Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

LỜI CHIA TAY ÊM ÁI


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 11.06.2020

 

 

 

 

 

clip_image002Patricio Pron (1975- ) là nhà văn và nhà phê bình văn học người Á Căn Đình. Vào năm 2010, ông được tạp chí Granta của Anh Quốc (ấn bản tiếng Tây Ban Nha) chọn là một trong 22 nhà văn trẻ xuất sắc viết bằng tiếng Tây Ban Nha. Ông đoạt giải thưởng văn chương Alfaguara của Tây Ban Nha lần thứ 22 vào năm 2019 với tác phẩm Mañana tendremos otros nombres (tạm dịch: Ngày mai chúng ta sẽ mang tên khác). Truyện ngắn El perfecto adiós chuyển ngữ dưới đây được chọn trong tuyển tập Trayéndolo todo de regreso a casa (‘Mang mọi thứ về nhà’), do nhà xuất bản El Cuervo ấn hành tại La Paz, Bolivia, vào năm 2011.

 




 

 

 

51qO-JwByKL._SX324_BO1,204,203,200_

 

 

 

 

 

 

Nắng xuyên vào trong xe, làm óng ánh mái tóc đỏ của người đàn bà ngồi ở băng ghế trước. Những sợi tóc mịn màng của bà tung bay theo gió. Thằng bé đang mải mê nhìn phong cảnh hoang dã và bí hiểm trong ánh nắng rực rỡ của buổi trưa, trông như trong một cơn hoả hoạn, như thể làn không khí trong suốt đã bốc cháy, bị xé toang thành những vết sẹo và mở toác ra từng mảnh da thịt của cảnh vật, rồi thiêu đốt đi tất cả: những đám ruộng lúa mạch chập chùng, những ngôi nhà quét vôi trắng, những cái cối xay gió, những đứa nhỏ đang đi dọc theo con lộ, những con chó…

Thằng bé khẽ chớp mắt vì tóc của người đàn bà ngồi ở băng ghế trước bay vào mắt nó, nhưng nó không lấy tay gạt ra mà cũng không ngừng nhìn—với vẻ buồn bã—tất cả cảnh vật như đang bừng cháy bên ngoài. Người đàn bà tóc đỏ quay lại và cười với thằng bé,

nhưng nó lại ngả người ra băng ghế sau và trốn dưới cánh tay rắn chắc của người đàn bà tên Ethel.

Tóc của Ethel không đỏ cũng không đen, mà có màu tôi tối như những đêm khuya bà trải qua trong những chuyến viễn du; lúc nào bà cũng nói với khoé miệng trễ qua một bên. Khi thằng bé hỏi sao bà lại như vậy, bà kể rằng bà đã bị liệt nửa khuôn mặt. Thằng bé không hiểu được câu chuyện bà kể, nhưng nó rất thích cách bà nói, một nửa của bà trò chuyện, còn nửa kia thì im lìm, vì Ethel giống như là hai con người trong một người, và từ đó trở đi lúc nào nó cũng quấn quýt lấy bà.

Hai người đàn bà nói chuyện với nhau rất ít. Thỉnh thoảng, trên đường đi, họ buông ra vài lời rồi bỏ lửng, và dường như cũng không nhắm tới riêng ai. Những lúc không ngủ, thằng bé lắng nghe những lời họ nói, để rồi sau đó gắng ghi nhớ những lời đó. Ethel bảo: “Ở chỗ này trước đây có lần…” rồi không nói gì nữa. “Ừ”, người đàn bà kia đáp lại, rồi nhìn lại lần nữa nơi mà họ vừa bỏ lại đằng sau. Thế là thằng bé bắt đầu lặp lại những lời như vậy: “Ở chỗ này trước đây có lần, ừ… Ở chỗ này trước đây có lần, ừ…”, nhưng thậm chí những lời đó nó cũng chẳng thấy có ý nghĩa gì; trái lại chúng còn làm nó rối trí hơn và biến thành những âm thanh kỳ cục và khó hiểu mà nó cứ nghe đi nghe lại trong đầu cho đến khi thiếp ngủ trở lại. Đối với nó, chữ nghĩa lúc nào cũng làm nó rối trí; ít nhất là từ khi bố nói với nó rằng chữ nghĩa chỉ là những điều lừa dối không nên tin tưởng, là thứ mà Quỷ sứ thường dùng lúc hiện hình. Có lần người bố bảo: “Chỉ có một chữ duy nhất, đó là chữ “Chữ”, và cũng như mọi lần khi người bố nói chuyện với nó, thằng bé co rúm lại trong cơn sợ hãi sâu xa lẫn kính phục, và nó hiểu rằng bất cứ điều gì bố nói, bất cứ chữ gì bố dùng để giải thích điều gì đang xảy ra, nỗi sợ hãi mà nó canh cánh trong lòng từ ngày mẹ mất đi, hẳn đã là chứng cớ cho thấy Quỷ sứ đã bủa vây nó bằng những tấm lưới của chữ nghĩa.

Người bố cũng chẳng nói năng gì nhiều; suốt cuộc hành trình, ông cứ im lặng lái xe, giờ này qua giờ nọ, chờn vờn hai bàn tay quanh vô-lăng như một con rối. Thằng bé chỉ dám lâu lâu nhìn trộm bố, trong khi ông không hề nhìn lại nó; trong những lần hiếm hoi mà ông nói chuyện với nó, lúc nào ông cũng nhìn vào một chỗ xa xa phía sau, bên trên cái đầu của thằng bé, như thể là nó bé đến nỗi ông không tài nào tập trung ánh mắt bao quát của mình vào cái thân hình nhỏ bé của nó, một con kiến dưới cái chân của một con voi đang sẵn sàng bước tới một bước, hay cũng có thể là người bố không nhìn thẳng vào con để khỏi làm nó tổn thương, không làm nó đau đớn bằng ánh mắt, mà như có lần nó đã thấy, dữ dội như ánh sáng của những cơn nhật thực mà người ta chỉ dám nhìn qua một cặp kính bảo vệ, còn nếu không thể nào cũng đánh hư thị giác.

Tuy thế, nếu người bố không nhìn con, nếu ông tránh ánh mắt nó vì bối rối hay vì sợ làm nó tổn thương, thằng bé lúc nào cũng nhìn ông. Hiếm khi nó hướng đôi mắt nhỏ bé của mình để ngắm cảnh vật đang bốc cháy trên mái tóc của người đàn bà ngồi ở băng ghế trước, hay nhìn hai người đàn bà cùng hiện diện nơi Ethel, hầu như lúc nào nó cũng đăm đăm nhìn bố, kiểu như một nhà côn trùng học hay kẻ đi săn kho báu. Đối với nó, bố là một người đàn ông cao to, mặc dù thực tế có lẽ không phải ông ta cao to mà là vì nó quá nhỏ bé. Người bố, trong một ý nghĩa nào đó, dường như có tầm thước một cách ngoại lệ, tựa hồ ông có thể vươn người ra mà che phủ hoàn toàn được mọi thứ; đối với thằng bé, ông là một ngoại lệ, một sinh vật kỳ lạ nhưng đồng thời cũng rất đỗi thân quen trong cuộc sống nhỏ bé thời thơ ấu của nó. Thằng bé tôn thờ bố như thể nó đã biết từ lâu rằng tất cả những người đàn ông mà nó sẽ quen biết trong suốt cuộc đời còn lại của mình, tất cả những người đàn ông sẽ đến và đi trong suốt những năm tháng về sau, không ai có thể so sánh được ngay cả với ngón chân út của bố nó. Mỗi khi nghĩ về bố, thằng bé nghĩ đến những điều ấm áp như chăn nệm, đầu điếu thuốc rực đỏ, ánh mặt trời, những tấm ảnh đang bốc cháy, hay một đám lửa trại cao vút đầu trong một đêm thăm thẳm.

Hai người đàn bà trở nên sống động vào ngày thứ ba của cuộc hành trình, trong khi người bố vẫn tiếp tục giữ im lặng, nhìn thẳng vào con đường mở rộng ra trước mặt, chẳng nói chẳng rằng, còn đứa con thì đã bắt đầu thắc mắc họ đang đi đâu. Thằng bé hoàn toàn bị cuốn hút vào cuộc hành trình mà dường như chẳng đưa về đâu cả, trong khi cả bọn vẫn chạy qua những cánh đồng, chỗ thì xanh tươi, chỗ thì trơ trọi, những cánh đồng tràn ngập lũ chim chân khẳng khiu và đám bò thản nhiên gặm cỏ, nó đã bắt đầu nhớ đi nhớ lại giây phút người bố đã đem nó ra khỏi nhà để bắt đầu cuộc hành trình.

Hai đêm trước, người bố từ xưởng đóng tàu trở về nhà với hai mắt đỏ hoe, đỏ như màu sơn người ta vẫn dùng để sơn tàu thuyền. Trước đây, thằng bé đã từng thấy những con tàu mà bố đã sơn phết. Một buổi chiều nọ, thằng bé cùng mẹ ra xưởng đóng tàu, và mặc dù ký ức đó đã bắt đầu nhạt nhoà trong đầu mình, nó vẫn còn nhớ được nụ cười của bố, ông cười khi thấy đôi mắt của con trai hồng lên vì màu sơn đỏ bồng bềnh trong không khí, làm tất cả như hoà nhập thành một. Chuyện gì đã xảy đêm hôm đó, thằng bé không thể nào biết được. Người bố về nhà và làm bếp cho hai bố con ăn, ông khéo léo bày bát đĩa ra trên tấm khăn bàn bẩn thỉu; hồi trước tấm khăn hãy còn trắng tinh, giờ đã ngả vàng, dính đầy những vết màu vàng của món xúp mà đêm nào người bố cũng nấu, và thằng bé nghĩ rằng nó cũng không khác gì tấm thực đơn trong một nhà hàng có ghi tất cả những món ăn, mặc dù món độc nhất của nhà hàng tưởng tượng do người bố làm chủ đó chỉ là món xúp màu vàng nấu với mì sợi. Vì thế tấm khăn trải bàn màu vàng dường như báo cho thực khách—không ai khác hơn là hai bố con, những người đã thuộc nằm lòng tấm thực đơn—về sự nghèo nàn, ít ỏi của nó. Thế rồi, đêm ấy, thằng bé đặt hai cái đĩa, hai cái thìa và hai ly nước lên bàn. Nó để thêm một miếng bánh mì còn lại ngày hôm trước; được xếp đặt xong xuôi, bàn ăn trông thiếu thốn một cách buồn bã. Chắc là vì như thế, thằng bé nghĩ thầm, mà bố chỉ múc nước xúp vào đĩa của mình và cứ ngồi dán mắt vào mặt bàn, chờ con ăn cho xong, và suy nghĩ mông lung. Sau khi rửa chén bát sạch sẽ, người bố vào phòng mình và đi đi lại lại một hồi lâu. Thằng bé vẫn nằm thao thức trên giường, im lặng quan sát những thanh xà ngang trên trần nhà, và nghe tiếng bước chân của bố ở phòng bên, tựa như một con thú bị giam cầm; người bố dường như đang thì thầm với chính mình, trăn trở một cách thô bạo, làm căn phòng vang rền lên với tất cả sự giận dữ hay nỗi buồn của mình. Hơi ấm từ cái máy sưởi mà người bố đã tắt khi đi ngang qua căn phòng của con lần cuối đã bắt đầu tan loãng vào không khí nên thằng bé đành phải nhắm mắt cố ngủ cho khỏi thấy lạnh.

Người bố bước vào phòng của con khi trời chưa hửng sáng. Thằng bé hấp háy mắt, cơn buồn ngủ vẫn còn đè nặng, và chỉ thấy đôi mắt đỏ ngầu của bố sáng rực lên trong bóng tối như thể ông là một con ác quỷ. Người bố bảo con: “Mình sẽ đi chơi xa, con ạ”, đoạn ông vất lên giường bộ quần áo mà thằng bé đã thay ra ngày hôm trước. Thằng bé hấp tấp, vụng về mặc quần áo vào; nó thầm nghĩ, nếu mình không vội vã thì chắc bố sẽ bỏ mình ở lại. Vừa mặc quần áo xong xuôi, nó đã nghe bố nói: “Đi thôi, con!”; thằng bé ra khỏi nhà và ngồi vào xe.

Bên trong xe lạnh ngắt, thằng bé chuồi người vào giữa những chỗ ngồi nhớp nháp và lạnh lẽo như bụng của một con cá. Người bố đóng cửa xe lại. Lúc bấy giờ thằng bé mới nhớ ra rằng mình đã bỏ quên ở nhà sách vở đi học mà lúc nào nó cũng mang theo mình, vì trong cái túi của một tấm bìa nó có cất một tấm ảnh của mẹ mà bố đã đưa cho. Đó là một tấm ảnh cũ đã nhiều năm về trước, chụp lấy liền bằng máy Polaroid. Màu sắc đã bắt đầu phai nhoà, khiến phông cảnh trong ảnh mang một vẻ mờ ảo, nhưng trên cái nền màu xanh tai tái của nó, người ta vẫn còn nhận ra được nét mặt tươi cười của hai mẹ con. Thằng bé phụng phịu muốn vùng ra khỏi xe để vào lấy tấm ảnh trước khi bố biết được, nhưng người bố đã vội vã lên xe và cho xe chạy đi. Giọng nói yếu ớt của thằng bé van lơn bố hãy khoan nổ máy vì nó còn để quên vật gì ở trong nhà chợt tan loãng trong không khí lạnh lẽo của buổi sáng sớm. Chiếc xe nổ máy, bỏ lại phía sau căn nhà, khuôn mặt nhạt nhoà của người mẹ trong tấm ảnh và giọng nói trẻ con của thằng bé.

Sau đó thì hai người đàn bà mới xuất hiện, vừa khi thằng bé bắt đầu hiểu ra mọi người sẽ đi đâu. Vào một lúc nào đó trong đêm đầu tiên của cuộc hành trình, người bố dừng xe lại và ngồi lặng im nhìn màn đêm phủ xuống miền thôn dã; đoạn ông lấy từ băng ghế sau trong xe một cuốn sách có bìa màu đậm và đọc lớn giọng, cho thằng bé và cho chính mình nghe, những chữ, những lời buồn bã đầy trách móc. Lẩn khuất trong những lời ấy là một niềm hy vọng được làm lành với nhau. Trong lúc ngắm màn đêm và nghe những lời bố đọc, thằng bé tự hỏi những lời lẽ ấy, cũng như bao nhiêu lời lẽ khác, phải chăng cũng là những thứ mà Quỷ sứ dùng để lừa dối nó, nhưng liền khi đó nó nghĩ chắc không phải vậy, bởi vì những lời mà người bố cứ lập đi lập lại, “Tôi đã chịu đựng những điều kinh khủng từ nơi anh, và bây giờ tôi không còn chịu nổi nữa”, có vẻ như từ ông và câu chuyện của chính ông mà ra chứ không phải là của Quỷ sứ.

Ngày hôm sau, khi thằng bé bắt đầu lờ mờ hiểu chuyện, đang lo lắng lẫn tò mò ngó đến cuốn sách mà người bố đã đọc trong đêm qua, hai người đàn bà đã xuất hiện vào thời điểm đó. Người bố dừng xe lại trước một cái quán nằm bên vệ đường vào giữa trưa. Trong quán thật vắng vẻ. Người bố chọn một chỗ khuất trong quán, cách cửa ra vào vài mét; thằng bé ngồi xuống bên cạnh bố. Nhìn qua khung cửa sổ tồi tàn của cái quán, chiếc xe trông như một vật gì lạ lẫm, một sản phẩm từ một thời nào khác, từ một nơi nào khác, đã lẻn vào tác phẩm của một hoạ sĩ lơ đễnh. Rời mắt khỏi chiếc xe, thằng bé nhìn tấm khăn bàn lỗ chỗ những vết tròn màu xám. Nó sắp sửa hỏi bố những vết tròn đó là gì, ở quán này người ta bán món ăn nào mà đã để lại những vết màu xám trên khăn bàn, chứ không phải là màu vàng như ở nhà, thì người bồi bàn đã bước đến. Người bố gọi món ăn cho hai bố con và khoát tay khi người bồi bàn chìa ra tấm thực đơn. Khi anh ta vừa đi khỏi, với vẻ mặt chán chường rán làm ra như tôn trọng khách, thằng bé nghe giọng nói của hai người đàn bà.

 

Lúc quay lại, người bồi bàn mang một bình nước và hai cái ly. Thằng bé cầm lấy một cái và tự rót nước cho mình, nhưng người bố ra hiệu cho nó khoan uống nước đã. Nó quay ra nhìn bốn bức tường trong quán có dán đầy những bìa tạp chí túc cầu cũ kỹ đã bắt đầu phai màu như tấm ảnh của người mẹ: những người đàn ông đội mũ, mang giày nâu và mặc quần đen rộng thùng thình trông khá khôi hài và khó chịu. Xa hơn nữa là một tấm bảng hiệu nhấp nháy đèn và phát ra một thứ âm thanh đều đều, gấp gáp. Vài bóng đèn trên bảng hiệu đã bị cháy nên thằng bé không thấy rõ hai chữ đầu, một chữ “o” và một chữ “l” lồng vào nhau ngay trên đầu của hai người đàn bà mà nó đang nghe nói chuyện.

Thằng bé định chỉ cho bố thấy hai người đàn bà thì nó biết ra ông đã để ý đến họ và đưa mắt nhìn một cách dò xét mà từ trước tới giờ nó chưa bao giờ nhận thấy. Lúc này, người bồi bàn đã trở lại với hai đĩa thức ăn. Thằng bé thôi không nhìn hai người đàn bà nữa: nó mê mẩn nhìn đĩa thức ăn đầy tú ụ và sững sờ khi nếm qua vị béo ngậy của món thịt. Mùi vị đó đối với nó thật lạ lẫm. Nó ngẫm nghĩ, trong lúc ăn những miếng khoai xếp vòng quanh mép đĩa, đến món mà nó thực sự muốn ăn hơn, món mà nó thèm muốn hơn ngay trong lúc này, chính là món xúp của người bố, với những sợi mì trăng trắng nổi lều bều trên mặt nước dùng vàng vàng mà đã thường để lại những dấu lấm lem nho nhỏ trên khăn bàn và quần áo.

Trong khi thằng bé vẫn đang ăn, người bố nói mà không nhìn nó: “Con ngồi đây chờ bố quay lại nhé”. Thằng bé định phản đối, nhưng ánh mắt lạnh lẽo như thể được làm bằng giấy của bố xuyên suốt người nó, đã làm nó nản lòng và đành phải làm thinh. Người bố đứng dậy, rời khỏi bàn và đi về phía gần cửa quán. Ông nói chuyện một lúc với một trong hai người đàn bà, người có mái tóc đỏ như lửa, rồi bà ta đứng lên đi cùng với ông về phía cửa ra vào. Bà ta quay lại và nói gì đó với người đàn bà đi cùng, đoạn bà ta đẩy cánh cửa và đi ra ngoài cùng người bố. Thằng bé nhận thấy người đàn bà đó cao hơn là nó tưởng trong lúc nó quan sát bà ta. Nó thấy đôi chân của bà dài và linh hoạt như chân của một con chim mà có lần nó đã được xem ở sở thú. Lúc nó sắp sửa chạy theo hai người thì người đàn bà còn lại đã đến bên nó và ngồi xuống nói: “Chào cháu!” bằng nửa cái miệng. “Chào cô,” thằng bé đáp, thoáng sợ hãi. Người đàn bà hỏi nó tên gì và bảo: “Cô tên là Ethel, còn cô kia tên là Nai”. Thằng bé ngồi im. “Bố cháu sẽ trở lại ngay thôi”, bà ta nói thêm. Thằng bé khẽ gật đầu; nó nhìn như bị thôi miên hai nửa của khuôn mặt người đàn bà tên là Ethel: Một nửa đang mỉm cười với nó và hỏi han nó, còn nửa kia bất động, gần như đang ngủ, và mí mắt của nửa này rủ xuống trên con mắt đen của bà ta. Người đàn bà giải thích: “Trước đây có lần cô đã bị liệt khuôn mặt”. Thằng bé lại gật đầu nhưng cũng chưa hiểu hết sự việc. “Chuyện này xảy ra sau khi cô sống ở một vùng quê có rất nhiều bò. Ở vùng đó có một cái cối xay gió và một ngôi nhà nhỏ với giàn dây leo ở lối vào, lúc nào cũng đầy ong. Lũ bò ở bên ngoài, trông có vẻ như vô hại và chán chường, nhưng”, người đàn bà đưa mặt gần đến mặt thằng bé hơn, “thật ra lũ bò không vô hại đâu, chúng là những con vật dữ dằn, ở giữa cặp mắt của chúng có dấu hiệu rằng chúng là những con thú của Quỷ sứ, chúng có tất cả những dấu hiệu của loài quỷ in hằn trên da. Cô biết được điều này vào ngày mà chúng lăn ra chết cả. Chuyện là như vầy: một đêm cô nằm mơ thấy lũ bò đi vào nhà cô và húc đổ mọi thứ trong nhà, bàn ghế, tranh ảnh của những người đã chết, kể cả những tấm gương; sáng hôm sau, cô ra khỏi nhà và thấy đâu đâu cũng đầy bò nằm chết la liệt. Cô lại gần để xem xét. Chúng không có một vết thương nào trên người cả, mà chỉ có một búng máu bầm đen phọt ra từ những cái mõm há hốc của chúng; với những cái mõm há hốc như thế, chúng như đang cười nhạo cô và báo cho cô biết cô sẽ là người kế tiếp, vì vậy cô mới trốn khỏi vùng quê để đi đây đi đó, làm những chuyện mà đã để lại dấu vết trên gương mặt của cô. Bác sĩ cho cô biết cô sẽ như thế này mãi mãi, bác sĩ nào thì cũng nói như thế, nhưng cô biết là Chúa sẽ chữa lành cho cô”. Người đàn bà tên Ethel rút ra từ túi áo một tấm ảnh Chúa Giê-su, hôn lên nó đoạn bắt thằng bé làm theo. Thằng bé đặt môi trong giây lát lên mặt ảnh làm bằng giấy cứng và ngửi thấy một mùi tựa như mùi hoa héo. Elthel nói thêm: “Chúa sẽ cứu cô khỏi mọi điều xấu xa, bởi vì Người là đấng toàn năng, Người làm giảm đau khổ cho những ai tội lỗi như cô và che chở họ trước mặt Đức Chúa Cha Hằng Sống”. Thằng bé vẫn ngồi im lặng, không hiểu gì cả. Chợt người đàn bà bật khóc, gọi người bồi bàn đem lại hai cái kẹo caramel và cả hai cùng ngồi lặng lẽ nhai kẹo, vừa vuốt thẳng thớm tờ giấy bọc kẹo trên mặt bàn cho đến khi những hàng chữ trên đó biến mất cả, trong lúc vẫn nghĩ đến câu chuyện lũ bò mà Quỷ sứ đã viết ra. Một lúc sau, người bố trở lại cùng người đàn bà tóc đỏ. Bà ta lại gần thằng bé, vuốt tóc nó và hỏi nó tên gì. Thằng bé không trả lời vì nó nghĩ mình không nên nói tên hai lần trong cùng một ngày. Ethel nói tên thằng bé, và người đàn bà kia mỉm cười với nó với cặp mắt sắc cạnh và nghiêm nghị, cặp mắt của những người chết hay của một người không hề ngủ từ năm này qua tháng nọ, đoạn bà ta hỏi thằng bé: “Cháu có muốn hai cô đi cùng không? Cháu muốn mình cùng đi đến Buổi Lễ chứ? Thằng bé lắc đầu, hướng mắt về phía bố; ông trả tiền cho người bồi bàn và vẫn cùng hai người đàn bà đi ra; và thế là Ethel và Nai bắt đầu cuộc hành trình với hai bố con.

Trên đường đi, mọi người rất ít trò chuyện với nhau. Người bố kể cho hai người đàn bà nghe vì sao ông quyết định cuộc hành trình với con trai mình, và cả hai chỉ im lặng lắng nghe, nhìn thằng bé với vẻ vừa khâm phục, vừa sợ sệt. Dẫu sao thì người bố cũng không nói nhiều, nhưng chỉ một chốc lát đó thôi cũng đủ cho thằng bé vờ như đang ngủ để nhìn cảnh vật bốc cháy trên mái tóc của Nai. Rồi ông kể rằng con trai ông có lần đã toan treo cổ, quấn dây thừng quanh cổ trong khi ông đang ở xưởng đóng tàu, cột đầu dây kia vào cái xà ngang trên trần phòng ngủ của nó. Nhưng sợi dây thừng bị đứt ngang nên thằng bé ngã xuống đất, bất tỉnh nhưng thoát chết. Người bố bắt gặp con trong tình trạng đó đêm hôm ấy và vặn hỏi nguyên cớ nhưng thằng bé tuyệt nhiên không hé môi nói lời nào. Tuy vậy, theo người bố, chuyện đã rõ như ban ngày: “Ác quỷ đã chiếm ngự linh hồn của thằng bé”, ông nói vậy và từ đó trở đi lại im lặng trong suốt đoạn đường còn lại của cuộc hành trình. Hai người đàn bà xầm xì với nhau một lát, rồi người đàn bà tên Nai hỏi thằng bé: “Cháu có nhớ mẹ không?”. Thằng bé không trả lời, vẫn vờ ngủ. Người bố bảo nó, với đôi mắt đỏ ngầu mà nó từng thấy ở xưởng đóng tàu, rằng tốt nhất là nó nên ngủ thật sự, nhưng thằng bé không thấy buồn ngủ, vẫn thao thức trong suốt quãng đường còn lại, lắng nghe tiếng động cơ của chiếc xe và tưởng tượng, với đôi mắt nhắm nghiền, rằng tất cả mọi vật chung quanh đang bừng bừng bốc cháy.

Khi thằng bé mở mắt ra, nắng đã lên cao ở chân trời. Nó khẽ khàng ngồi dậy, cố thoát ra khỏi vòng tay của người đàn bà tên Ethel đang đè lên người nó, ngủ say. Thằng bé chồm ra chỗ trống giữa hàng băng ghế trước, vừa tránh nhìn thẳng bố, vừa hỏi: “Mình đi đâu vậy hở bố?”. Trong lúc ngủ, người đàn bà tên Nai búi tóc lên cao ở đỉnh đầu; búi tóc làm dáng vẻ xa cách của bà ta nổi bật hẳn lên, như thể bà muốn tách biệt với một nơi chốn nào đó, ngay cả trong lúc đang nằm bất động. Người đàn bà liếc qua nhìn người bố trong một giây rồi trả lời: “Chúng ta đến dự một buổi lễ rửa tội”. “Rửa tội là cái gì?”, thằng bé hỏi. “Đó là một nghi lễ mà trong đó con người được gặp gỡ Chúa”, Nai đáp, “Cháu sẽ gặp Chúa và cháu sẽ không còn muốn chết nữa”, bà ta nói thêm, nhưng thằng bé hết nhìn bà rồi lại quay qua nhìn bố, chất vấn: “Tại sao cháu lại phải gặp Chúa? Tại sao lại là cháu chứ?”, nó vặn lại. Người đàn bà tên Nai không nói gì nữa. “Tại sao chúng ta phải đi xa mới gặp được Chúa?”, thằng bé lại thắc mắc.

Thình lình chiếc xe giật mạnh lên rồi dừng hẳn lại. Thằng bé lao vào dưới vòng tay che chở của Ethel, lúc này đã thức dậy vì cú giật mạnh, như thể là thằng bé là người gây ra chuyện đó. Người bố cố cho xe chạy trở lại nhưng chiếc xe nhất định không chịu nổ máy. Người đàn ông thử thêm một hai lần nữa rồi bước ra khỏi xe, mở cái ca-pốt lên. Bên trong xe tối sầm lại nên thằng bé không biết bố đang làm gì. Người đàn bà tên Nai mở cửa xe ra và cũng bước xuống, trong lúc người đàn bà tên Ethel vẫn ngồi trong xe, nhìn qua cửa sổ. Thằng bé cũng nhìn ra bên ngoài và thấy rằng vùng quê không còn đang cháy nữa. Ở chính những chỗ mà trước đây đã bùng lên ngọn lửa đỏ trên mái tóc của người đàn bà tên Nai, giờ đây toàn những bò là bò. Đàn bò trắng đen lẫn lộn đang rống lên những tiếng nghe thật kinh sợ mà thằng bé tưởng chừng như chỉ dành riêng cho nó. Tiếng rống càng lúc càng vang rền hơn trong không gian và được những loài thú khác đồng thanh đáp trả, như thể tất cả những con bò của vùng quê cháy rụi đã mãi mãi tràn vào những cơn mơ treo cổ của thằng bé. Tiếng rống kinh hãi của lũ bò chết trong câu chuyện của người đàn bà tên Ethel, cảnh vật bất động mà trong đó thằng bé, người bố và người đàn bà tên Nai đang nhìn chiếc xe chết máy, những dấu ấn trên làn da cháy bỏng của cảnh vật như những lời của Quỷ sứ, in hằn trên những con bò và những màu sắc nhạt nhoà trong tấm ảnh của người mẹ, tất cả là—mặc dù thằng bé vẫn chưa hiểu hết—một lời chia tay êm ái với những ảo tưởng của ấu thời.



Trần C. Trí
chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha

bài đã đăng của Patricio Pron


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)