- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Đập vỡ tôi ra và sắp xếp lại – 2

 

 

(Trích tiểu thuyết Làng Người Xanh)

 

… Có gai trên óc là con cá ngạnh
Đủ vi đủ cánh là con cá chuồn
Dắt nhau vô buồng là con cá ngộ
An cây lót ổ là con cá chim…

Bọn trẻ con vừa dung dăng dung dẻ vừa nghêu ngao bài đồng dao xứ biển bỗng dừng sựng lại, mắt tròn mắt dẹt. Đàn cá đang bơi tung tăng tự nhiên ngửa bụng trắng hếu, ngáp ngáp, xiên xiên lên xuống mấy bận rồi ngủm, xác tấp đầy bờ — nói như người dân quê tôi: “chết lăng đăng” — xác trắng sáng cả bãi. Bây giờ, không ai dám ăn những con cá ấy vì sợ trúng độc. (Đã từng có nhiều người do liều mạng vì miếng ăn mà bị liệt cơ, mất trí nhớ hoặc tử vong.) Thật ra, những người có học ở quê tôi đều biết thủy triều đỏ là hiện tượng tảo gai, tảo độc nở hoa, phát triển bùng nổ số lượng tế bào làm thay đổi màu nước, số đông u u mê mê còn lại thì cho là điềm trời.

Năm nay, rất lạ là mới tháng ba mà biển đã đột ngột biến màu. Biển như một tấm gương luôn vỡ, vỡ rồi lại lành, lại vỡ… Có vết vỡ trắng xanh ngọt ngào thơ mộng, vết vỡ chiều nay lại đỏ bầm mặn chát tang thương. Tôi là người quen sống trong im lặng, có gì vui cũng chẳng biết chia sẻ với ai, có gì buồn cũng chỉ giữ chặt trong lòng, bởi vậy tôi hay có thói quen nhìn biển, nhìn đến khi nỗi cô đơn (đôi khi là tâm trạng bơ vơ lạc loài) ứ ra cặp mắt, mí trên bắt đầu hực lửa, mí dưới tê nhức vết thương, nhìn mà không còn thấy gì nữa thì lòng vơi nhẹ đi chút ít.

Chiều nay, tôi đang nhìn chết trân ra biển thì cái vùng “điềm trời” trước mắt tự nhiên sống động, những cơn sóng màu đỏ bập ầm ào vào bờ, trườn ì oạp vào bờ cứ ám vào đầu tôi một nỗi sợ hãi âm thầm, nó dự báo điều gì đó như là tai hoạ. Tôi lại liên tưởng đến cái núi gỗ chưng trong nhà tôi, những thớ gỗ cuộn xoắn nối nhau, chồng nhau trườn mình lên đỉnh; thoạt đầu nó là hình ảnh núi thiêng, sau là nạn hồng thủy hủy diệt. Sự huỷ diệt bao giờ cũng ám nhất. Căn nguyên là vì ba tôi đã chết đuối trong cái vũng đỏ “điềm trời” ấy. Tất cả, từ hình ảnh có thật đập vào mắt đến những liên tưởng, cảm giác quyện thành một khối ám ảnh không dứt. Ám đến mức hai chân tôi cứ líu quýu thụt lùi rồi bùng té chạy về nhà như bị ma đuổi.

Tôi lại thấy mình biến thành viên tảo gai nhỏ xíu, đò lòm lòm bơi bơi trong cộng đồng anh em tảo gai ruột rà của mình. Tôi chui vào cả cổ họng chính tôi, tôi lại nghẹt thở, ú ớ. Trong ngôi nhà tam giác, tôi đang ngủ bỗng nhiên giật mình, toàn thân toát mồ hôi lạnh; nền nhà chao nghiêng rồi xoay vòng, nền nhà đảo thành nóc nhà, nóc nhà lại bệt dính sát đất, vẫn xoay, làm như chỉ có xoay tít như con vụ thì nó mới là nó, nó mới đứng được. Thứ gì trái với quy luật đều phải quay tít mới trụ được, ngôi nhà như con vụ, một thứ đồ chơi ngày trẻ. Nhà tam giác, ngôi nhà ba tôi để lại cho tôi — thật ra đó là ngôi nhà tự có từ hơn ba đời nay — mái lợp bằng ngói âm dương hẳn hoi, giờ nó đang chúc đầu xoay tít, ánh sáng qua khe hở loang loáng, ngói rớt ra, có viên bị nghiến vụn lạo xạo ngoài sân, ngói cũng đỏ như màu biển ngoài kia.

Vòng xoay nhanh dần, nhanh dần, tôi lộn tùng phèo trong nó, chóng mặt không thể tả, đầu tôi nặng như một khối chì, não xục xịch va lạch cạch vào xương sọ, người nóng ran mà đầu thì tê lạnh, rồi chẳng biết có sức mạnh nào đó bắn thân thể trần truồng, nhỏ xíu, đỏ lòm lòm của tôi ra khỏi đống mền gối êm ái xung quanh. Tôi sợ hãi hét lên, nhưng tiếng kêu của tôi không vang lên được, nó chìm nghỉm giữa khu vườn im ắng, giữa làng xóm im ắng — làng này ngủ ngày mà, chỉ vài tiếng nói mớ ú ớ đâu đó rồi cũng nhanh chóng lịm tắt. Lăn. Bụi đất, phân trâu bập cả vào răng, vào lưỡi tôi. Lăn mấy vòng nữa, thân tôi mới chịu dừng lại bên cạnh một cái ao nhỏ xíu tanh nồng… Sau này, tôi vẫn còn mãi thắc mắc: là do tôi trong cơn ám ảnh mà cảm giác ngôi nhà mình đang sống thành như vậy hay điều đó là sự thật trăm phần trăm, còn đời sống hàng ngày ăn ngủ… của tôi là mơ. Tôi bây giờ hay có tật nhầm lẫn giữa sự thật và cảm giác.

Nhưng hình ảnh núi gỗ mà từ nó tôi liên tưởng đến nạn hồng thủy thì là chắc chắn, bởi kích thước núi gỗ bằng ngang với thân tôi thôi, sờ thấy mó đụng thì làm sao không thật.

Núi trong nhà. Kì thực ba tôi dùng nó như một siêu hình thể, một thứ đồ chơi tạo cảm giác. Thường khi ngồi ngắm núi gỗ, bắt chước ba tôi, tôi luôn có cảm giác về sự giản dị, song lại có vẻ trang nghiêm, nó giống như trạng thái của trí tuệ — tôi nói giống là vì nó chỉ là cảm giác. Một thoáng chốc nào đó tôi thấy mình như đang ngồi trầm tư mặc tưởng dưới chân núi, cảm giác ấy còn dẫn tôi đi qua đi lại, chắp tay sau lưng, cố nghĩ ngợi về những điều cao thật cao, sâu thật sâu của nhân sinh, nhân bản… Đầu óc tôi lúc đó trống rỗng hoàn toàn, một thứ trống rỗng đáng sợ khi hoàn hồn nghĩ lại (thứ trống rỗng ấy tai họa tiềm tàng cho quá trình nghiền ngẫm về sự vong thân của mình).

Dù sao cảm giác cũng làm tôi mãn nguyện thoáng chốc, thậm chí hoang tưởng về vóc dáng và ý nghĩa vốn chẳng ra sao của mình. Cảm giác, đó là ý nghĩa của thời đại này mà. Trong đời sống lừa mị của ngôi nhà tam giác thì cảm giác chẳng thể định danh một giá trị gì, nhưng nó ít nhiều giúp tôi hạnh phúc, hoặc na ná như niềm hạnh phúc, dù chỉ là trong khoảnh khắc ấy. So với ý nghĩ thực dụng đang phổ biến khắp đầu làng cuối xóm như một hội chứng “hùa theo đám đông” đang tràn lan thì sự tôn vinh cảm giác của cha con tôi cũng không đến nỗi tinh thần hoá nhục cảm quá mức. Thế là như có thêm sức mạnh, tôi moi trong trí nhớ của mình, bắt mình phải nhớ lại cái xuất xứ tình cờ của cái gọi là núi gỗ, một loại tượng-thiên-nhiên đang tồn tại vô cùng nhỏ bé, tầm thường trong căn nhà tôi đây.

Ba tôi vốn là người thích đi tìm phong lan, tìm chứ không phải thưởng thức, gần như ông thích đi vào rừng để che dấu mình vậy. Một chủ nhật nọ, hai cha con tôi rong ruổi trên con đường vào rừng, đôi chân tôi đang di chuyển ngang qua dòng suối cạn, suối cát, suối toàn cát và một ít nước sền sệt, thì chính tôi đã gọi giật ba tôi, đưa tay chỉ vào một khúc rễ đuôi chuột khổng lồ trơ ra bên cạnh lòng suối. Biết bao mùa nước lũ đi qua, cái rễ chuột ngắn cũn, to nù ấy đã rụng hết phần giác gỗ, xớ gỗ cuồn cuộn như những đợt sóng trào dâng, như Thủy Tinh đánh Sơn Tinh trong ngày sau cuối. Ám. Ma lực. Một thứ gì đó không bình thường. Một vật thể hút chặt tia mắt tôi, tôi bị nó nuốt trọng, tôi chỉ còn cái xác bị thôi miên trước nó.

Ba tôi bước lại ngắm nghía một hồi lâu, ông chợt siết mạnh tay tôi, thì thầm: “Có tác phẩm rồi, cái rễ cây mục nhưng lật ngược lại nó sẽ là một khối núi sừng sững.” Thế là chúng tôi hì hục cưa đục, hì hụi lật ngược, hết xoay người xung quanh ngắm nghía lại lăn lê bò toài tạo tác “cái núi non” ấy. Mới đầu cũng vất vả vì phải gột bỏ hết những phần dơ dáy thừa thẹo trên cơ thể nó, phải đánh bóng, phải đắp, vớt cho đường nét không còn vụng gẫy và phải đặt cho nó một cái tên, cái tên dễ nhớ, gợi ám, một cái tên vật mà người ta có thể gọi thay cho tên người đã làm ra nó. Bàn kiểu gì thì cha con tôi cũng quay lại cái tên “Núi gỗ” như ban đầu đã định. Tóm lại là lột xác, biến con vịt thô thành thiên nga lộng lẫy, cái rễ chuột trở thành Núi gỗ, việc làm ấy gọi là một cuộc chơi đúng nghĩa.

Ba tôi nói “Đây là vật cẩn trạch rất tốt.” Tôi chẳng biết cẩn trạch là gì nhưng nhìn nó tôi lại nhớ đến ông, nhớ đến hai tiếng “cẩn thận” mà ông thường dùng rất hiệu quả. Cẩn thận. Cẩn trạch… Tôi lại cảm giác về những con chữ ấy, chúng gần gũi nhau mà lại quá xa nhau về ngữ nghĩa… Ít nhiều gì thì suốt thời thơ ấu tôi vẫn hằng cảm giác ba mình là một khối núi cao mà chung quanh nhiều người phải ngước cổ ngưỡng vọng, nhất là trong tôi, không một chút hoài nghi, dù thoáng qua.

Từ nhỏ, mỗi khi bước ra khỏi nhà, ba tôi luôn nhắc: “Cẩn thận nha con!” Đến lúc cằm tôi lún phún râu, mỗi khi xỏ đôi giày là y như rằng ba tôi xuất hiện cũng với lời nhắc nhở “cẩn thận!” Cẩn thận nghĩ, cẩn thận làm, cẩn thận đi đứng nói cười… Suốt đời tôi luôn bị nhắc nhở phải cẩn thận. Vậy mà ba tôi không còn nữa tôi đã lập tức phản lại ngay, tôi lại phải tự nhắc mình “không cẩn thận nữa, cẩn thận là thừa,” tôi khát khao nắng gió, khát khao mất trật tự, thậm chí là sự bừa ẩu nữa. Trong một thế giới giả thật lẫn lộn, con người ta phải thường xuyên rụt cổ lại như một con rùa trong mùa cháy rừng, rụt vào rồi lú ra, lú ra rồi rụt vào, con-rùa-người-tôi luôn bị hai tiếng “cẩn thận” in lằn vết tích trong đầu. Mệt mỏi. Chán. Đàng hoàng quá, nghiêm túc quá, sạch sẽ quá, đạo mạo quá, khuôn phép quá, đao to búa lớn quá, lí tưởng quá, trong khi tôi bây giờ không đứng ở vị trí ba tôi từng đứng, không có ai ngưỡng vọng tôi cả, đôi lúc tôi phát hiện mình đang mất dần cuộc sống của một con người, nó gần giống nhưng không phải cuộc sống. Tôi mất dần đi mọi hứng thú, đến tất cả các cơ hội đều trở về cái đích lo hãi. Thậm chí tôi còn hận cái cách “toàn trị” của ba tôi. Tôi chỉ còn biết tìm sự an ủi ở lương tâm trong sạch của mình, một lương tâm xanh xao dưới tầng hầm gọi tên là “cẩn thận”; nơi âm u mộ địa ấy, chỉ tồn tại một loại người vong thân là tôi, như tôi mà thôi.

Tôi chẳng biết nhắm mắt đưa chân có chạm tới một sự thật nào không, tôi có gặp được “cái bụng” đẻ ra tôi không? Nhiều đêm tôi đã mơ thấy người ấy trong dáng nét sáng trưng rực rỡ, bà âu yếm nhìn tôi, tôi sà vào lòng bà hít lấy hít để mùi da thịt nồng ấm của một người mẹ mà tôi hằng khát khao, tôi thèm biết bao lời ru ngọt ngào dịu êm của người mẹ. Mỗi khi biển đỏ lòm lòm như máu huyết đổ ra lai láng ngoài kia là tôi lại khát khao đi tìm mẹ. Tôi quyết đi, ra sao thì ra, quyết thoát khỏi một thằng bé lớn tuổi, một cậu chàng lâu năm bị quy định, đóng khung, quyết lấy giấc mơ làm khởi điểm.

Ba tôi đúng là ông cụ độc thân, là người cẩn thận, sợ hãi đến già, nên mãi đến cái lần cuối cùng đi lấy phong lan với tôi trong rừng, ông mới thều thào nói với tôi sự thật về việc thuê bụng đẻ ra tôi. Không biết ông có biết trước tai nạn sẽ đến với mình không, nhưng với tôi, sau này nhớ lại, tôi nghĩ đó là lời trăn trối. Người đàn bà cho thuê bụng ấy hiện giờ ở đâu, làm gì, có lần nào nhớ đến tôi không? Tại sao người mang nặng bào thai chín tháng mười ngày, người oặn mình đau đớn trong cơn vượt cạn lại không có quyền làm mẹ tôi? Càng sống nhiều năm tôi càng nhận ra mình biết quá ít những điều xảy ra trong thời gian định mệnh của mình.

Thật ra ba tôi cũng có người vợ hẳn hoi, rất hiền dịu nữa là đằng khác, nhưng chỉ vì cái tội sợ sinh con (cả thời đại sợ sinh con chứ chẳng phải riêng gì bà) mà sau chín lần cẩn thận phá nạo thai (qua thời kì bao cấp nghèo khổ cơ cực), khi cần có một đứa con thì bà lại không có khả năng sinh nở nữa; cơ thể bà, chỗ lẽ ra nhạy cảm nhất ấy thì giờ đã mất cảm giác, chỉ như một khối thịt trơ lạnh. Tôi làm sao trách được ba tôi, cũng như tôi, trong hoàn cảnh của ông, hai tiếng “cẩn thận” là một mệnh lệnh, có lẽ cũng là tù ngục như tôi, ông và tôi cùng ở tù trong hai tiếng “cẩn thận.” Ông sợ tôi đau lòng hay đơn giản chỉ vì ông muốn nghĩ tôi là con ông, của ông, chỉ của mình ông, ông không muốn xáo trộn, khuấy lên, lật nhào niềm tin. Cũng có thể (tôi nói điều này không có cơ sở vết tích gì, chỉ là phán đoán) ba tôi đã lấy tôi làm người thí nghiệm về một thứ đạo đức nguyên sơ nào cũng nên?

Ba tôi qua đời, tôi quyết tâm đi tìm “cái bụng” đẻ ra tôi, tôi không biết gọi người ấy là gì. Lần theo những sợi chỉ mong manh, những tơ vò rối rắm, không chút hơi người, không một địa chỉ, chỉ là cái tên giữa muôn vàn cái tên giống nhau của những người đàn bà Việt. Ba tôi nói đó là người tóc nâu thô, mắt sâu, mặt lúc nào cũng ngửa lên trời, sắc thái sầu thảm. Đàn bà xứ Việt hầu như là vậy cả, làm sao tôi tìm được “cái bụng” đẻ ra mình giữa muôn vàn khuôn mặt ngửa lên trời ấy đây? Tôi đưa đẩy bước chân, lân la dò hỏi, càng lúc càng thấy “cái bụng” ấy xa xôi vời vợi. Tâm hồn trống rỗng trở về, tôi lại gục đầu lao về căn nhà tam giác.

Cho đến một hôm, tôi gặp lại người hàng xóm cũ của ngôi nhà tự của tôi và khu vườn nhốt chó. Người ấy chỉ cho tôi đường về phố núi xa xôi, nơi “cái bụng” ấy đang âm thầm đắp đỗi tuổi già, nuôi người chồng gẫy liệt hai chân bằng cái gánh chuối toòng teng, bán dạo. Dưới hàng đèn thị trấn vàng chạch, một loại đèn chống sương mù, tôi đã lặng người nhìn hình ảnh ấy, hình ảnh người đẻ ra tôi, lần đầu tiên sau nhiều năm tìm kiếm, sau nhiều năm tưởng chừng vô vọng, tôi được mục kích một thực thể tối sầm chứ không sáng trưng rực rỡ như trong giấc mơ tôi. Hai gối tôi bủn rủn, tôi sụp xuống lặng im.

Ngày gặp lại, tay chân bà run rẩy, đôi mắt sâu khấp khởi loé lên tia sáng hiếm hoi giữa sầu đục kéo dài. Bà đặt gánh chuối bên vệ đường, lại ngửa cổ lên trời, một chút ánh bạc xót xa lem lem đôi mắt làm bà bối rối dụi chùi. Quay mặt đi! Bà chỉ là “cái bụng,” bà không có quyền dính tới thân phận tôi, không có quyền khóc cho ngày gặp lại, không được quyền nhớ đến cái sinh linh mà mình mang nặng đẻ đau. Đó là một cam kết. Người dân đen không biết phản bội lời cam kết.

Bà lại ngồi lặng câm, mắt lại sầu đục, thân hình co lại như một sinh vật cô đơn đã ngàn năm, như một bức tượng chết lạnh. Tôi hỏi gì bà cũng lắc đầu, lắc đầu mà nước mắt cứ lan trên má.

“Mày sinh mổ con à. Ông ta nói ‘Để giữ cho Niết bàn tinh khiết từ đầu, phần đời còn lại của tôi sẽ ra sức giữ nó tinh khiết.’ Giờ, tao cũng chẳng biết ông ta muốn gì, có thể chỉ là cái cách dụ khị thằng Tèo Chó tao thôi. Niết bàn tinh khiết cái con mẹ nó! Địa ngục ói mửa thì có. Trong cái ‘xưởng đẻ’ đó, mấy bà chửa quây chiếu ngồi ỉa đái nhan nhản trước mặt mọi người, mùi bốc lên nồng nặc, khai rình. Bao nhiêu sinh linh ra đời trên bãi cứt ấy. Hỏng biết đời mày có là cõi Niết bàn không, nhưng đời vợ chồng tao là địa ngục khốn khổ, khốn nạn lắm con à.”

“Ba chục triệu được không ạ?”

“Tôi không tiếc gì với anh chị cả nhưng hai chục thôi.”

Cuộc mặc cả với “cái bụng,” câu chuyện của người đàn ông què kể lại làm đau trái tim tôi quá đỗi. Chỉ có cõi niết bàn duy nhất của con người là lúc trước khi sinh, lúc còn trong bụng mẹ; một đời từng trải chốn quan trường, ba tôi mới đúc kết được nhận định “lớn lao” ấy sao? Câu chuyện của người đàn ông què đột ngột đánh sụp khối núi cảm giác, khối núi thần tượng, vốn là nơi thờ kính của tôi.

 

* * *

 

… “Anh chị nói xem tôi phải trả bao nhiêu?”

“Ba chục triệu được không ạ?”

“Tôi không tiếc gì với anh chị cả nhưng hai chục thôi.”

“Ông cho bao nhiêu hay bấy nhiêu.”

“Nếu phát hiện thai bị tật?”

“Quái thai, cắt hợp đồng thôi ạ.”

“Nếu sinh đôi sinh ba?”

“Ông cho thêm hai triệu, sinh đôi; ba triệu, sinh ba.”

“Hai triệu cho các trường hợp là được rồi.”

“… Cũng được.”

“Nếu không cấn thai?”

“Coi như không có gì.”

“Con trai sẽ được thưởng thêm. Thoả thuận vậy nhé!”

“Cũng được ạ.”

Được chớ sao lại cũng được?! Ta làm giấy hay cam đoan bằng miệng?”

“Dạ… sao cũng được.”

… Cần gì phải giấy má, tôi làm sao quên được lời nào trong cuộc mặc cả với “cái bụng” của vợ tôi. Cho thuê bụng. Đẻ mướn. Chỉ có cái thằng Tèo Chó tôi mới cho mướn vợ như thế, gọi là bần cùng sinh ra cái chuyện kiếm tiền trời đánh thánh đâm này. Thoạt đầu, vợ chồng tôi cứ nghĩ chuyện chẳng có gì, tôi ôm vợ tôi an ủi: “Em ráng chịu đựng chín tháng mười ngày là xong. Nếu không, cả đời mình làm sao trả hết nợ được?” Tôi còn nghĩ: Cuộc sống của chúng tôi quả là hên, nó cho chúng tôi cả những đớn đau, những vết thương mang theo vào trong giấc ngủ, mang theo cả xuống mồ, nhưng chưa bao giờ khiến chúng tôi phải tuyệt vọng. Ngay khi thiếu thốn nợ nần làm cho chúng tôi tưởng chừng bế tắc thì “vị cứu tinh” lại hiện ra. Nghe đâu ông ta là một cán bộ ở tận đẩu đâu mới về hưu. Ông về ở căn nhà tự gần chỗ chúng tôi. Nguyên thời gian đầu, ông chỉ ra khỏi nhà vào lúc sáng sớm cùng với chiếc xe đạp sườn ngang, ông đạp vòng đâu đó rồi vòng về ngồi uống trà cạnh hòn non bộ trước nhà. Sau, tôi thường thấy ông lui cui suốt ngày bên những giò lan lủng lẳng, lúc thì quấn dây kẽm, lúc cắt cắt xén xén, lúc lại ngắm ngắm nghía nghía; có lúc tôi thấy cặp mắt ông thẫn thờ nhìn xa xăm rồi thở ra đánh thượt một cái. Thường, làm quan đến cỡ đó thì xe đưa xe đón dữ lắm nhưng ông này lại không, chỉ chiếc xe đạp và những chậu kiểng nho nhỏ. Riêng cái lối sống dung dị ấy thôi cũng đã làm cho vợ chồng tôi nể ông ra mặt. Có người nói “Ổng làm quan, sống hắc ám với cấp dưới, với mọi người nên khi về hưu chẳng ma nào thèm dòm tới,” là họ nói vậy nhưng vợ chồng tôi vẫn nể. Tôi mon men đến làm quen, rồi thường ngồi uống trà cùng ông; thật ra, tôi cũng rất ngại, phần vì mình ở tầng lớp dân đen, phần vì cái tên Tèo Chó của mình, nghe nó vừa hèn kém lại vừa gớm ghiếc. Vậy mà lạ, vợ chồng tôi lại được gần gũi ông.

Có lần ông tâm sự với tôi: “Cái nghề làm quan cũng như hành nghề tu vậy đó: tu chùa, tu chợ, tu triều đình… tu kiểu gì thì cũng là nghề tu.” Tôi chẳng hiểu ý ông muốn nói gì, tu mà gọi là nghề sao? Ở quê tôi, chắc là mấy ông áo vàng tụng kinh gõ mõ rào rào cả ngày cả đêm, mấy ông làu làu kinh Phật, chủ yếu để nhận tiền cúng dường, mà chẳng hiểu mình đọc gì, thì đích danh là hành nghề tu rồi. Còn tu triều đình là sao? Dân đen bé mọn như tôi làm sao hiểu nổi. Vậy mà chẳng biết từ lúc nào, cứ sáng sớm, là tôi phải lọ dọ qua sân nhà ông, nghe ông nói chuyện tu triều đình rồi làm một ngụm trà cho ‘thơm râu’ mới về buộc cái rọ sắt lên chiếc xe đạp lọc cọc đạp đi mua chó, làm như bị nghiện vậy.

Tôi kể cho ông nghe chuyện chúng tôi chẳng còn gì để mất, nhà cửa thì bị chính quyền địa phương bức mua với giá rẻ rồi bán lại cho công ty tư nhân. Thoạt đầu chúng tôi kiên quyết không chịu dỡ nhà, sau, vì có cả công an xuống cưỡng chế nên chúng tôi đành chịu ký vào “giấy bán” rồi đùm túm về ở ké khu vườn của người bà con, được một người quen chỉ cho nghề mua chó và từ đó dân ở đây ai cũng gọi tôi là Tèo Chó, còn khu vườn là vườn nhốt chó. Tôi hỏi trường hợp ông ở vào cảnh của tôi thì ông có chịu nổi không?

… Sau một tháng chống lại lệnh “quy hoạch,” tôi cầm cây rựa giơ cao, tuyên bố “Thằng nào giỏi thì vào đây dỡ nhà! Tao chặt rồi tao cũng tự sát, tao chẳng thiết sống nữa. Tèo Chó này nói là làm.” Lúc đầu, tôi nói cứng vậy, tưởng họ ngán, ai dè họ chở tới đặt trước nhà tôi hai cái hòm đỏ lói. Họ không nói không rằng gì nhưng xe ủi, xe xúc, công an càng lúc càng đông, tôi biết ý họ là hai cái hòm đó dành cho hai vợ chồng tôi. Vợ tôi thấy hai cái hòm liền khóc thét lên rồi rũ rượi tay chân ngất xỉu, mặt không còn chút máu. Người tôi toát mồ hôi lạnh, tôi vội vàng xuống nước, sụp lạy như tế sao, “Xin các đồng chí từ từ cho tôi dọn nhà!”

Từ đó, chúng tôi bắt đầu đi gõ cửa khắp nơi để kiện tụng. Từ nghề mua chó tôi chuyển sang nghề đi kiện, nhưng vẫn không kết quả, bao nhiêu tiền bạc, chó chiếc đã đội nón ra đi sạch sẽ. Trên thì cao siêu, dưới thì sơ đẳng. Không cánh cửa nào mở cho tôi. “Được rồi, tôi sẽ giúp anh chị làm đơn khiếu nại đúng nơi đúng chỗ, nhưng anh chị phải bình tĩnh chờ đợi, tạm quên cái kí ức thê thảm ấy đi.” Ngày vừa nói chuyện với ông về, vợ chồng tôi mừng rỡ ôm nhau khóc. Vợ tôi nói trong nước mắt đẫm ướt: “Trời để mắt tới mình rồi! Khổ mãi ai chịu nổi.”

“Khổ mãi ai chịu nổi,” tôi thì thào nhắc lại lời vợ rồi trong bụng cũng thật tin như vậy. Nhưng mãi mãi “đó là nói, đó là hứa.”

Biết chúng tôi cùng quẫn, chó bây giờ bị bắt trộm gần hết, tôi đạp rạc chân cả ngày, mua được con chó kiếm chục ngàn là khó khăn lắm, ông cho chúng tôi mượn tiền không lấy lãi để trang trải các khoản nợ nần. Mỗi lần đưa tiền ông chỉ ghi vào sổ rồi nói vợ chồng tôi ký vào. Ngày lại ngày, những trang sổ nợ dày hẳn lên…

Cho đến một ngày, sáng sớm, tôi sang nghe ông nói chuyện nghề tu và uống ngụm trà cho “thơm râu,” ông niềm nở với tôi ra mặt rồi khe khẽ bảo về gọi vợ sang. Ông nói: “Tôi nhiều năm ở triều đình rồi, tôi biết Niết bàn là thứ gần như không tưởng, anh chị hãy hợp tác với tôi để tạo ra một ‘Niết bàn kiểu mới,’ tôi, chỉ có tôi mới làm được.” Vợ chồng tôi ngơ ngác nhìn nhau trước những điều cao siêu ông vừa nói. Ông lại nói tiếp: “Anh chị mắc nợ tôi bao nhiêu rồi nhỉ?” Vợ chồng tôi lại ngơ ngác nhìn nhau. “Phải hợp tác để tạo ra một Niết bàn! Khi con người đã ra đời tức là đã bước chân vào cái bụi bặm ô uế. Tôi sẽ giáo dục, ngăn ngừa, giữ gìn cẩn thận từ trong trứng nước để cái mẫu ‘niết bàn’ của chúng ta không bị nhiễm bụi trần. Chỉ có tôi mới có thể làm được việc đó. Anh chị có hiểu tôi nói gì không?” “Con không hiểu,” vợ tôi thật thà trả lời. Ông giải thích cặn kẽ từng lời từng ý rồi dẫn đến cuộc mặc cả “cái bụng” của vợ tôi như đã kể. Trong các điều kiện ông đưa ra, còn một điều này nữa là câu nói vói thêm: “Khi sinh xong anh chị phải đi thật xa để đứa bé không còn biết đến anh chị nữa, chi phí chuyến đi tôi lo cho, anh chị không phải bận lòng, tôi sẽ mướn người nuôi đứa bé.”

Vợ chồng tôi tái tê nhìn nhau nhưng vẫn một mực tin vào sự sắp xếp của ông, mà chúng tôi đâu có quyền chọn lựa, con nợ là vậy đó.

Hôm nay là ngày hẹn, vợ tôi phải một mình sang nhà ông ta. Mấy ngày qua, Tèo Chó tôi đạp xe cật lực đi khắp hang cùng ngõ hẻm, nhưng không hiểu sao tôi chẳng buồn rao “Báááán… chó đi!” như thường ngày. Tôi ngấm ngầm thoả thuận với chính mình: “ngày đó” tôi sẽ đi thật xa hay là làm một công việc gì thật nặng nhọc để quên. Từ sáng sớm, tôi định đạp xe đi mua chó tận làng bên nhưng rồi lại vác rựa ra bụi tre, tôi lao vào chặt điên cuồng. Những cây tre thẳng đuột đứt gốc chết đứng nhưng vẫn không ngã xuống. Tôi ôm gốc kéo mạnh vẫn không nhích được đoạn nào, ngọn tre mắc cứng vào thân cây xoài bên trên. Tôi cầm rựa leo lên ngọn xoài, gió giật mạnh, bỗng nhiên run bần bật, nhưng rồi chợt đanh lại, tôi chẳng biết sợ nữa, dù đây là lần đầu tôi leo cao như vậy. “Hôm nay là ngày hẹn,” những lời ấy bóp cứng đầu óc tôi. Trước mắt tôi cứ chập chờn hình ảnh giường chiếu. Tay chân tôi cứng đơ, người rút lại không tài nào tụt xuống được. Tự dưng lại hành khổ mình, ông ta đức độ vậy, chắc không đến nỗi nào làm vợ tôi đau đớn, tôi không hình dung được việc ăn ngủ với người “đức độ” có khác không, nhưng tôi cố xua đuổi thứ bóng đen nặng nề trong đầu mình, trong tim mình. Tôi thì thầm an ủi mình trong khi một cơn gió mạnh giật ngang rát mặt, càng leo lên cao càng thấy gió dữ tợn hơn.

Vợ tôi ăn mặc sạch sẽ hiện ra dưới gốc xoài, nàng đang ngước nhìn tôi, đôi mắt đau đáu không nói thành lời. Đầu tôi như vừa bị ai xuyên một cây sắt nhọn, nhói đau rồi nhanh chóng tê liệt, vùng tê liệt lan nhanh. Tôi ngồi nơi chạc cây xoài mà hình dung mình không còn là Tèo Chó nữa, tôi chỉ như con khỉ trúng thương, chết rồi nhưng tay vẫn điu bám cứng vào cành cây. Vợ tôi định nói gì đó hay làm gì đó cho tôi nhưng thấy tôi chết trân như vậy, nàng không dám động cựa, nàng cúi đầu thật thấp bước qua cái hàng rào dâm bụt. Tim tôi co bóp dữ dội. Cửa căn nhà tự đóng lại. Tôi bàng hoàng khi thấy mình chới với rơi ra khỏi thân cây xoài, đất trời chao đảo một thoáng rồi tất cả đột ngột biến mất. Tôi bay lên như một chiếc lá khô, ngơ ngác, chẳng còn nhớ điều gì, chẳng còn điều gì nhớ nổi nữa. Lạc lõng…

 

* * *

 

Bây giờ, nhìn thấy thuỷ triều đỏ, rồi thủy triều đỏ lại chuyển thành biển cám cặn vàng vàng nâu nâu, mùi bốc lên tanh tưởi, tự dưng tôi lại thấy mình đang bơi trong đám cám cặn ấy, xác những loài tảo gai, tảo độc lại chui vào cổ họng làm tôi không tài nào thở được. Tôi dội đèn. Tôi chết đuối. Xác cá tấp vào bờ trắng hếu, lăng đăng, tôi cũng tấp vào bờ bụng chướng lên hôi thúi. Tôi thấy mình chết y như vụ chết đuối bí ẩn của cha mình cách đây ba năm. Tôi lại thấy mình chắp tay sau lưng đi đi lại lại quanh cái núi gỗ, miệng và tay mổ mổ gật gù, đầu óc ngập những chữ cái vô nghĩa, những chữ cái ai đó vừa chèn nhét nhồi sọ tôi.

Tại sao tôi không gọi “cái bụng” bằng mẹ được nhỉ, phàm người mang thai và sinh ra mình, phải gọi bằng mẹ chứ. Tôi cũng đã cố thử vài lần nhưng sao môi mấp máy miết mà không thành tiếng được, chắc tôi bị cảm giác gây khó khăn. Cũng có thể là tại tôi chưa thật sự thích ứng tinh tế trong căn nhà tam giác, cảm giác của ba tôi, bệnh cảm giác thường ảnh hưởng đến cách hành xử, lúc thì tôi thấy mình như người nhà trời, lúc lại thấy mình dung tục, vong thân, vong ân, vong nghĩa còn tệ mạt hơn đám bã cám, hình ảnh sau cùng của đám tảo gai đã chết. Những lúc lắng tâm, tôi cũng biết trách mình rồi lại thương mình, thậm chí thương cả đám tảo gai tội nghiệp, biển rộng sinh ra chúng, môi trường ô uế làm chúng phát triển bùng nổ tế bào mà tạo ra cái gọi là “thủy triều đỏ” chứ nào phải chúng muốn thế. Cảm giác hết thôi. Cảm giác là ý nghĩa của thời đại này mà.

Tôi lại thấy rõ ràng mình là viên tảo gai vừa từ giã màu đỏ lòm lòm lại chuyển sang màu bã cám. Tôi biết chắc chắn mình đã chết. Chết thật.

… Có gai trên óc là con cá ngạnh
Đủ vi đủ cánh là con cá chuồn
Dắt nhau vô buồng là con cá ngộ
Ăn cây lót ổ là con cá chim…

Tôi say sưa lặp lại những lời ngây thơ, ngây thơ cũng là cảm giác.

“Điềm trời!” Có tiếng ai chợt thảng thốt ngoài kia. Não tôi lại xục xịch trong võ não, tôi lại lộn tùng phèo nữa rồi.

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Hiệp