Trang chính » Chống Kỳ Thị/Chống Bạo Lực, Chuyên Đề, Email bài này

Trở về Hayneville


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 18.06.2020

 

Gregory Orr portrait
Chân dung nhà thơ Gregory Orr (s. 1947 –     ) Tôi tin vào thi ca như lối thoát ra khỏi những hỗn loạn tình cảm, sự bất an của tâm linh, và những biến cố chấn thương đi song song với sự sống tồn.”

 

Gregory Orr là tác giả chín tập thơ, gần đây nhất là Concerning the Book That Is the Body of the Beloved (Copper Canyon Press, 2005). Ông cũng là tác giả cuốn hồi ký The Blessing, và một cuốn về chức năng văn hóa của thơ, Poetry as Survival. Ông là giáo sư Khoa Viết Văn tại University of Virginia trước khi về hưu vào năm 2019.

Bài viết này đăng trên Virginia Quarterly Review, Summer 2008.

 

Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn phía bắc New York, nhưng số phận tôi bắt đầu với cái chết của em trai tôi trong một tai nạn săn bắn khi tôi mười hai tuổi và em tôi tám tuổi. Tôi đã bắn phát súng làm chết nó. Nhưng nếu đời tôi bắt đầu lúc 12 tuổi với cái chết đột ngột và bạo liệt của đứa em trai, thì mệnh chung của tôi, theo quá trình của sự khởi đầu cay nghiệt ấy, có thể dễ dàng chấm dứt chưa đầy sáu năm sau, vào tháng Sáu 1965, khi tôi bị bọn đội viên dân phòng dí súng bắt cóc gần một thị trấn nhỏ ở Hayneville, Alabama.

Năm 16 tuổi, tôi học năm cuối trung học, và tham gia vào phong trào dân quyền một phần vì hy vọng có thể tập trung mọi mối quan tâm của mình vào việc đáng làm ấy. Tôi là thành viên của CORE (Congress of Racial Equality – Ủy hội Bình đẳng Chủng tộc) và đi vận động tới từng nhà trong các khu nghèo ở thành phố Kingston kế bên. Tôi xuống Alantic City theo một xe đầy thành viên CORE để biểu tình trước Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ hồi tháng Tám 1964. Đầu mùa hè năm ấy, Đảng Dân chủ Tự do Mississippi (Mississippi Freedom Democratic Party) – một nhóm cũng tranh đấu cho dân quyền – đã chọn một danh sách đại biểu nhiều sắc tộc để tranh ghế tại đại hội với các đại biểu chính thức toàn là người da trắng của bang Mississippi. Mục đích là đặt Lyndon Johnson và toàn bộ cánh cấp tiến của đảng phải có câu trả lời trước thực trạng – thử thách cam kết thay đổi của họ. Tôi là một trong khoảng 20 người đi thành một vòng nhỏ trên vỉa hè hư nát bên ngoài hội trường đại hội. Chúng tôi mang biểu ngữ khuyến khích diễn tiến bên trong: ủng hộ đoàn đại biểu tự do, và mỗi người một phiếu. Tôi cảm thấy vừa bối rối, vừa hồi hộp, vừa quả quyết.

Ba người đi tuần hành cầm gậy, trên ba cây gậy gắn ba tấm chân dung lớn vẽ than của ba thanh niên khác nhau. Khuôn mặt lớn hơn thật của họ nhìn đăm đăm xuống chúng tôi khi chúng tôi cứ đi xoay vòng tròn. Đó là hình của Andrew Goodman, James Chaney, và Michael Schwerner, các tình nguyện viên của SNCC (Student Nonviolent Coordinating Committee – Ủy ban Phối hợp Sinh viên Bất bạo động). Họ mất tích đã mấy tháng, và xác họ vừa mới được tìm thấy. Người ta gặp họ lần cuối vào ngày 21 tháng Sáu, lái xe đi khỏi văn phòng cảnh sát trưởng ở Neshoba County, Philadelphia, Mississippi. Họ đã bị tra tấn và bị xe ủi đất ủi vào một cái đập đất sét. Khi một điềm chỉ viên nói cho các nhà điều tra tới chỗ xác họ, bí ẩn về họ đột ngột chấm dứt và họ bắt đầu cuộc đời thứ hai – cuộc đời của những người tử vì đạo nghĩa. Ba khuôn mặt ấy thôi miên chúng tôi khi chúng tôi đi vòng vòng trên vỉa hè, vừa hát vừa cố làm ngơ sự quấy rối của người ngoài cuộc. Người họa sĩ đã minh họa chân dung họ bằng vài nét đậm, tạo cho họ một thần thái oai phong. Họ dường như an bình, mọi nghi hoặc và phức tạp nội tâm của họ đã chấm dứt. Tôi ao ước được như họ, để vượt qua những hỗn loạn và đau đớn trong quá khứ và đắm mình vào lý tưởng tao nhã bất biến nào đó. Tôi ao ước hy sinh thân mình và thoát khỏi bản thân – để trở thành kẻ tử vì đạo cho phong trào. Nếu phải chết để đạt tới sự vĩ đại, thì chết. Và các chiến sĩ trẻ đã ra đời như thế.

Mùa hè năm ấy tôi quá trẻ, mới mười bảy, để tới Mississippi, nhưng một năm sau tôi lên đường. Tôi lái về Miền Nam, một mình, trên chiếc xe hơi Ford 1956 mà cha tôi đã mua cho tôi để đi chuyến này. Và lúc đó sự giáo dục của tôi mới thực sự bắt đầu–rằng huyền thoại tử vì đạo khác xa ghê gớm với thực tế gần gũi của bạo lực.

Nhảy tới tháng 11/2006 – hơn bốn mươi năm đã trôi qua từ khi tôi gặp vấn nạn thời mới lớn của mình ở Miền Nam. Bây giờ tôi là nhà thơ và giáo sư – tôi đã chọn sống đời mình như vậy. Một trong những bổng lộc đáng yêu trong nghề là đôi khi tôi được mời đọc các bài thơ của mình ở các trường cao đẳng và đại học. Tôi nhận được một lời mời như vậy – một cựu sinh viên của tôi, nhà thơ tên Chris, đang dạy ở Auburn University mời tôi xuống. Cũng trong tuần đó tôi có chương trình đọc thơ ở Atlanta, và khi xem cuốn sách bản đồ Rand McNally, tôi thấy sau đoạn đường từ Atlanta tới Auburn, tôi có thể lái xe thêm chừng một tiếng nữa để vượt thời gian chạy thẳng vào quá khứ của mình. Tôi quyết định trở về Hayneville – cái thị trấn nhỏ xíu đã từ lâu ngự trị như một mảnh bom trong ký ức tôi.

1.Atlanta-Auburn-Montgomery-Hayneville
Chặng đường về Hayneville năm 2006 của Gregory Orr: Atlanta-Auburn-Montgomery-Hayneville

Chris nói anh sẽ đi cùng với tôi, và anh rủ Brian, một cựu sinh viên của anh. Tôi mừng vì có bạn đồng hành. Ba người làm thơ của ba thế hệ: một năm nữa tôi sẽ sáu mươi, Chris ngoài bốn mươi, Brian hai mươi mấy. Chúng tôi rời thị trấn Auburn trên chiếc Hyundai cỡ nhỏ tôi thuê, lên xa lộ liên bang giữa cơn mưa phùn lúc chiều tối, Brian hỏi chúng tôi đi đâu. Trong vài ngày qua, tôi đã âm thầm cảm thấy căng thẳng về chuyến đi này, và bỗng nhiên dường như tôi có thể xả bớt phần nào căng thẳng bằng cách kể cho Brian và Chris câu chuyện mùa hè năm xưa. Thoạt tiên, tôi định nói về điều tôi đã gặp ở Hayneville, nhưng tôi lập tức thấy mình phải bắt đầu ở một điểm xa hơn trong quá khứ để giúp câu chuyện được mạch lạc.

Lúc chúng tôi lái trên xa lộ tới Montgomery, tôi cảm thấy mình như một thành viên trong đám dân hành hương của Chaucer[1], bị các bạn đồng hành thách kể chuyện giải khuây cho họ trên đường đi. Brian ngồi ghế sau, và khi tôi bắt đầu kể, thỉnh thoảng tôi hơi ngoái đầu lại như nhìn nhận việc anh đang nghe tôi nói, nhưng chẳng bao lâu tôi mê mải trong lời kể tới nỗi quên hết bạn đồng hành, quên thời gian và quãng đường đang đi. Tôi lái đều đều thẳng tới Hayneville, như thể câu chuyện và con đường hòa thành một dòng chảy duy nhất.

Lúc đó là cuối tháng Năm 1965. Sau đợt huấn luyện ngắn, một tình nguyện viên khác là Steve ở Pittsburgh và tôi được chỉ định tới làm việc ở Bolivar County, bang Mississippi – vùng châu thổ sông Mississippi, nơi COFO (Council of Federated Organizations – Hội đồng Các Tổ Chức Liên Minh)[2] đang cố tạo sức đẩy cho một cuộc đình công của công nhân nông nghiệp. Tiền công khởi đầu là 4 đô la một ngày – cuốc cỏ ruộng bông gòn từ sáng tới tối, mọi người từ con nít 7 tuổi tới cụ già 80 tuổi. Chúng tôi mới tới Bolivar chỉ khoảng một tuần, giúp việc ở văn phòng. Bỗng nhiên, trung ương triệu hồi: ai có thể ngưng việc ở địa phương và tập họp lại – bất cứ tình nguyện viên mới nào và tất cả người dân địa phương nào đồng ý – nên có mặt ở Jackson, thủ phủ của tiểu bang. Thống đốc Mississippi đã bí mật triệu tập một phiên họp quốc hội, và phong trào đang tổ chức một cuộc biểu tình để lôi kéo sự chú ý trên toàn quốc về một âm mưu chính trị lừa bịp nghiêm trọng đáng ngờ.

2.Boliviar-Jackson MS
Hành trình tháng 5, năm 1965 của Gregory Orr: từ Bolivar đến Jackson, tiểu bang Mississippi

Mười giờ sáng ngày 14 tháng Sáu, chúng tôi khoảng năm trăm người – đàn ông, đàn bà, vị thành niên, cụ già – tập hợp ở Jackson. Chúng đi hàng đôi trên vỉa hè tới toà nhà lập pháp. Các lãnh tụ của chúng tôi nói cảnh sát sẽ chặn và cảnh cáo chúng tôi không được tuần hành mà không có giấy phép. Lúc đó chúng tôi sẽ phải để cho bị bắt hay giải tán. Chúng tôi được khuyến khích là để bị bắt – kế hoạch dự tính là làm tràn ngập nhà tù và kiên trì tạo áp lực lên giới truyền thông và kinh tế (họ sẽ phải nuôi ăn và cung cấp chỗ ở cho chúng tôi bằng ngân sách thành phố). Nhà cầm quyền đã biết phải trình bộ mặt sạch sẽ với giới truyền thông, vì thế họ rất lịch sự khi bắt chúng tôi – ký giả và nhiếp ảnh gia ở đó quan sát hai cảnh sát viên của thành phố nắm hai tay, nắm chặt nhưng ôn hoà, để giải từng người chúng tôi lên xe vận tải. Xe lớn, bít bùng – loại xe dùng để chở ghế cho buổi mít tinh hay để chở máy cắt cỏ của thành phố. Họ nhét khoảng ba chục người chúng tôi lên xe, rồi đóng cửa. Và chở chúng tôi đi – mỗi chiếc xe tải có một chiếc mô tô hộ tống vượt qua đèn đỏ, chúng tôi nghĩ họ đưa tới nhà tù của thành phố. Nhưng nơi đến là ngạc nhiên lớn đầu tiên của chúng tôi. Là người hoạt động xã hội, chúng tôi có thể có kế hoạch biểu tình, nhưng Bang Mississippi và thành phố Jackson có kế hoạch của họ. Chúng tôi được đưa tới bãi chợ phiên của quận hạt – khoảng hai chục mẫu đất rào, cắt xén gọn, với sáu nhà kho dài lợp tôn. Chúng tôi không biết một điều nữa: khi mỗi chiếc xe vận tải vào bãi chợ phiên, cánh cổng đóng lại, và cảnh sát đuổi bất cứ ai định vào theo.

Chiếc xe chở tôi dừng lại, lùi, rồi ngừng hẳn. Khi cửa mở ra và mắt chúng tôi quen lại với ánh sáng ùa vào, chúng tôi thấy mình không tới nhà tù – mà tới một hành lang hẹp giữa hai nhà kho. Hai chục cảnh sát đồng phục tập trung ở đó, mặc đồng phục cảnh sát cưỡi mô tô – giày ủng da cao cổ, kính đeo mắt lấp lánh, và mũ sắt xanh với miếng che tai kéo xuống. Mọi khuôn mặt rám nắng gần như giống nhau nhờ đồng phục che giấu phần nào – chỉ thấy cái mũi và miệng – một số đã nhe răng cười cợt vẻ ngạc nhiên của chúng tôi và điều chúng tôi sắp phải gặp. Họ đã rút dùi cui ra – một số nhịp nhàng vỗ nó trên lòng bàn tay, kẻ khác hai tay giữ hai đầu gậy đứng đó chờ. Tôi không để ý cho tới khi tôi lại gần họ, và ngay cả lúc đó tôi vẫn bối rối không hiểu sao phần dưới mỗi huy hiệu cảnh sát, chỗ danh số của họ đáng lẽ phô bày, lại bị miếng băng keo đen che lại một cách gọn ghẽ. Một viên cảnh sát ra lệnh cho chúng tôi leo xuống, và khi một số không tuân lệnh, hai viên cảnh sát leo lên đẩy chúng tôi tới mép để bị kéo xuống. Rồi bắt đầu. Họ vung dùi cui tứ phía, loạn xạ nhưng kỹ lưỡng, chừng mười phút. Bất kể anh làm gì, la hét hay im lặng – anh cứ bị đánh túi bụi, và nếu anh ngã xuống thì bị đá. Gậy gỗ đánh lên đầu hay lưng hay vai rất đau. Và cũng đáng sợ. Rồi lệnh ban ra và dùi cui ngưng đánh – chúng tôi được lệnh đứng lên (một đứa bé không đứng nổi bị kéo đi chỗ khác, chân nó bị thương nặng không đứng được).

Chúng tôi xếp hàng đi qua cửa vào một nhà kho. Bên trong êm đềm một cách kỳ dị sau trận bạo động bên ngoài. Giữa sàn xi măng trống trơn có năm cái bàn xếp đặt thành một dãy, mỗi bàn có một máy đánh chữ và một viên cảnh sát của thành phố ngồi trên cái ghế xếp. Cuối kho, hơi khuất trong bóng tối, một nhóm đàn bà con gái sợ hãi, sau trận đánh đập và thủ tục ban đầu, đang được lệnh xếp hàng ở đó. Nhóm chúng tôi mê muội xếp hàng, từng người bị chính thức làm thủ tục và kết tội. Các bà trên chiếc xe chở tôi bị đưa qua nhập với các bà ở cuối nhà kho. Tôi được lệnh đi ra một cửa bên hông tới nhà kho kế bên nơi nhốt đàn ông. Lúc tôi sắp đi ra cửa, một viên cảnh sát bảo tôi cởi cái mũ rơm ra cầm trên tay. Tôi ra bên ngoài nắng chói và thấy họ – hai hàng chừng mười lăm cảnh sát tuần tra xa lộ dàn hai bên. Tôi được lệnh đi, không chạy, giữa họ. Một lần nữa, tôi bị dùi cui đánh, nhưng lần này kỹ hơn vì tôi là mục tiêu duy nhất. Khi tôi giơ cánh tay lên che đầu để đỡ cú đánh đầu tiên của tên cảnh sát bên phải, tôi bị cây gậy thúc vào xương sườn phía bên kia. Theo bản năng, tôi quay về hướng đó, chỉ để bị hở bên này. Tôi nghe những cú đánh và cảm thấy những cái thọc đau nhói và những cú quất trúng đích và mạnh vào sườn và lưng tôi từ cả hai hướng – cùng một lúc hay cái trước cái sau cũng thế, tôi tự vệ vô ích. Lúc tôi gần tới cuối hai dãy hình phạt này, tôi khép nép tránh những cú đánh nhử – sự nhục nhã vì sợ của tôi và tiếng cười của họ còn tệ hơn đau đớn thể xác.

Trong một nhà kho khác, đàn ông con trai bị gom thành một nhóm đông nghẹt, vây quanh là một vòng lưa thưa cảnh sát. Chiều hôm ấy chúng tôi lại qua một đợt đánh đập có phương pháp như nghi lễ. Khi có ai định ngồi xuống hay di chuyển ra lề cái nhóm chật ních để thở, hai hoặc ba viên cảnh sát sẽ phóng qua khe hở để đánh anh ta bằng dùi cui. Kỹ thuật này được nghĩ ra để làm bọn tù chúng tôi hoảng loạn và đánh nhau để có chỗ an toàn hơn giữa đám người. Nhưng nó không hiệu quả. Chúng tôi cố hết sức tự bảo vệ và giữ chỗ an toàn ở giữa cho người dễ bị thương nhất, đặc biệt là trẻ con. Một thanh niên có râu trong nhóm chúng tôi gan lì thấy rõ, và có lúc một viên cảnh sát chạy vào dùng dùi cui đánh anh ta bằng một cú tạt rất khéo làm rách da trên trán anh và máu chảy thành dòng xuống khắp mặt anh. Sự mất nhân phẩm xảy ra ngay trước mắt khi khuôn mặt một người bỗng bị biến thành mặt nạ máu; và nếu đứng gần như tôi, bạn sẽ thấy kinh tởm và tức giận.

Nhiều giờ trôi qua, nhiều tù nhân được làm thủ tục hơn và nhóm chúng tôi tiếp tục tăng – hơn 150 đàn ông con trai trong nhà kho. Tối đến. Chúng tôi được lệnh ngồi cách nhau một mét, thành nhiều hàng, mỗi hàng cũng cách nhau một mét trên sàn xi măng. Chúng tôi không biết, nhưng chúng tôi đợi giao nệm ngủ. Chúng tôi được lệnh ngồi thẳng và không nhúc nhích; bọn cảnh sát đi dọc các dãy. Nếu anh ngồi dựa lên một tay hay đổi thế ngồi, một tên cảnh sát công lộ sẽ la hét giơ dùi cui lên chạy tới.

Một đứa bé da đen, có lẽ 10 hay 12 tuổi, ngồi kế bên tôi. Chúng tôi đã ở đó một tiếng và mọi thứ khá im lặng khi một tên cảnh sát công lộ dừng lại trước đứa bé. Hắn nhìn nó một phút, rồi ra lệnh nó tháo cái đinh ghim nó đang đeo – một trong các huy hiệu đòi tự do hoặc mỗi người một phiếu. Không có móc cài an toàn, chỉ là cái đinh ghim. Tên gác bảo đứa bé rút cái đinh ghim khỏi áo nó. Nó rút. Tên gác nói: “Bỏ vào miệng mày.” Tôi quay đầu qua bên phải thấy đứa bé bỏ nó vào miệng. Tên gác nói: “Nuốt,” giọng hắn đe doạ, nhưng không nói lớn. Nếu đứa bé cố nuốt xuống, cây đinh ghim sẽ làm nó nghẹt thở hoặc đâm thủng cổ họng nó rồi vướng ở đó cho tới khi nó chảy máu chết trong đau đớn.

Nhìn cảnh ấy, tôi cảm thấy toàn thân mình là cơn thịnh nộ đầy sát khí, dâng lên trong tích tắc nó nghĩ chuyện này dường như sắp xảy ra. Tôi chỉ là thôi thúc đứng bật lên, giật khẩu súng lục của tên gác trước khi gã biết, và bắn gã tới khi hết đạn. Tôi chỉ là sự thôi thúc căng thẳng đó, và một giọng nói rất khẽ trong tôi bảo rằng: “Mày không làm được đâu. Lâu hơn mày tưởng – lâu đủ để hắn quật lại mày, vì bạn hắn chạy tới tóm mày. Rồi sau đó thế nào? Mày sẽ là mục tiêu bất ngờ và tối hậu của chúng nó.”

Khoảnh khắc đó kéo dài bao lâu? Tên gác đứng đe dọa thằng bé bao lâu? Thằng bé ngồi đó bao lâu với cây đinh ghim trong miệng, ngậm cái đắng kim loại nhưng không chịu nuốt, hay nuốt không được? Có thể năm phút, có thể ít hơn. Tên gác nhắc lại lệnh của hắn vài lần, kèm theo tiếng chửi. Khi ấy, các tên khác tới, bảo hắn thôi, thuyết phục hắn thôi đi, bỏ qua.

Cuối cùng nệm ngủ tới, mỗi chúng tôi kéo một tấm tới chỗ của mình trong hàng. Chúng tôi được thông báo phải tách riêng da đen da trắng theo luật riêng của Mississippi – khoảng ở giữa được canh phòng cẩn thận, ngăn cách hai xà lim tưởng tượng, một cho da đen và một cho da trắng. Chúng tôi nằm xuống ngủ. Lúc bình minh, tiếng gậy tuần đêm nện ầm ầm trên sàn xi măng đánh thức chúng tôi, và chúng tôi không thấy đâu nữa bọn cảnh sát công lộ, bọn đã thích thú ngược đãi chúng tôi mà không sợ bị phạt hôm qua. Thay thế chúng là các viên chức bảo tồn thiên nhiên, nhìn chung họ mộc mạc và chín chắn hơn (một số thậm chí có ria mép) họ không định giấu danh số của họ mà còn đeo cả bảng tên. Sáng hôm ấy, một nhân viên mặc thường phục vào nhà kho loan báo FBI đã tới và nếu ai có khiếu nại gì về cách họ bị đối xử thì bước ra để được phỏng vấn. Tôi bước ra và được đưa vào một hành lang tương tự chỗ chúng tôi bị chào đón và đánh đập lần đầu. Ở một đầu hành lang hẹp có dựng tấm bạt che nắng. Dưới tấm bạt, bốn nhân viên FBI ngồi ở mấy cái bàn nhỏ. Khi tới lượt tôi, tôi kể câu chuyện bị đánh đập, nhưng làm sao tôi có thể nhận dạng thủ phạm? Nhân viên FBI hỏi tôi có thể nói rõ màu tóc, màu mắt, hay danh số? Tôi không thể. Bây giờ có thể nào tôi chỉ đích thân bất cứ tên cảnh sát nào đã đánh tôi? Dĩ nhiên bọn chúng không có ở đó – chúng đã ra đi lúc nửa đêm. Nhân viên FBI ghi lại câu chuyện của tôi về vụ bị đánh đập và bạo động ngày hôm trước và cám ơn tôi. Nếu họ thực sự muốn bảo vệ chúng tôi, thì hôm qua FBI có thể dễ dàng tới bất cứ lúc nào. Nhiều người trong phong trào đã biết điều mà tôi lúc ấy không thể nào tưởng tượng – các sự kiện như thế này đã được dàn xếp, và FBI không là bạn hay ngay cả là đồng minh trung lập với phong trào dân quyền.

Trong mười ngày kế tiếp, mỗi sáng chúng tôi nằm trên nệm cho tới bữa điểm tâm – cháo bột ngô và mật đường và sữa bột pha loãng trong thùng 200 lít có thể thấy tới đáy. Sau bữa ăn sáng, chúng tôi cuộn nệm lại và ngồi suốt ngày trên sàn xi măng hoặc đi đi lại lại trong chỗ giới hạn tưởng tượng của mình trong xà lim tập thể. Mỗi ngày hai lần, chúng tôi xếp hàng đi nhà xí – chỉ có lúc đó chứ không có lúc nào khác, chúng tôi đứng sát nhau, chờ tới lượt ngắn ngủi của mình ở một trong năm chuồng xí hôi hám. Không vòi nước tắm, không tắm giặt, quần áo cũ hôi nồng ngày này qua ngày khác. Trời nóng như thiêu đốt khi nắng nung nóng mái tôn, nhưng ban đêm lạnh buốt khi chúng tôi co quắp, không chăn, trên tấm nệm trơ trụi trong bóng tối. Mỗi chiều tối, thuốc muỗi xịt vòng quanh bên ngoài nhà kho, đưa khói độc len vào dưới cánh cửa đóng làm cả bọn chúng tôi ho. Buồn chán, hôi hám, nóng bức. Bên ngoài đưa tin vào – chúng tôi có thể được thả bất cứ lúc nào nếu muốn phong trào nộp 50 đô tiền bảo lãnh, nhưng kêu gọi chúng tôi ở lại thật nhiều và thật lâu càng tốt. Có hy vọng rằng khi ở lại chúng tôi sẽ gây phiền toái trầm trọng cho tiểu bang, rằng có thể có một cuộc biểu tình khác ủng hộ chúng tôi – thậm chí có thể đích thân Martin Luther King Jr. xuất hiện. Tin đồn và hy vọng; và một yêu cầu bền chí. Phần lớn chúng tôi ở lại, nhưng một số người trẻ nhất và già nhất muốn ra. Bạo lực gần như chấm dứt, nếu còn xảy ra chỉ là lác đác và tự phát và chấm dứt nhanh mà không để lại hậu quả nghiêm trọng. Kiệt quệ vì thức ăn thiếu dinh dưỡng, mệt mỏi vì chán và thiếu tiện nghi, tôi dần dần mất tinh thần. Tôi đã mơ làm điều có ý nghĩa và thậm chí tử vì đạo, nhưng ở đây tôi chỉ là bia đỡ đạn. Tôi có một vai trò; tôi đáng kể – nhưng chỉ là một lá bài trong ván bài chính trị phức tạp đang chơi ở những nơi tít trên cao. Và sát gần, gần như cái quật của dùi cui, tôi đã hiểu rằng với mỗi kẻ tử vì đạo đã mất mạng một cách có ý nghĩa, sẽ có hàng trăm kẻ khác bị đánh đập, khủng bố, làm nhục. Ngay cả khi tôi lún sâu vào tình trạng trầm cảm và nghiền ngẫm trong cái nóng ngột ngạt của nhà kho-nhà tù ấy, tôi biết rằng tôi muốn sống.

Tới ngày thứ mười, tôi được gọi tên và được dẫn ra ngoài để tới cái máy điện thoại trả tiền gắn trên cây cột gần nhà kho của mình. Cầm ống nghe lên, tôi nghe giọng ông luật sư của cha tôi, gọi từ phía bắc New York. Chúng tôi đã gặp nhau một lần, tôi không biết rõ ông ta. Ông mở lời rằng ông không thể hiểu tôi hay bất cứ lý lẽ nào mà tôi tin tưởng, nhưng cha tôi là bạn thân của ông đang hoảng hốt vì lo lắng. Tiền phạt của tôi đã trả. Bây giờ tôi sẽ ra và lái lên phía bắc để về lập tức nếu tôi còn đoái hoài gì tới gia đình. Hết chuyện. Lời mắng mỏ của ông loại bỏ quyết tâm còn rơi rớt của tôi. Viên cảnh sát đứng cạnh tôi đưa tôi lên chiếc xe tuần tiễu tới chỗ tôi đã đậu chiếc Ford mười ngày trước, như thể toàn bộ sự việc đã được dàn xếp trước.

Đáng lẽ tôi nên gọi văn phòng COFO nói cho họ là tôi bỏ hàng ngũ và lên phía bắc ngay hôm ấy – nhưng tôi xấu hổ. Tôi bỏ hàng ngũ – một đứa chưa tới hai mươi trong phút hoảng sợ và bối rối. Bản đồ cho tôi thấy đường lên phía bắc nhanh nhất là đường của tiểu bang từ Jackson tới Selma, bang Alabama, rồi từ đó tới Montgomery, trước khi ra xa lộ liên bang. Tôi lái ngang Selma lúc chập tối và tôi đói (chúng tôi đã được cho ăn không gì ngoài rau và cháo ngô trong mười ngày), nhưng tôi quá sợ để ngừng lại ăn tối.

3.Jackson-Selma-HAYNEVILLE-Montgomery
Chặng khổ ải cuối cùng của Gregory Orr trong mùa hé 1965: Jackson (Mississippi) đến Selma-Hayneville-Montgomery (Alabama)

Trời nhá nhem trên xa lộ 80 của liên bang, qua Selma và còn 15 dặm nữa tới Montgomery, thì tôi nghe tiếng còi hú. Một chiếc xe trắng tới sát phía sau tôi, nháy đèn. Tôi nghĩ là xe cảnh sát và lái vào sát lề, nhưng hai người đàn ông nhảy ra, một cao và khá gầy, một thấp và vạm vỡ, không mặt đồng phục. Cả hai đều đeo súng ngắn, và khi tiến lại gần, mỗi gã một bên xe tôi, họ rút súng. Tôi quay kính lên và khoá cửa. Nòng súng gõ lên cửa cách đầu tôi năm phân: “Đồ chó đẻ, bước ra, hay là tao bắn bể đầu mày.”

Tôi bước ra đứng bên vệ đường, bên cạnh xe tôi. Họ thọc súng vào tôi và nói sẽ giết tôi. Họ lục lọi xe tôi và thấy truyền đơn SNCC trong cốp xe. Họ tin chắc tôi là kẻ khích động dân chúng mà tin đồn nói là đang tới thị trấn của họ – bảng số New York của tôi là manh mối rõ ràng và các tờ truyền đơn xác nhận. Hai gã đưa ra hai hứa hẹn cho tương lai tôi, trước tiên là sẽ giết tôi rồi vứt xác xuống đầm lầy. Vài giây sau, hứa hẹn thứ hai là họ sẽ nhốt tôi vô tù cho tới rục xương. Với hai lời hứa mâu thuẫn lửng lơ trên không, họ lấy ví tôi rồi trở lại xe họ, ra lệnh cho tôi lái theo sau. Họ lên xa lộ và phóng đi. Tôi nổ máy xe theo họ. Chúng tôi lái không hơn một dặm thì họ bật đèn rẽ bên phải vào một đường nhỏ hơn. Tôi lưỡng lự, không rõ nên làm gì, rồi rẽ theo.

Tôi ngừng câu chuyện đang kể cho Chris và Brian lúc tôi thấy chúng tôi đã tới tấm bảng màu xanh lục chỉ lối rẽ vào Hayneville. Tôi đã mải mê kể tới nỗi không nhận ra chúng tôi đã qua khỏi Montgomery và đang phóng trên Đường 80 tới Selma. Bỗng nhiên tôi thấy rằng câu chuyện cũ và chuyến đi này của tôi trùng hợp một cách quái dị ở giao lộ hoang vắng này. Và như thể chiếc Ford ma quái của tôi 40 năm trước từ phía tây đang tiến tới ngả rẽ, từ Selma tới, cùng lúc đó chiếc xe thuê sáng loáng màu trắng tiến tới cùng ngả rẽ đó từ hướng Montgomery. Thằng bé hoảng hốt trên chiếc Ford ma quái lái thẳng vào chúng tôi, và trong tích tắc, chúng tôi và câu chuyện là một. Bây giờ, tôi đang lái chậm vào con đường nhỏ tới Hayneville, đang kể cho Chris và Brian cảm giác của mình lần đầu tiên lái trên đường này, một mình, theo sau chiếc xe của hai kẻ có thể sắp giết tôi.

Xe họ mới hơn và nhanh hơn xe tôi. Nó tăng tốc độ. Đầu tôi hét: “Mày làm gì vậy? Mày đang sốt sắng phóng nhanh tới cái chết của mày – lái tới nấm mồ của chính mày! Quay xe lại rồi đào tẩu!” Nhưng làm sao tôi trốn? Họ giữ ví tôi và bằng lái và tất cả tiền của tôi. Lúc ấy tối như mực. Đường hẹp tới nỗi không có chỗ quay xe lại; hai bên là đầm lầy. Nếu tôi định trốn, xe họ dễ dàng bắt kịp xe tôi, và chắc chắn họ sẽ bắn tôi. Đối thoại hoảng loạn này bừng lên trong đầu tôi trên đoạn đường dài mười phút ấy, sau đó chúng tôi ra khỏi bóng tối tới Hayneville. Chúng tôi lái qua toà án, rẽ vào một ngõ hẹp, và dừng lại phía sau một nhà tù nhỏ.

Ngay lúc tôi đang tả lại lần lái xe kinh hoàng đó, tôi không còn thấy đầm lầy rậm rạp. (Hay điều đó chỉ là tưởng tượng trong bóng tối bao năm trước?) Hầu hết bây giờ là ruộng và đồng cỏ, với vũng ao lấp lánh đây đó như áng dầu trong cảnh hoàng hôn đậm dần. Bây giờ chúng tôi tới thị trấn. Một lần nữa, như lần đầu tôi tới đây, trời gần như tối mịt dưới vòm cây, chỉ le lói một chút bầu trời u ám không một vệt ánh sáng. Tôi nhận ra sự vật: kia là toà án – nó đứng lồ lộ – trắng, hai tầng trên bãi cỏ có đầy cây trong thị trấn khoảng hai mươi căn nhà nhỏ và nhà gỗ một tầng. Và thị trấn có một cái mới hoàn toàn (cái mới duy nhất theo tôi thấy) – tiệm tạp hoá kiêm trạm xăng BP nơi tôi dừng lại đổ xăng. Trạm xăng bóng loáng và đèn sáng trưng, bảng hiệu xanh lá cây sáng chói trong bóng tối như các cửa hàng bên vệ đường trong tranh của Edward Hopper, lập loè đìu hiu trong bóng tối nguyên sơ ở Mọi Vùng thôn dã của Mỹ quốc. Tôi run rẩy vì náo nức chóng mặt lúc bơm xăng. Ngay cả ở đây tôi có thể thấy thay đổi – người đàn ông phía sau quầy trạm xăng, tôi nghĩ là ông chủ, là người da đen, và phần lớn khách hàng của ông cũng da đen. Ngày trước, người da trắng làm chủ tất cả mọi thứ. Lúc tôi lái xe ra khỏi trạm xăng đối diện với toà án, tôi thấy chiếc xe cảnh sát, đang lái vào đậu bên cạnh căn nhà nhỏ của cảnh sát phía sau toà án, do một viên cảnh sát da đen lái.

Hồi tôi vào tù 40 năm trước, tôi cảm thấy thở phào. Ít nhất không còn lái nhanh kinh hoàng nữa. Nhưng điều dày vò của tôi lại qua một giai đoạn khác. Tôi bị biệt giam mà không có án trong tám ngày. Tôi bị giữ ở tầng trên suốt thời gian đó, tách khỏi các người tù khác và nhân viên, không thấy và không nói với ai ngoại trừ người tù tin cẩn mang thức ăn cho tôi hai lần mỗi ngày và lấy đi cái khay đã ăn xong. Tại sao tôi bị cô lập khỏi các tù nhân khác? Có thể họ không muốn người ta biết tôi đang ở đâu trong khi họ chờ xem có ai biết tôi “mất tích”. Từ khi Goodman, Schwerner và Chaney bị giết, tình nguyện viên được lệnh phải liên lạc chặt chẽ với trung ương trước khi đi bất kể xa gần, để ghi nơi đến và giờ giấc sẽ đến, để nếu xảy ra không đúng thì có thể báo động để đi tìm lập tức. Tôi đã không gọi, vì thế không ai biết tôi đang ngồi tù ở Hayneville.

Sau khi tôi bị giam bốn ngày, luật sư của cha tôi gọi cho biện lý ở Jackson, Mississippi, để hỏi ông ta tại sao tôi chưa về tới nhà. Viên biện lý không biết; họ đã thả tôi. Khi ấy ông gọi văn phòng bộ trưởng tư pháp của tiểu bang ở Montgomery, lúc đó là Richmond Flowers, một người ôn hoà về vấn đề chủng tộc. Văn phòng ông dò hỏi và biết tôi đang bị giữ ở Hayneville, nhưng họ không hứa giúp. Họ cho luật sư của cha tôi biết Lowndes County chống lại mọi sự can thiệp từ bên ngoài, ngay cả từ các giới chức của bang Alabama. Vào ngày thứ năm tôi ở đó, luật sư của cha tôi gọi được nhà tù và được (chính viên cảnh sát trưởng quỷ quyệt giả là phụ tá) nói rằng đúng là ở đó có một thanh niên tên Greg Orr và lúc này đang đánh cờ với ông cảnh sát trưởng.

Dĩ nhiên là nói láo. Tôi không biết cú điện thoại, không biết ai trên đời biết tôi đang ở đâu. Mỗi ngày trong tù là một thiên thu. Tôi tách rời với mọi thứ, ngoại trừ thực phẩm và ngày đêm. Tôi không biết khi nào tôi hết bị biệt giam. Nếu có ai nói: “Mày sẽ bị giam một mình trong xà lim nhỏ mà không có ai nói chuyện trong tám ngày”, thì tôi đã có thể cố dàn xếp cảnh khổ này trong đầu – trước tiên, tôi có thể đếm ngày và biết mỗi ngày trôi qua sẽ đưa tôi tới gần đích hơn. Nhưng không biết đích tới vì thế không thể đo lường – nó hoàn toàn tùy tiện và càng khiến tôi hiểu rõ hơn sự bất lực của chính mình. Mười ngày trong “tù” ở Jackson đã ngã lòng và mất định hướng, ở Hayneville tôi còn sợ hơn: tôi hiểu rõ hơn tình thế nguy hiểm của mình, và trí tưởng tượng của tôi chiếm ngự.

Giữa hôm thứ tám gã cảnh sát trưởng tới xà lim của tôi, mở khóa, và nói tôi được tự do. Thế thôi: không xin lỗi, không chính thức buộc tội, không gì cả. Tôi được đưa tới chiếc xe của mình, được lệnh cút khỏi thị trấn. Tôi được trả tự do đột ngột và bí ẩn như tôi đã bị bắt giam. Tôi lên xe lái đi. Tôi lái liên miên. Tôi nhớ một lần ngừng trong một chỗ nghỉ nào đó ở South Carolina lúc nửa đêm, định rửa ráy và cạo râu, nhưng tay tôi run tới mức không thể điều khiển dao cạo. Tôi chỉ ngủ khi nào tôi không thể lái lâu hơn nữa, ghé vào các bãi đậu xe rồi leo qua ghế sau. Khi tới New Jersey, tôi có ảo giác đàn chuột khổng lồ đang chạy ngang xa lộ trước đèn xe tôi. Và tôi về tới nhà, về thị trấn vùng châu thổ sông Hudson mà tôi đã ra đi chỉ khoảng một tháng trước.

Tháng Bảy tôi ở tại nhà, nhưng đầu tháng Tám tôi nhận việc trong một công ty phim ảnh nhỏ ở New York, ráp nối âm thanh và hình ảnh. Một hôm tháng Tám, trên đường từ chỗ làm về nhà tôi mua tờ New York Times để đọc trên xe điện ngầm. Xem trang đầu, tôi thấy một bài về vụ giết người vừa mới xảy ra ở Hayneville. Tôi lật tới trang trong để đọc hết bài báo và sửng sốt thấy bức ảnh của một trong hai gã đã bắt cóc tôi trên xa lộ. Bản tin nói gã đã bắn Jonathan Daniels, một sinh viên chủng viện dòng Giám Nhiệm (Episcopal) và là một tình nguyện viên phong trào dân quyền, giữa ban ngày trên bãi cỏ toà án, trước mặt sáu nhân chứng. Theo tôi đoán, nạn nhân và những người cùng với anh có thể là “những kẻ bên ngoài tới khuấy động” như tôi đã bị hiểu lầm. Theo bài báo, họ, cũng như tôi, đã bị bắt giữ một cách tùy tiện và không truy tố trong nhiều ngày rồi bỗng dưng được thả. Nhưng khác tôi, họ không có xe. Họ mất mấy tiếng vô ích để cố tìm người đưa họ tới Montgomery, trong khi tên sát nhân, bạn của cảnh sát trưởng và là “cảnh sát đặc biệt không lương”, càng lúc càng kích động. Gã gặp nhóm người được thả gần toà án và nhắm khẩu súng bắn đạn ghém của gã vào cô da đen Ruby Sales. Anh sinh viên chủng viện đẩy cô ra và đứng cản đúng lúc súng nổ.

Dù gã bị buộc tội cố sát, bồi thẩm đoàn da trắng ở địa phương trong toà án ấy tuyên bố “vô tội” vì tự vệ. Về sau, cũng toà án ấy xử bọn giết Viola Liuzzo, bà nội trợ ở Detroit tới tham dự cuộc tuần hành từ Selma tới Montgomery[3] ba tháng trước khi tôi tới thị trấn. Chập tối ngày 25 tháng Ba, súng nổ giết chết bà trong khi bà chở những người tuần hành bằng xe của bà trên Đường 80. Kẻ giết bà bị bắt lập tức, hắn cũng được bồi thẩm đoàn toàn da trắng ở Hayneville tuyên bố vô tội, dù cho chứng nhân bên nguyên cáo là một trong bốn tên Klansman (thật ra là một người điềm chỉ được trả tiền của FBI) hiện diện trên chiếc xe giết người tối hôm đó.

Tình trạng của tôi ở Hayneville tương tự như anh sinh viên chủng viện: bắt bớ tùy tiện, bỏ tù mà không buộc tội hay tuyên án, và thả bất ngờ. Nhưng tôi may có chiếc xe, và thời điểm cũng đã cứu mạng tôi: bài báo trên New York Times nhấn mạnh rằng kẻ giết người đã bực tức vì Đạo luật bảo vệ Quyền Bầu Phiếu (Voting Rights Act) mới được thông qua – như thể hành vi của hắn phát xuất phần nào từ một thái độ phản kháng chính trị chỉ hơi quá khích. Khi tôi bị bắt giam, Hayneville dường như không cần lo phải bị thay đổi hiện trạng – nếu sự hiện diện của tôi là biểu hiện của sự thay đổi, thì đó là sự thay đổi mà cư dân của thị trấn cảm thấy dễ dàng trấn áp và chặn họng.

Hai người chết ở đó, một bị giết vào tháng Ba, một vào tháng Tám – và giữa khoảng thời gian đó, vào cuối tháng Sáu năm 1965, là lần thoát hiểm mong manh của tôi, khi tôi lướt qua không gian tương tự của bạo lực. “Lướt qua” khiến tôi giống như con cá tìm thấy cái lỗ trong lưới, nhưng chắc chắn là tôi đã vướng lưới, và cũng chắc chắn vận may đã lôi tôi ra khỏi lưới và tình cờ ném tôi về biển.

Và bây giờ, 41 năm sau, tôi lại ở đây, đi tới nhà tù, mặt tiền gạch lôi cuốn mọi cảm xúc và ký ức của tôi về Hayneville. Không là kỷ niệm và suy nghĩ về nhà tù, mà là hiện thân bẩn thỉu của tù đày – một toà nhà đầy những xà lim nhỏ nhốt người. Cho tới lúc này tôi độc thoại, thốt ra không ngừng toàn bộ câu chuyện mang tôi tới đây, nhưng khi chúng tôi đi qua vài khu nhà cuối cùng, tôi lặng im chờ. Chris và Brian đều im lặng nhưng náo nức –- do lúc này chúng tôi đã có mặt ở thị trấn, những địa danh bây giờ liên kết trực tiếp với hiện thực. Trụ sở toà án hầu như tôi đã tả. Và đây, dưới đoạn đường hẹp này, đi qua toà án khoảng nửa phố là nhà tù, toà nhà gạch hình chữ L mà tôi đã đề cập. Nhưng sao trông nó khác với điều tôi nhớ và tả! Nó là cái vỏ trống trơn. Bị đóng ván bít các cửa – có vẻ bị bỏ phế đã nhiều năm. Bỏ hoang, hư nát, vôi vữa mủn ra giữa các viên gạch lem luốc. Cái duy nhất không hư hỏng hoàn toàn là sân tập thể dục nhỏ phía sau, trong hàng rào dây xích bên trên gắn dây kẽm gai.

Khi tôi dừng lại trên bãi đậu xe trải đá và nhảy ra khỏi xe, tôi cảm thấy như đứa trẻ tới sân chơi. Tôi ngạc nhiên vì phản ứng của mình. Nơi này, tại địa điểm của nỗi khổ cùng cực nhất mà tôi biết, tôi cảm thấy hạnh phúc lạ lùng. Chris và Brian cũng ra khỏi xe. Tôi thấy họ cũng vui mừng – hài lòng vì đã tìm thấy một thứ có thật, có thể sờ thấy ở cuối đường hầm chữ nghĩa chôn trong quá khứ xa xôi. Chris có máy chụp ảnh và bắt đầu chụp, dù lúc ấy là ban đêm và không có cách nào biết có chụp được không. Cửa toà nhà đóng, nhưng Brian thử cánh cổng hàng rào, thấy nó mở, và chúng tôi có thể vào sân. Chúng tôi leo vài bậc thang rỉ sét lên chiếu nghỉ tầng hai, từ đó tôi có thể chỉ cái cửa sổ xà lim của tôi bên kia hành lang mà tôi đã leo lên chấn song để ngóng cổ nhìn ra. Cảm giác đờ đẫn lúc tôi đặt chân lần đầu tiên lên bãi đậu xe tăng mạnh hơn – bây giờ tôi bật cười, và khi không cười, tôi không thể ngừng nhếch miệng. Lúc nãy, trên xe, kể câu chuyện bất hạnh từ quá khứ xa xưa, lời kể chạy thẳng từ kỷ niệm trong óc tới lưỡi huyên thuyên không ngừng gần như phớt lờ cảm xúc. Giờ đây trí óc tôi đã ngưng hoạt động gần như hoàn toàn, và tiếng cười kỳ dị này chế ngự tôi, trồi lên từ những tế bào bí hiểm trong thể xác tôi.

Brian và Chris xoi mói quanh cái sân cỏ dại, tìm có cái gì lý thú, một món rỉ sét để chỉ, để nhặt lên ngắm nghía. Bình thường tôi là một kẻ thích kỷ vật – một vỏ sò trên bờ biển, một hòn đá trong lần đi bộ đáng nhớ trong rừng – nhưng tôi không muốn lấy bất cứ vật gì nơi này. Ngay cả một hòn sỏi cũng đè nặng tôi, và thật thà mà nói rằng lúc này tôi cảm thấy phi trọng lực, như thể tôi là con ma vui sướng đi qua cảnh hoang tàn.

Cuộc đời của tôi bắt đầu với phát súng trường và một sinh mạng vô tội chết bất ngờ. Kết thúc của tôi lẽ ra là một điều rùng rợn tương tự: biết đâu một phát súng lục, cái chết của tôi trong thị trấn bé tí rất xa nhà này – khởi đầu và kết thúc thật gần nhau do đó tạo nét bí ẩn và bi thảm cho cuộc sống bằng chính sự vắn gọn của nó. Nhưng, Hayneville không là kết thúc của tôi. Nó là nơi đời tôi lẽ ra có thể chấm dứt nhưng không, và bây giờ gần nửa thế kỷ sau, tôi đứng cười bên cạnh nhà tù bỏ hoang hư nát. Nhưng cười cái gì, cười ai? Không phải cười thằng bé hoang mang và chân chất là tôi bằng ấy năm về trước, đứa đã vấp té và thoát khỏi đại nạn nhờ may mắn. Tiếng cười nào như nước đang phun trào ra khỏi miệng tôi?

Lúc chúng tôi đi ra và tôi ngập ngừng trên bãi đậu xe trải đá, một tay trên nắm cửa, nhìn lần cuối nhà tù cũ, một lời duy nhất tới với tôi: vui. Tôi đang cảm thấy vui – niềm vui là tâm can của tiếng cười lạ lùng này. Niềm vui là câu trả lời chính yếu của thân xác tôi đối với món quà to lớn mà thân xác đã ban cho – một đời sống trọn vẹn! Một đời sống trọn vẹn chờ đợi tôi ngày tôi rời thị trấn này. Một đời đầy niềm vui mà hồi đó tôi không thể tưởng tượng: một cuộc sống lâu dài và mãn nguyện với người phụ nữ tôi yêu, hai đứa con gái tuyệt vời, bốn mươi năm làm thơ và dạy nghề thơ. Bật cười nghĩ rằng thằng bé là tôi ngày ấy đã đến Miền Nam tìm lời chúc đen tối của thần chết qua một động cơ cao quý, nhưng thay vào đó đã được ban cho lời chúc phức tạp hơn nhiều của sự sống, được ban cho cả cuộc đời và tất cả các cuộc đấu tranh trong tương lai để giải quyết và làm cho cuộc sống có ý nghĩa – cho chính hắn ta, và nếu thằng bé ấy may mắn trong sự nghiệp viết văn, cho cả người khác . Bật cười vì đời tôi ra khỏi thị trấn này vẫn tiếp tục và nở ra mọi triển vọng, một trong các đóa hoa ấy (sáng ngời trong bóng tối) là tình yêu.


[1] Geoffrey Chaucer (1340s-1400), nhà thơ người Anh, tác giả The Canterbury Tales, thuật lại bằng thơ cuộc thi kể chuyện của những người trong đoàn đi hành hương từ London tới Canterbury để thăm đền thánh Thomas Becket.

[2] Thành lập năm 1962 để phối hợp nỗ lực của các nhóm tranh đấu cho dân quyền và nhân quyền, nhất là các vấn đề giáo dục và quyền bầu phiếu.

[3] Cuộc tuần hành 18 ngày, 7 tới 25 tháng Ba 1965, trên đoạn đường 54 dặm tới Montgomery, thủ phủ bang Alabama, đòi công lý cho Jimmie Lee Jackson. Ông bị cảnh sát Alabama bắn chết trong một cuộc biểu tình ôn hoà ở Selma đòi bãi bỏ những ngăn trở vô lý quyền đi bầu của người da đen. M.L. King đọc bài diễn văn “How Long? Not Long” tại bậc thềm trụ sở quốc hội tiểu bang. Trước đó một tuần, ngày 15/3, tổng thống Lyndon Johnson đọc bài diễn văn “The American Promise” trước lưỡng viện quốc hội, dứt khoát ủng hộ quyền tự do bầu cử và nhân quyền. Dự thảo luật về quyền bầu cử được đưa ra Thượng viện ngày 17/3, thông qua ngày 26/5. Hạ viện thông qua ngày 09/7 với một số thay đổi. Sau khi hai viện quốc hội sửa chữa và thông qua, Johnson ký ban hành ngày 06/8/1965.

bài đã đăng của Gregory Orr


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)