Trang chính » Chuyên Đề, Phỏng vấn, Túy Hồng, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Những nhà văn ở phút-nói-thật: Túy Hồng

* Trích tạp chí Văn số 128 (15/4/1969)

 

 

Nguyễn Trần Huy (NTH): Xin bà cho biết truyện mới nhất của bà?

Túy Hồng (TH): Truyện mới nhất của tôi là truyện Những Sợi sắc Không, truyện dài đầu tay, đăng ở báo Vấn Đề do ông Vũ Khắc Khoan làm chủ biên.

 

NTH: Bao giờ thì bà hoàn thành tác phẩm này?

TH: Tôi hy vọng trong vụ nghỉ hè 1969 này tôi sẽ viết gấp rút cho nó hoàn thành và xuất bản ngay tức khắc cho nó yên bề…

 

NTH:  Tại sao bà muốn cho nó yên bề?

TH: Bởi vì tôi sốt ruột quá.

 

NTH: Sau đó bà có dự định cho một tác phẩm nào khác không?

TH: Tôi dự định viết tiếp và cho in liền tập truyện khác.

 

NTH: Bà sẽ đặt tên cho nó chứ? Tên gì thế?

TH: “Rướn Trên Tiềm Thức” ạ!

 

NTH: Tại sao “Rướn Trên Tiềm Thức”?

TH: Xin cho tôi được giữ bí mật cái đề tựa này vì thật ra tập đó tôi chỉ mới viết xong được một truyện ngắn trong ba hoặc bốn truyện dự định chi đó!

 

NTH: Bà muốn đề cập đến một khía cạnh tâm lý theo kiểu Freud chăng?

TH: Dạ, chưa biết… vì truyện ngắn của tôi chỉ là những mẩu chuyện chấp lại.

 

NHT: Người ta cho rằng trong những truyện ngắn mà bà đã viết và hình như trong cả “Những Sợi Sắc Không” nữa, chủ đề chính mà bà sử dụng là tình dục. Bà nghĩ sao về nhận xét đó?

TH: Tôi nghĩ rằng sự nhận định của độc giả bao giờ cũng là một sự tưởng thưởng hoặc là một sự trừng phạt… Nếu nhận định chủ đề chính trong văn tôi viết là tình dục, thì cũng nên coi đó là một lối trừng phạt êm nhẹ, vì trong thâm tâm tôi, khi nghĩ cũng như khi viết, tôi không nhắm vào mục tiêu đó… Nhưng, người ta thường có những lúc đi trật, những lúc bước lệch, mà… sự chạy bậy của ngòi bút có thể hướng nhận định độc giả ra xa chủ đề của mình lắm chứ!… Chủ đề chính của tôi bao giờ cũng là khai thác nỗi cô đơn, nếu được cải chính như thế.

 

NTH: Trong những nhân vật của bà, bà ưng ý nhân vật nào hơn cả? Tại sao? Phải chăng bà đã đặt một phần đời mình trong nhân vật mình?

TH: Có người bảo: “Đàn bà viết văn không ngoài cái tôi.” Nhận xét đó, tôi thấy vừa đủ đúng. Riêng về trường hợp tôi: Tất cả những nhân vật nữ trong hai tác phẩm “Thở Dài” và “Vết Thương Dậy Thì,” tôi đều dựng lên như một cái cớ… Cỏ May, Như Mai, Hiền, Sao v.v. trong một khóe nhìn nào đó, tôi có thể nói họ là dáng dấp cô đơn của tôi, trên khía cạnh tâm linh chứ không phải sự kiện. Và trong một vài lúc nào đó, chỉ một vài lúc thôi, tôi thấy rằng Cỏ May, Hiền… đích thực là tôi. Chẳng nhẽ tôi lại mang cái đích danh Túy Hồng vào trong tác phẩm, nên tôi phải tạo dựng những nhân vật như thế để làm hình nhân thế mạng… Những nhân vật ấy, tôi xin trả lời là chẳng có mống nào làm tôi ưng ý vì họ mang nhiều sơ hở, mang nhiều cái tồi… Tôi xin đặt lại vấn đề: Tôi không phải chỉ là một nhân vật của tôi mà tất cả những nhân vật của tôi là tôi… Còn trong tác phẩm “Những Sợi Sắc Không,” tôi ẩn hiện một cách mơ hồ trong hai vai cỏ May và Trầm. Hai vai này, tôi viết về người ta, vừa người ta vừa tôi – có người có ta. Dạ thưa, câu hỏi này đã xong chưa ạ?

 

NTH: Cứ tạm coi như là xong đi, nhưng bà có gặp trở ngại nào khác trong việc cấu tạo nhân vật của bà không?…

TH: Có chứ.

 

NTH: Trở ngại nào vậy?

TH: Ông có thấy tôi cần phải nói hết những điều ấy ra ở đây không?

 

NTH: Thôi, cũng không cần nữa. Bà viết văn từ hồi nào?

TH: Vào cuối năm 1962.

 

NHT: Bà có còn nhớ tên truyện đầu tiên của bà? Và tạp chí nào đã đăng truyện đó? Lời khuyến khích đầu tiên mà bà được biết là lời nào vậy?

TH: Truyện đầu tiên của tôi là truyện ngắn “Bát Nước Đầy” đăng ở nguyệt san Văn Hữu. Lời khuyến khích đầu tiên: Cô thông minh!

 

NHT: Động cơ nào đã thúc đẩy bà chọn cái công việc viết văn này?

TH: Đọc nhiều, đọc văn của kẻ khác rồi nảy sinh lòng thành ở chính cái tâm mình.

 

NTH: Người ta nói bà là nhà văn nữ duy nhất trong số những nhà văn nữ tại miền Nam Việt Nam hiện nay, có được một bút pháp riêng biệt, một khung cảnh riêng biệt, một tâm cảm riêng biệt… Bà nghĩ sao về nhận xét này?

TH: Tôi cũng nghe vậy. Những lời người ta nói trước mặt tôi, không biết ở sau lưng tôi, người ta có còn nói không… nhưng, tôi vẫn tin rằng chúng ta, những người làm văn nghệ với nhau, chúng ta có thể dối trá nhau ở mọi phương diện, nhưng trên lãnh vực nghệ thuật, chúng ta phải thành thật, tối đa thành thật. Phải không ông?

 

NTH: Bà có nghĩ là sự thành công của một nhà văn được căn cứ một phần trên con số sách đã được bán ra và một phần khác trên những nhận định của các nhà phê bình đứng đắn không?

TH: Với tôi, công việc sáng tác không tính theo tốc độ mà tính theo chiều sâu. Chiều sâu mới là quan trọng. Xuất bản được nhiều sách và sách bán chạy chưa đích thực là yếu tố thành công của một công tác nghệ thuật. Sách Thanh Tâm Tuyền đâu có bán chạy bằng sách của các nhà văn nữ đương thời! Tuy nhiên, được các nhà phê bình đứng đắn khen là một điều thành công…

 

NTH: Hãy nói về sự thành công của bà?

TH: Xin ông cho phép tôi được miễn trả lời câu hỏi này.

 

NTH: Túy Hồng có phải là bút hiệu duy nhất mà bà dùng để ký dưới những bài viết của bà không?

TH: Không. Gần đây tôi còn dùng một bút hiệu nữa: Hân Tố Tố.

 

NHT: Cớ gì bà lại chọn bút hiệu này?

TH: Phụ nữ Huế cũng mê đọc Kim Dung gần gần như đàn ông vậy. Trong tiểu thuyết Kim Dung mà tôi đã đọc hồi còn độc thân, tôi mê hai vai nữ là A Tử và Hân Tố Tố. Hai người đó có hai cuộc đời thì xấu nhưng hai cái chết lại đẹp. Tuy vậy Hân Tố Tố có phần tốt tướng hơn A Tử vì Hân Tố Tố có con…, có dâu… Về đàn bà, tôi mê thứ đàn bà ma-đầu-tác-quái-tinh-khôn như A-Tử và Hân Tố Tố; trái lạ tôi chỉ thích cái thứ đàn ông chất phác, mộc mạc, hiền từ như Quách Tĩnh, Hư Trúc… Nhưng, khi đã chấm dứt cuộc sống độc thân, tôi cũng chấm dứt luôn cái đam mê đọc kiếm hiệp Kim Dung…

 

NTH: Người ta nhận thấy, những bài viết dưới bút hiệu này bà đã biểu lộ sự chua cay hơi quá đáng. Có thể nói bà là người đã nhìn đời bằng đôi mắt nghiêm khắc không? Chắc bà cũng nhận ra được điều này chứ?

TH: Tôi có nhận ra được điều ấy. Tuy nhiên đó… chỉ là một sự đùa nghịch… Và sự đùa nghịch luôn luôn có cái dẻo cái dai của nó. Bản tâm tôi không phải là một chất chua. Ông bảo tôi “có đôi mắt nghiêm khắc với cuộc đời”? Trời… đó chỉ là một thứ mắt kiếng ngụy trang…

 

Túy Hồng và con gáiNTH: Tôi cũng còn nghe một vài người lớn tuổi nói rằng một nhà văn có bút pháp chua cay, điều đó khá nguy hiểm trong việc nuôi nấng và dạy dỗ con cái. Đã có triệu chứng nào báo hiệu lời nói này là đúng chưa?

TH: Điều ông nghe đó, đã có người thổi vào tai tôi: nào là đàn bà viết văn chua cay quá không thể sinh đẻ được; nào là đàn bà viết văn chua cay quá thì khó nuôi con lắm… Tôi chưa tin… Con Hồng Ân của tôi dễ nuôi, dễ chịu… Bằng chứng là Hồng Ân càng ngày càng cứng cáp trong khi công việc của tôi vẫn chạy đều đều… Việc tôi không có giọt sữa nào để cho Hồng Ân bú… đó là tại vấn đề sức khỏe… chứ không phải tại cái nguyên nhân mà tôi đã viết ra trong một đoản văn đăng ở giai phẩm Xây Dựng Đất.

 

NTH: Bà có tên trong số 100 nhà văn mới đây đòi hỏi nhà nước bãi bỏ kiểm duyệt sách không?

TH: Không.

 

NTH: Tại sao? Theo bà, vấn đề này nếu vẫn còn duy trì sẽ gây nên những khó khăn và một tầm quan trọng nào trong sinh hoạt văn học nghệ thuật?

TH: Bãi bỏ kiểm duyệt là điều mà mọi người đều muốn… Kiểm duyệt gây nên sự lúng túng. Giữ gìn trong việc sáng tác làm mất tự nhiên…

 

NTH: Người ta nói bà là người thứ nhất đã sử dụng ngôn ngữ Huế trong tác phẩm văn chương. Và bà đã thành công (độc giả của chúng tôi là bằng chứng cho nhận xét này). Bà giải thích ra sao về ý kiến đó?

TH: Vâng, tôi nói tiếng Huế rất nhiều trong mấy tác phẩm của tôi… chỗ nào đối thoại cũng là ngôn ngữ Huế. Trước tôi và bây giờ… Vâng, ông hiểu cho điều đó… Nhưng, nói tiếng Huế nhiều đâu phải là thành công?

 

NTH: Cái gì khiến bà sử dụng thứ ngôn ngữ ấy trong văn chương vậy?

TH: Tôi làm văn từ đất Huế nên phải sử dụng thứ ngôn ngữ líu lo đó cho tự nhiên… Hồi còn ở Huế, tôi nghĩ rằng tôi phải đối thoại bằng ngôn ngữ Bắc Kỳ e mất tự nhiên.

 

NTH: Trong tác phẩm sắp tới đây bà có còn sử dụng thứ ngôn ngữ đó nữa không?

TH: Sau Những Sợi Sắc Không chắc là tôi không viết về Huế nữa, vì tôi đã phanh phui Huế quá nhiều rồi. Làm văn chương đâu phải chú mục vào mãi một chỗ phải không ông?

 

NTH: Trong những truyện bà đã được đọc từ trước tới nay bà ưa thích quyển nào hơn cả?

TH: Tôi thích quyển Cuốn Theo Chiều Gió của bà Margaret Mitchell và những truyện viết trên đất Tàu của bà Pearl Buck.

 

NTH: Tôi bắt đầu thấy bà có thành kiến rồi. Thế mới biết câu nói của nhà bác học Einstein đặt ở chỗ nào cũng đúng.

TH: Câu gì vậy ông?

 

NTH: “Buồn cho thời đại chúng ta, đập vỡ một thành kiến khó hơn là đập vỡ một hạt nguyên tử.”

TH: Ông tìm ở đâu ra cái câu kỳ cục đó?

 

NTH: Bà lại bắt đầu thay đổi vị trí rồi? Hãy tưởng tượng tôi là người phỏng vấn…

TH: Cố nhiên, ông là người đi phỏng vấn…

 

NTH: …Và bà là người bị dồn vào phút phải nói thật. Và hãy tưởng tượng tôi hỏi giùm cho độc giả chúng tôi như thế này thì bà sẽ trả lời ra sao. Đồng ý?

TH: Đồng ý.

 

NTH: Thanh Nam là một nhà văn – một nhà văn dễ thương mà tôi được biết – và bà nữa, bà cũng lại là một nhà văn dễ thương – tôi không dại gì đi nịnh bà đâu. Sự kết hợp hai cái-dễ-thương này ảnh hưởng thế nào đến việc viết lách của bà?

TH: Lấy chồng là một bài học! Học đến già đời vẫn còn giận hờn, vẫn còn vấp váp. Tôi nói: chồng tôi cấp cho tôi đủ tự do đế viết văn. Tôi nhận thấy: bây giờ tôi còn viết bạo hơn hồi độc thân nhưng trong tình cảnh hiện tại, công việc gia đình chiếm nhiều thời gian thành thử sự dễ dàng của công việc sáng tác bớt đi lắm lắm. Mỗi ngày tôi phải đi dạy hết nửa buổi, còn nửa buổi để làm việc gia đình với viết lách. Hôm nào rủi ro con đau bụng đi tiêu cho bốn, năm lần một ngày thì dẹp… Tóm lại, từ khi kết hôn với Thanh Nam, tôi viết dễ dàng hơn, nhưng, bị thiếu thì giờ.

 

NTH: Hãy trở lại xứ Huế của bà một lần nữa. Có một ông nào đó đã viết ở đâu đó rằng Huế là một thành phố có hai cái đáng yêu: đó là cảnh Huế và gái Huế; và hai cái đáng ghét: đó là mưa Huế và con trai Huế. Bà không ở trong thành phần thứ hai, xin bà nhân danh cái thành phần đáng yêu nói về nhận xét kia.

TH: Vấn đề kỳ thị địa phương là một vấn đề không nên có… Ông nhà văn nào đó thật hồ đồ, ông ấy chỉ ghé Huế có một đêm mà đã vội buông lời ẩu tả gây mất lòng mất bề…

 

NTH: Hình như ở những câu trả lời trên, bà có nhắc đến một nhân vật của bà tên là CỎ MAY. CỎ MAY! Do đâu mà bà có được một cái tên đẹp và hay như thế?

TH: Cỏ May là tên của một người bạn gái của tôi học chung lớp từ đệ thất lên đến đệ tam. Tôi thương cái tên, thương cái miệng của nó. Hồi còn đi học tôi cứ lẩn thẩn nói sao mình không có một cái tên hay như Cỏ May, như Tỉ Muội, như Đạm Chiều…

 

NTH: Hãy tưởng tượng là bà được bắt đầu lại từ đầu, nghĩa là xem như chưa viết một tác phẩm nào, chưa viết một dòng chữ nào về cái mà người ta gọi là văn chương, bà sẽ chọn điều gì để viết trong tác phẩm đầu tiên của bà?

TH: Chắc là tôi lại viết về tình yêu…

 

NTH: Nếu tôi không lầm thì hình như bà mới vừa hát. Bà hát bài…

TH: “Nhìn Những Mùa Thu Đi”

 

NTH: Trịnh Công Sơn?

TH: Phải.

 

NTH: Hãy nói về hiện tượng Trịnh Công Sơn. Và Khánh Ly nữa.

TH: Tôi nghĩ rằng nếu đã có thơ tự do thì phải có nhạc tự do… Nhạc Trịnh Công Sơn gần với văn chương vì lời ca của Trịnh Công Sơn là một điểm nổi, là một đường nét gồ ghề dằn xóc tâm trạng tuổi trẻ. Nhạc Trịnh Công Sơn đáng yêu vì nó biết chinh phục, nó luộm thuộm, lê thê. Trịnh Công Sơn thành công ở lời ca… Trịnh Công Sơn biết trước hơn ai hết điều đó nên anh dùng chữ ca khúc thay vì nhạc khúc. Tôi nghĩ rằng chỉ có bài “Nhìn Những Mùa Thu Đi” là đem hòa tấu được, còn bao nhiêu thì nên để cho Khánh Ly hát. Khi hát, Khánh Ly có một thái độ đấy chứ? Khánh Ly phát âm cái vần “đ” quyến rũ lắm!

 

NTH: Bà có nghe nói đến thứ văn chương gọi là “dấn thân” bao giờ chưa? Văn chương của bà có nằm trong truyền thống này không?

TH: Văn chương dấn thân? Dấn thân… dấn thân là cái gì nhỉ? Cái từ ngữ mới đẻ ở bên Tây sao bay qua Việt Nam mau quá! Tôi không cần biết đến cái từ ngữ “dấn thân”… Các tác phẩm của tôi viết ra, ai muốn đặt chúng nằm ở loại văn chương cựa quậy với cuộc sống hay văn chương tê liệt cũng được, điều quan trọng là tôi không biết đến chữ “dấn thân”!

 

NTH: Bà có tin như một số người làm văn vẫn tin rằng tiếng nói của nhà văn chính là tiếng nói của lương tâm nhân loại không?

TH: Đó là tiếng hô lớn của những nhà văn lớn… Viết văn là một vấn đề lớn, một kỹ nghệ nặng khó khăn… Càng khó khăn hơn khi có sự bắt buộc phải đặt nặng vấn đề thiên chức theo một sơ đồ đã hoạch định. Riêng tôi, tôi thích viết những điều tầm thường mà tôi đã suy nghĩ đến… Ngay bây giờ, có rất nhiều nhà văn kiêm nhà phê bình đã nhân danh lớn để chỉ trích tàn tệ những cây bút phụ nữ…

Nguyễn Trần Huy
(25.3.69)

bài đã đăng của Nguyễn Trần Huy


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)