi lại thấy nó ứa nước mắt.

Đến tối, tôi khuyên nó nên gượng dậy để đi nghe bà Nhân giảng vì hôm ấy là ngày thứ Năm. Nó ngoan ngoãn theo tôi. Tuy rằng đi trong hàng ngũ, nhưng tôi vẫn kèm sát với nó. Ngồi ở hàng ghế trên giảng đường, tôi cũng ở bên cạnh nó.

Hôm nay bà Nhân kể cho chúng nó nghe chuyện ông Thánh Georges giết rồng, nên chúng nó giương tất cả những cặp mắt lên nghe. Bây giờ tôi mới thấy mặt con Dung rạng lên một tí. Rồi bà Nhân khuyên chúng nên có tâm hồn rộng rãi, nên có lòng nghĩa hiệp và can đảm.

Câu chuyện vừa dứt thì chúng nó bắt đầu quì xuống đọc kinh. Bóng chúng nó đổ dài trên vách. Trên những nét mặt ngây thơ, tôi thấy rạng một niềm tin. Đầu chúng nó kính cẩn cúi xuống, hàng trăm cái miệng xinh xắn đọc đều một loạt. Tôi tự nghĩ rằng không hiểu cái không khí trang nghiêm này làm chúng nó càng cao tâm hồn lên hay là bóp chết tính tình tự nhiên mà tuổi chúng nó đang nẩy nở.

Đêm hôm ấy, tôi trằn trọc không ngủ. Tôi không ngờ bao nhiêu năm lòng tôi lặng lẽ được, mà bây giờ xao động dữ dội như thế. Tôi trưởng thành chăng? Tôi khao khát yêu đương chăng? Hay là vì đau khổ đã diễn ra quanh tôi quá nhiều.

Tôi không dám trả lời một câu nào, vì có lẽ là tất cả…

Một buổi sáng chủ nhật, tôi cùng bà phước Tâm phải dẫn bọn trẻ đi chơi vườn hoa. Chúng tôi xếp hàng tư dài một dọc. Tiếng nói, tiếng cười ríu ra, ríu rít. Cả một tuần chúng nó chỉ chờ có một ngày hôm nay, đứa nào cũng mặc một bộ quần áo vải trắng mới giặt. Nếp vải thô không là (ủi), nhăn nhúm và kêu sột soạt. Nhìn những bàn chân xinh xắn trong chiếc quai guốc trắng phau, tôi chắc hôm qua trong giờ tắm rửa chúng nó đã đánh kỹ lắm. Thì ra chúng nó vẫn muốn diện, vẫn muốn đẹp, mặc dầu bộ quần áo và đôi guốc của chúng nó chẳng diện chút nào. Điều ấy làm tôi nghĩ rằng ở bất cứ hoàn cảnh nào con người cũng có cái vui riêng của mình.

Riêng tôi, tôi thấy ngao ngán lạ. Tôi cũng mặc một chiếc quần trắng và một chiếc áo dài trắng. Chiếc áo rộng rãi không có kiểu, không có “co”, dài và rộng lụng thụng. Ngày trước, cũng bộ áo ấy nó che được thân hình thon thon và bộ ngực nở nang của mình, tôi thấy thật là kín đáo. Thế mà bây giờ, tôi lại thấy nó cổ lỗ làm sao. Nhưng nghĩ rằng thân phận mình là đứa mồ côi, đứng trong hàng ngũ mồ côi, cuộc sống âm thầm bên trong bốn bức tường trắng nên tôi lại không dám mơ mộng gì xa xôi.

Tôi theo chân bọn trẻ bước đi một cách chán ngán. Trăm mắt thiên hạ nhìn chúng tôi. Những lần trước, tôi thản nhiên một cách lạ. Nhưng dạo này, tự nhiên tôi lại thấy bối rối. Tôi mất cả sự bình tĩnh, lòng tôi hoang mang, tôi không dám nhìn thẳng vào bất cứ ai qua đường. Tôi muốn mặt tôi bớt đỏ đi, vì hình như má tôi nóng lắm. Tôi phải kéo cái nón nghiêng đi cho sụp xuống tận nửa mặt. Giá những lúc này tôi được nằm úp lên giường, để được khóc lên rưng rức thì hả cho tôi biết mấy.

Bé Phượng hình như quên mất tôi. Nó đi ở hàng trên, tay huyên thuyên chỉ trỏ. Điều đó làm bà phước Tâm không bằng lòng mấy. Cuối cùng bà phải ghé vào tai nó nói mấy câu. Tôi thấy mặt nó xịu xuống, từ đấy nó chỉ nhìn xuống đất, hình như nó nhớ đến nhà nó. Có lẽ nó cũng nghĩ đến đôi dép đỏ mà tôi đã hứa cho nó mang ngày nào. Vườn hoa hôm nay đông như mọi ngày. Đủ loại màu áo, đủ các hạng người qua lại. Trẻ con chạy tung tăng, hò hét. Bầu không khí náo nhiệt khác hẳn cuộc sống trầm lặng ở trong Viện.

Bọn mồ côi chúng tôi được dồn vào một bãi cỏ. Lũ trẻ cũng chỉ được chơi trong phạm vi ấy. Tôi cố tìm chỗ khuất nhất và quay lưng về phía đông người. Tôi rủ mấy đứa ngồi lại nghe tôi kể chuyện, để mặc bà phước Tâm săn sóc lũ trẻ ở phía đằng kia. Tôi biết làm như vậy là thiếu bổn phận với chúng nó, nhưng tôi muốn tránh xa tất cả mọi cặp mắt nhìn tôi. Tôi không hiểu tại sao tôi lại trốn tránh như vậy.

Nhưng câu chuyện tôi kể chỉ được chúng nó nghe có một lúc. Chán rồi chúng nó bỏ ra, chơi nhẩy dây với lũ trẻ. Chỉ có Phượng là vẫn ngồi bên tôi. Bé Phượng thông minh lắm. Nó biết tôi buồn nên nó gợi chuyện cho tôi nói. Nó kể chuyện chị Loan nó với tất cả nhiệt thành. Tuy vậy, tuyệt nhiên nó không tỏ ra vẻ gì là buồn bã. Tôi không tin rằng nó dễ quên thế, mà tôi chắc rằng nó đã dìm tâm sự của nó vào một cuộc sống riêng. Cái cuộc sống âm thầm chỉ sống trong những đêm thao thức. Lúc ấy tôi thấy bé Phượng chẳng bé tí nào. Nó cũng có vẻ đứng đắn ra rồi. Cho đến hôm nay tôi mới nhin kỹ mặt nó lần thứ hai. Nó hơi gầy đi, má bớt bầu bĩnh, và hình như cặp mắt của nó có một vẻ gì người lớn ở bên trong.

Tôi nghĩ lại điều đó lần thứ hai khi trên đường về có tiếng gọi tên bé Phượng. Nó nhớn nhác nhìn quanh rồi tự nhiên đầu nó cúi xuống và lầm lũi đi. Thì ra bạn học của nó đã nhận ra nó, và hẳn nhiên nó đã cảm thấy cái tủi nhục khi phải xếp hàng ngũ đi một dẫy dài trong bộ quần áo mồ côi này. Cuộc sống của nó bây giờ với cuộc sống của nó ngày trước là cả hai sự riêng biệt. Ý thức được điều đó, tức là nó đã cũng đã cảm thấy nỗi khổ đau khi bỗng nhiên bị đưa vào căn nhà Phước Thiện tức Viện mồ côi này rồi.

Sự săn sóc chu đáo, giọng nói hiền từ của các bà Phước, sự vui vẻ của cuộc sống tập đoàn không đủ xóa bỏ được trong óc nó ý nghĩ rằng nó là đứa trẻ mồ côi. Cái tâm trạng ấy đã âm thầm giấu kín trong hầu hết bọn trẻ ở đây.

Đêm hôm ấy tuy nó vờ ngủ nhưng sờ vào mặt nó, tôi lại thấy đẫm lệ. Nó đã biết khóc thầm tức là nó đã hiểu cảnh ngộ của nó lắm rồi.

Ngao ngán, tôi bâng khuâng đứng tựa cánh cửa nhìn vào đêm trời không trăng sao. Tôi nghĩ rằng khoảng đất con con chật hẹp ở góc thành phố này là một thế giới xót xa, đầy nước mắt.

Giây phút vơ vẩn của tôi bị bà phước Nhân bắt được. Bà trách tôi dạo này hay mơ mộng, và bắt tôi phải cầu kinh dưới tượng Chúa.

bài đã đăng của Nhật Tiến


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)