Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác phẩm, Phê Bình Email bài này

NHÀ VĂN VIỆT-NAM HẢI NGOẠI – Đặng Thơ Thơ


Đặng Thơ Thơ sinh năm 1962, định cư tại Hoa Kỳ năm 1992. Thuộc ban biên tập Hợp Lưu thời 2003-2005, đồng sáng lập tạp chí liên-mạng Da Màu từ tháng 8-2006 với Đỗ Lê Anh Đào và Phùng Nguyễn và là chủ biên đầu tiên của Da Màu từ 2006-2008. Hiện phụ trách sáng tác trên Da Màu.

Tuyển tập truyện ngắn đã xuất bản: Phòng Triển Lãm Mùa Đông (Văn Mới, 2002) và Khả Thể (Người Việt Books, 2014).

*

Tập truyện ngắn Khả Thể gồm hai phần: Phần Một – Khả thể của Mơ: Con Yêu Tinh Thứ 108, Mở Tương Lai, Lịch Sử Nhìn Từ Âm Bản, và Ký Ức của Người Loạn Tính. Phần Hai – Khả thể của Viết: Bản Nháp cho Một Tình Yêu, Người Vợ Khổng Tử và Cô Giáo Nữ Quyền, Lý Lịch Hoang Tưởng của Tôi, Cấy Óc và Đi Tìm Bản Kinh Thánh Cuối.

“Khả thể” được tác giả sử dụng như một ý niệm về cái đang có hoặc có thể hiện hữu, có tính hiện sinh khác đi hoặc như một khả năng sáng tạo với cái đã có nhưng có thể làm lại hoặc làm khác đi.

Phần 1 – Khả thể của Mơ khởi từ đời sống hiện thực, để khuấy nhiễu, với hoài nghi, châm chọc, và có thể khiến hiện thực sẽ không hiển nhiên còn là trung tâm điểm, từ đó phát sinh những khả thể mới cho những đối tượng của mơ.

Con Yêu Tinh Thứ 108: xác họ Hồ hiện hữu nơi công trường và quỷ ma cũng biết sức mạnh vô biên của tôn giáo, của chính trị tuyên truyền. Lăng Hồ Chí Minh dưới con mắt nhà trừ quỷ: “Toàn bộ Lăng là một khối đa giác huyền bí. Mắt nhìn không bao giờ chạm đến đỉnh trần. Ở đây rất khó ước chừng khoảng cách. Ở đây không gian được tạo bằng một chút ánh sáng và rất nhiều bóng tối để xóa mờ những góc cạnh. Ở đây chúng ta được quan sát như chuột trong lồng kính. Tư thế thăm lăng là đi nghiêm thẳng hàng và hai tay buông sát bên hông. Mọi bước đi đều phải đặt trên đường vạch sẵn, nhìn nghe đều giới hạn và tuyệt nhiên không được sờ chạm, không được cử động cánh tay. Ở đây chúng ta không được phép làm gì khác ngoài việc chiêm ngưỡng xác” (tr. 27).

Cứ cho là họ Hồ và cả Nhất Hạnh đều đang bị oan trái, bị oán trả, oán phạt,… Vốn sợ ma quỷ, nhân vật “tôi” vai con ông Hồ thao thức chuyện nên để ông “sống” qua cái xác hay cho biến theo trai đàn: “Thuốc men không cách nào ụa cảm giác này khỏi cơ thể, ụa cái xác ra khỏi ý thức, bời nó đã mãn tính bám vào tôi mấy chục năm nay. Một cách nào đó, tôi đang bị nó ăn thịt. Tôi đã tận dụng những thế lực trong tầm tay để chống chỏi. Nhưng những thế lực quanh tôi đang phản kháng lẫn nhau và nghiền nát tôi trên đường đi của chúng. Tôi phải giải quyết cách nào? – Hoặc cái xác, hoặc tôi. Thế thôi. Nhưng làm sao thủ tiêu được nó? Cái xác này không chỉ là một cái xác, nó là di sản thuộc hàng quốc bảo. Nó đã qua mặt cái xác của Lê Nin. Nó đang cạnh tranh với những xác ướp Ai Cập...” (tr. 25).

“Diễn viên tuồng chèo” là người làm công tác “trai đàn giải oan”, cuối cùng trong mắt “tôi” thì “thiền sư Làng Sen sẽ mãi mãi là một nghi vấn, như chính công án của ông” (tr. 28). Tác giả qua nhân vật “tôi” đã có nhận xét thâm thúy về ông Làng Sen “tránh né điêu luyện. Tung ra những ý tưởng có vẻ cao siêu với chủ ý đánh lạc hướng đối phương là kỹ thuệt cao cường của ông ta. (…) Cứt! Thiền sư Làng Sen không đủ khả năng để giải chính cái công án bịa của ông…” (tr. 21). Ông ta đã được bộ Chính trị của Đảng cho về Việt-Nam sau nghị quyết “nghĩ” rằng “Kinh cầu siêu quả có tác dụng gây ảo giác về hòa hợp hòa giải dân tộc” (tr. 15).

Tính châm biếm chính trị về cái xác hậu thân của biểu tượng liên tục chống đế quốc và chống cả đồng bào “vú sữa” miền Nam, kèm theo chuyện “công án thiền” của một nhà tu ngoài lề cựu phản chiến đã là cái “nhân” (trong nhân quả) gây ra bao cái chết cho cả nước, để cuối cùng qua sáng tạo “con yêu tinh thứ 108”, tác giả đặt câu hỏi cho tương lai Việt Nam. Bộ Chính trị và ông thiền sư ấy không và không thể giải được cái công án do chính họ bày ra, thế thì muốn thực sự giết con yêu tinh, tác giả ngụ ý người nào người nấy phải can đảm nhìn vào chính tấm gương và tự hủy đi phần ma quỷ trong chính mình, nếu không thì cái giá mỗi người phải trả là bằng chính đời sống mình.

Mở Tương Lai như “khả thể của Mơ” – “nằm mơ là đường ngắn nhất để đi tới tương lai”, được viết theo hình thức tự truyện nhưng tháo gút cho các nhân vật và hồn ma hành cử cũng như đến và rời bỏ. Chuyện tình dục tự nhiên và / hay của đồng tính của nhân vật nữ, xảy ra giữa hai thời điểm 30-4-1975 và khi tác giả sáng tác, 2005. Những ngày cận 30-4-1975, bà ngoại, ông Lê (nhà báo Như Phong), mẹ, cậu, chú Thuần, cô Hồng Trang,… khiến yếu tố tự truyện trồi mặt nổi. Hương và “tôi” là trung tâm truyện: “Đêm qua Hương không chịu ngủ, ra đứng ngoài boong tàu, kêu lạnh lắm, và run lập cập. Tôi nói: “Chắc Thơ phải ôm Hương cho Hương đỡ lạnh”. Có thể Hương không thích đụng chạm thân xác. Nhưng sau khi nói vậy, tôi biết Hương sẽ không chống cự, sẽ để tôi ôm, vì đây là cái ôm hứa hẹn không rung cảm. Tôi sẽ tránh không để da thịt mình rung cảm. Người Hương mỏng, tôi ôm mãi, siết chặt mãi mà vẫn không chạm được tới phần xương thịt của Hương. Tôi cứ ôm xiết ôm lỏng một thân thể chơi vơi như vậy, lăn qua lăn lại, giữa khoảng không, như thế suốt đêm” (tr. 41). Rồi thêm một giấc mơ khác trong khi chờ để thoát ra khỏi nước: “Tối hôm ấy tôi nằm mơ thấy Hương đưa cho mình một cuốn truyện. Hương đứng đầu thuyền, bảo: “Truyện này hay lắm, Thơ Thơ phải đọc.” Không khí trong mơ lạnh. Hơi lạnh tỏa buốt đều như trong một căn phòng chạy máy lạnh hết cỡ. Hương nằm xuống sàn thuyền, bảo tôi, giọng nhẹ nhàng kỳ lạ: “Đêm nay sẽ dài lắm, dài hơn tất cả các đêm. Thơ nằm xuống đây đi.” Tôi ngoan ngoãn nằm úp lên người Hương. Con thuyền chòng chành khiến thân thể chúng tôi cọ xát ngoài ý muốn. Tôi nhắm mắt lại, sung sướng chạy khắp người như điện. Lần đầu tiên tôi có cảm giác như vậy với Hương. Tôi biết được sự bất thường của những cảm giác này, ngay lúc đang ôm nhau, ôm thật sát vì Hương luôn miệng rên rỉ: “Lạnh quá, lạnh quá” như nhắc nhở hãy ôm thêm nữa, ôm cho chặt mãi…” (tr. 45). Những ước mơ cho khả thể hiện tại và tương lai! “Vì chúng tôi không chấp nhận cuộc sống trên mảnh đất này, vì đây không phải chỗ của chúng tôi, nên tương lai hầu như dừng lại. Hay tương lai đã bỏ ra đi – về phía có Hương. Hương trong mơ vẫn biết hết những gì đang xảy ra ở đây, xảy ra cho tôi. Nhưng tôi không biết gì về cuộc sống của Hương nữa dù vẫn thấy Hương về. Những giấc mơ ngày càng ngọt ngào hơn, gần gũi âu yếm hơn, khiến tôi lo sợ hơn. Tôi bắt đầu nghi ngờ những giấc mơ đẹp. Đó chỉ là ẩn dụ, là dấu chỉ mù mờ… Tôi không tin, nhưng tôi sẽ ráng để đừng ăn nằm với Hương trong giấc ngủ” (tr. 53).

Những ngày hậu 30-4-1975 của một gia đình từng đi sâu vào chính trị, chính trường như nhà tác giả, đã là thời gian địa ngục. Người trong nhà chia nhau cyanide để nếu lỡ mà… Giấc mơ cũng là liều thuốc: “Những giấc mơ về Hương không rõ ràng nữa, dù qua đó tôi biết Hương vẫn còn sống và thỉnh thoảng còn nhớ đến tôi. Nếu Hương vẫn đang theo dõi những giấc mơ của tôi thì Hương sẽ biết tôi đang hoài nghi chúng. Hoài nghi sự xác thực của chúng. Những giấc mơ chỉ mang ý nghĩa nếu chúng có gốc rễ bám vào đời sống. Còn những giấc mơ này (như chúng tôi hôn nhau, rất nhiều đêm như vậy, và lần hôn nào cũng đê mê đắm đuối) thì gốc rễ ở đâu ra? Những lần hôn mê mệt ấy lại dẫn đến những chuyện khác giữa hai cơ thể khiến người tôi bóng bừng rạo rực mỗi lần nhớ lại. Luôn luôn là những câu nói bâng quơ không rõ nghĩa, một tình huống vẩn vơ, rồi bất chợt chúng tôi ngả vào người nhau như thể tình cờ. Có lần tôi thức giấc thấy bụng dưới mình âm ỉ, rồi vỡ tung, rồi cuộn thắt từng cơn ràn rụa. Chẳng lẽ da thịt tôi có thể khao khát đến thế, đến mức tự mình co bóp trong mơ? Tôi mới lớn. Tôi không biết gọi tên nó, chỉ biết nín lặng tận hưởng một cảm giác điếng ngất, vừa sung sướng vừa tội lỗi. Càng tội lỗi lại càng thêm sướng.

Hương không tỏ vẻ gì là biết cả. Một là Hương giả vờ. Hai là những giấc mơ của tôi hoàn toàn vô giá trị. Từ trước đến nay. Vì chúng tôi chưa bao giờ yêu nhau” (tr. 59).

Bất lực trước tương lai vì “Chẳng cách nào thu hẹp đường đến tương lai cả, vì tương lai không trừu tượng. Tương lai cụ thể, đo đếm được, như là không gian và khoảng cách. Khoảng cách của đất và biển địa cầu tôi phải đi bằng chính thân xác mình. Tôi đi chừng nào cho tới? Tôi sẽ đi thuyền, tôi sẽ đi bộ, tôi sẽ nghỉ trong tù, tôi sẽ chuộc tiền để được thả ra và lại đi tiếp tục? Tôi sẽ phải tốn ba mươi năm nữa để đuổi kịp Hương chăng? Tôi sẽ không bao giờ làm được điều ấy! Ba mươi năm đủ để một đứa bé lớn lên, thành người, rồi chết đi mà không cần đến chiến tranh bom đạn. Ba mươi năm đủ để xoá sổ một cuộc đời. Ba mươi năm mất đi là mất mãi” (tr. 62). Tuyệt vọng rồi hy vọng cho 30 năm nữa: “Hương ôm riết tôi trong tay, không chịu buông ra, làm tôi cảm động xiêu lòng. Chúng tôi vừa yêu nhau xong, mệt mỏi, tự nhiên, chẳng băn khoăn gì. Cơn tuyệt sướng đang tràn trề khắp người. Mỗi mạch máu tôi chảy một dòng sông đầy khoái cảm. Người tôi căng tràn nước óc ách. Những chuyển động nước chạy luồn dưới da và rung rẩy liên miên. Tôi nhắm nghiền mắt, mê mệt, không buồn tỉnh dậy nữa. Chưa bao giờ tôi ngủ ngon như thế. Ngủ như chưa hề ngủ suốt một đời.

Hương ôm tôi, lay tôi thức lại. Hương lắc lắc, như tôi là một con búp bê bằng vải mềm oặt. Hương nói hãy cố mà sống, đừng tuyệt vọng. Một ngày nào đó tất cả sẽ đảo ngược như hiện tại đang đảo ngược. Ba mươi năm nữa thôi” (tr. 62-3).

Cô Ngô Thị Hồng Trang của Hội Việt Mỹ đã chết khi vượt biển, để lại lời nhắn được giữ kín: “Nhưng cái chết tôi không vô nghĩa. Tương lai không có quyền thay đổi một cái chết trong quá khứ. Mọi giá trị sẽ thay đổi. Nhưng giá của cái chết thì khôngTự tử không phải tự giết mình. Đó chỉ là định nghĩa đơn giản nhất và lừa dối nhất.” (tr. 65). Cô đã không tự tử mà như đưa đầu vào cái Chết: “Tương lai không có quyền thay đổi một cái chết trong quá khứ. Mọi giá trị sẽ thay đổi. Nhưng giá của cái chết thì không” (tr. 65).

Phải chăng tình yêu của “tôi” và Nguyễn Hương đồng nghĩa với “tự tử” vì “tự tử, cũng như nằm mơ là cử chỉ của hy vọng vào những điều chưa biết. Nó còn là dấu thánh đóng lên mình những linh hồn miễn nhiễm đời đời … Vì tự tử là đủ thứ khác nhau, mỗi người nhìn một cách khác nhau, khó hiểu như đời sống” (tr. 66).

– Lịch Sử Nhìn Từ Âm Bản nhìn ngược lịch sử, ký ức về biến cố 30-4-1975 và những người miền Nam đã tuẫn tiết ngay sau biến cố, hay sau đó tự sát và chết trong lao tù, cũng như những người lính của cả hai bên đã hy sinh trong cuộc chiến. Một thứ lịch sử tâm thức qua đó các thế hệ tương lai cần biết về những gian xảo của chế độ toàn trị độc tài Cộng sản, về những sự thật bị che đậy và xuyên tạc, về “bịa sử” xảo trá về anh hùng và thù địch của “tổ quốc”: “Chúng tôi đã vượt qua biên giới. Đất nước trải rộng trước mắt chúng tôi như cuốn phim chiếu lên màn trời: Đoàn xe băng ngang những giao thông hào, những đồi kẽm gai, những bãi mìn xương trắng. Những nấm mồ hoang quanh trại cải tạo. Những xác người phình trương sóng tấp vào bờ. Những căn nhà xiêu dột chỉ còn mẹ già nói chuyện với con trên bàn thờ liệt sĩ. Chúng tôi đi ròng rã nhiều năm, vẫn đang đi tới, đi không ngừng nghỉ. Chúng tôi đi theo dấu máu chảy và máu chúng tôi vẫn đổ ra không thể nào cầm. Máu của chúng tôi phải dư thừa, phải sung mãn, phải đủ để chia đều cho lương tâm thắng trận và danh dự của miền Nam bại trận” (tr. 78). Những âm bản của một “hiện thực” cưỡng ép.

Ký Ức của Người Loạn Tính giữa một sân khấu với nhiều giới tính cùng đồng diễn, có Brandon Teena, Leticia “Larry” King, … nói lên nỗi đau và cái giá phải trả bằng chính mạng sống của những người đổi giới tính: khái niệm giới tính qua bộ phận sinh dục. Leticia bị “bề hội đồng” vì bị đám thảo khấu đó “chỉ muốn rửa sạch một căn bệnh. Nếu chúng bề, chúng đụ, thì hành động bề hay đụ không phải vì khoái lạc, mà vì công lý…” (tr. 93).


Phần 2 – Khả thể của Viết xoay quanh khả-tính của ngôn ngữ và văn bản: những Khả Thể của Viết có thể vượt ra ngoài những hình thức, nội dung, thể loại, cú pháp, một không gian Viết, nơi ranh giới không dễ nhận ra.

Phần Hai-Khả Thể của Viết, mở với Bản Nháp Cho Một Tình Yêu là hai văn bản của một “văn bản” – một loại “bản nháp” mở. Yêu để có kinh nghiệm mà viết, yêu theo lập trình kiểu dàn bài cho một tác phẩm, nhưng không khỏi có những bất ngờ: “Tôi sợ mình sẽ yêu anh mất. Tình yêu bắt đầu trở thành một vấn đề nan giải. Bởi nó không chấp nhận công việc tôi đang làm. Có lúc tôi mong mỏi cho chóng xong câu chuyện. Có lúc tôi sợ hãi ngày kết thúc câu chuyện. Bởi đó cũng là ngày tình yêu tận” (tr. 123). Khi “điều tôi tìm kiếm khao khát bây giờ đã thoả. Tôi thở hắt như vừa bước ra khỏi cơn hoan lạc, nhưng tôi không cảm thấy hoan lạc. Thật ra đó là tiếng thở của một người khác…” – “một người đàn bà ở trong tôi, khác tôi, tự mình tôi không lôi ra được, bây giờ đã thoát đi rồi”. Người nam chỉ là cái cớ, giỏi lắm cũng “chỉ là gõ cửa” lôi người đàn bà trong tôi ra và cũng có thế hơn một lần.

Người Vợ Khổng Tử và Cô Giáo Nữ Quyền – trong đây, nhân vật nam người làm luận án về Nữ quyền, cũng chỉ là cái cớ, còn Vợ Khổng Tử và bao người nữ từ đó sống cái mặc cảm phụ nữ và ám ảnh “trẻ đẹp”. Kinh Lễ nhiều phần trình dạy “cái đẹp bên trong” của phụ nữ. Cái văn hóa phụ quyền ngàn đời nó vậy, ngay trong chữ viết, những cái xấu, bệnh tật đều viết với bộ “nữ”. Nhân vật cô giáo Nữ quyền nhận định rằng“Khái niệm trẻ đẹp cần phải xóa bỏ để có bình đẳng thật sự về giới tính”. Tác giả cảnh giác phái nữ: nhan sắc và tuổi trẻ không nên là tiêu chuẩn để định mức giá trị của người phụ nữ. Truyện này cho thấy cái đa dạng và mở của “khả thể Viết”. Trong truyện viết lần đầu đăng trang damau.org khác ở chỗ nhân vật nam sinh viên xưng “tôi” – trong khi trong sách xuất bản, trở thành “anh, anh ta” tức ở ngoài. Trong truyện xuất bản, Cô Giáo Nữ Quyền xuất ngoại sang Hoa-Kỳ làm “vũ nữ trình diễn show ở Las Vegas. Những điệu vũ hương xa mang phong cách đông phương. Có khi cô múa Thái Cực Kiếm, động tác treo lơ lửng giữa không khí, những vòng tròn lưỡng nghi quay vào vô tận. Có khi cô vũ thoát y và ngâm nga thơ Đường phá luật. Nhưng show ăn khách nhất lại là những màn múa lấy từ Kinh Lễ…” vì phân khoa Phụ Nữ-Giới Tính Học bị “giải tán vì thiếu kinh phí”. Anh chàng sinh viên xong bài luận văn, kết “lấp lửng” như hợp với “tình trạng bấp bênh của những cuộc đấu tranh cho phụ nữ”. Mẫu người nữ như Người Vợ Khổng Tử quá hiện diện, còn “Kinh Lễ tỏa hương đến tận ngàn sau”! Trong truyện ban đầu thì “Tôi bằng lòng với kiểu kết luận lấp lửng này, nó hợp với tình trạng bấp bênh của nữ quyền, trồi sụt như kinh nguyệt, bất ổn như trạng thái tinh thần của đàn bà ốm nghén”. Chàng ta bơ vơ tìm việc, tìm vợ – như người vợ Khổng Tử, và “cũng muốn tìm lại cô giáo. Người vỡ lòng cho tôi. Có lẽ tôi chỉ yêu cô vì cô là người đầu tiên mở hé cánh cửa cho tôi nhìn vào thế giới đàn bà. Cũng có thể tôi hy vọng, cô sẽ giúp tôi trở thành người đàn ông vĩ đại” – trong văn bản xuất bản, “anh ta” không còn như vậy – “thực tế” hơn chăng?

– Lý Lịch Hoang Tưởng Của Tôi: Vượt biển, vượt biên đồng nghĩa với tự tử, ra đi là hết rồi, là chấp nhận không ngày về. Rồi lưu vong cũng là một cách tự tử. Tương tự, qua truyện Lý Lịch Hoang Tưởng Của Tôi, Đặng Thơ Thơ đã dùng ẩn dụ “tự tử” để khai phá những góc cạnh mới, tái tạo những gì đã mất, từ những hiện tượng tưởng đã bị xuyên tạc hoặc xóa nhòa bởi chính trị, thời gian và sự mất tin cậy của ký ức. Mở đầu với cuộc thi viết lý lịch mục đích là “tìm ra một lý lịch hoàn chỉnh và lý tưởng; một lý lịch vừa cá nhân vừa tập thể, một lý lịch vừa công cộng vừa riêng tư (…) Điều phiền phức thường xảy ra là đôi khi các lý lịch nhỏ cộng lại không giống đáp số là lý lịch lớn” (tr. 145). Từ khởi điểm cá thể chỉ là phần tử của một lý lịch chung, mang tính đại diện và rộng lớn hơn, truyện đưa tầm nhìn thông suốt căn cước các cá thể thay vì thói quen nhìn những nét dấu vật lý như màu da, ngôn ngữ, giới tính,…để có được chân dung hiện thực một và nhiều cá nhân. Nhưng không thể có lý lịch vĩnh viễn ở cuộc đời nhiều thăng trầm như của nhân vật “tôi”. Hiện hữu là luôn “vẫn còn đang viết lý lịch và lý lịch của tôi vẫn chưa hoàn chỉnh. Đó là thứ lý lịch thởi hậu hiện đại” (tr. 157).

– Cấy Óc là chuyện Đặng Thơ Thơ viết như một “khả thể Viết” từ những tài liệu, chứng từ, vật chứng… còn khả thể giữ được về Hoàng Đạo, nhà chính trị, cách mạng, tranh đấu cho độc lập cũng là ông ngoại của tác giả. Hoàng Đạo đã bất ngờ mất sớm – cái Chết đến nay vẫn còn tồn nghi, còn vai trò vô tình/cố ý vẫn được người đời xem như đã xong; nay tác giả đi tìm những khả thể từ suy tưởng và không tránh được có đôi chút chủ quan (huyết thống), để chứng minh những khả tín từ nhữngtang vật”, “hồ sơ” của “phòng Nhì” và của thời gian ấy, cũng như từ cái khả thể “Thật” được khai quật trong câu văn và ý tưởng như là một tác giả có sự nghiệp chính trị, xã hội và đã có nhiều điều muốn cải lương, nhắn nhủ người đương thời (cả guồng máy thực dân Pháp đang cai trị Việt-Nam) và hậu thế.

Tác giả khởi đầu với một niềm tin: “Dựng lại một người đã chết là điều khó làm. Vào đúng ngày giỗ năm ngoái của ông ngoại thì tôi nẩy ra ý định dựng lại ông. Ý tưởng này nằm ẩn sâu trong tiềm thức đã lâu, đến ngày giỗ chợt bộc phát như một tai họa không cách nào ngăn cản (…) Ông tôi – tác giả của 5 cuốn sách đã in, của nhiều cuốn sách chưa in, của ngàn bài phóng sự đã đăng báo. Ông tôi – một người dám nói và dám sống theo điều mình nói, đánh đổi ngục tù và cái chết cho lý tưởng, công khai thách đố và chống đối bạo quyền… Một người như vậy xứng đáng được dựng lại nguyên bản, dựng lại theo đúng khuôn mẫu có thật, không chấp nhận một sai sót nào” (tr. 159, 160).

Công việc “dựng lại nguyên bản” tiến hành với việc tìm được “những bài viết chưa hề công bố, chưa được đăng báo, thỉnh thoảng kèm theo ghi chú của ông, viết bằng mực xanh rêu, bút tích sắc và nghiêng, chữ cứng và thoáng”, từ Thư viện quốc gia nơi lưu trữ “óc” của người nổi tiếng: “Chúng tôi rất tự hào đã làm tốt công việc bảo quản những bộ óc của danh nhân nước nhà. Về mặt này chúng tôi làm tốt hơn khâu nhà xác bệnh viện. Bệnh viện là nơi chứa thịt và máu. Còn thư viện là nơi lưu trữ óc, một hình thức tồn tại cao hơn hẳn sự tồn tại của hơi thở và sự sống (…) Việt Nam ta có truyền thống cấy óc như một dạng văn hóa, cũng không cấm đoán việc cấy các phôi thai. Nhưng vì các cuộn não đã nhiễm độc chất cực nặng, tuyệt đối cấm dùng óc này để cấy lên thành óc khác (…)”

Cuối cùng, ẩn số dần làm thay đổi suy nghĩ của người kể: “Người ta có thể chạm vào quá khứ, chạm vào lịch sử, chạm vào bí ẩn. Như cách tôi chạm vào những tờ báo (trong thùng gỗ là một linh hồn bị giam giữ đã lâu – hơn nửa thế kỷ, một linh hồn chống đối và đam mê dữ dội, một linh hồn không chịu khuất phục số mệnh – dù một số mệnh đến sau cái chết). Cho đến lúc đó, tôi vẫn tin rằng chuyện đi ngược thời gian là khả thi. Cũng như việc xây dựng lại người chết là có thể, để cứu vãn một điều đã xảy ra, và xảy ra sai lầm. Nhưng những điều tìm thấy và đọc được sẽ làm thay đổi suy nghĩ của tôi” (tr. 168, 169).

Tác giả và gia đình cuối cùng “xây mộ cho ông, thay thế cho cái mộ bên Tàu đã bị phá hủy. Mộ chỉ là một cái hộp giấy trong đựng mấy quyển sách. Nhưng có mộ vẫn hơn không. Đối với những đứa bé, đây mới chính là mộ thực, đụng chạm được bằng tay và xây dựng bằng chất liệu rất dư thừa: tưởng tượng. Mộ này giá trị hơn những xương cốt mục rã, hơn những bia đá cẩm thạch, hơn những long mạch đế vương. Mộ này là óc, là tinh thần, là linh hồn còn sót lại và còn tươi sống. Chúng tôi xây mộ với hy vọng óc ấy không bị hủy hoại, óc ấy sẽ được cấy lên trong những óc khác, những óc chưa suy tàn, óc của chúng tôi, chẳng hạn” (tr. 186).

Đặng Thơ Thơ tiếp nối công việc giao tiếp tâm thức với tiền nhân với một tham luận đọc trong Hội Thảo Tự Lực Văn Đoàn năm 2013: “Tính Giễu Nhại và Tinh Thần Hậu Hiện Đại trong Những Tác Phẩm Chưa Xuất Bản của Hoàng Đạo” in trong bộ tuyển tập 44 Năm Văn Học Hải Ngoại (San Jose CA: Mở Nguồn, 2019; tập 1, tr. 476-500). Bà công bố những khám phá và cảm nghiệm về các thuộc tính Hậu Hiện Đại trong những sáng tác chưa công bố của Hoàng Đạo – Hậu Tây Du và Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, tính liên văn bản, vận dụng văn hóa đại chúng, và tinh thần giễu nhại – những Cuộc Phỏng Vấn Không Tiền Khoáng Hậu, phóng sự giả hay tiểu thuyết thật? và – Trước Vành Móng Ngựa, khi một thể loại bị đưa ra xử án. Bà đi đến kết luận: “Tương quan giữa HĐ với hiện thực là tương quan của một người am hiểu luật và chất vấn những bất công trong luật pháp. Với tương quan ấy, hình thức diễn đạt thích hợp nhất có lẽ là nhìn và trình bày mọi thứ dưới ánh sáng giễu nhại, đả kích, châm biếm, mỉa mai (…) Tất cả những biện pháp nghệ thuật của Hoàng Đạo là những kỹ thuật để viết tiểu thuyết dù ông đang viết phóng sự, như trong cuốn Trước Vành Móng Ngựa, hay khi ông thực hiện cuộc phỏng vấn tưởng tượng trong Những Cuộc Phỏng Vấn Không Tiền Khoáng Hậu, hay khi ông viết lại một câu chuyện liên văn bản từ văn hóa đại chúng trong trường hợp Hậu Tây Du và Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa. Nói như vậy không có nghĩa là những sáng tác này là những tác phẩm hậu hiện đại. Nhưng với con mắt đã quen nhìn, đọc, và xem hậu hiện đại, chúng ta sẽ phát hiện ra những thuộc tính HHĐ trong những văn bản cũ, như trường hợp cuốn Don Quixote của Cervantes đầu thế kỷ 17 hay Tristram Shandy của Lawrence Sterne vào thế kỷ 18. Cuối cùng, sau một tháng “khai quật” những gì HĐ đã viết từ PH-NN, cho đến lúc này, con người HĐ toàn diện vẫn còn là một tảng băng ngầm, những gì chúng ta biết đến HĐ vẫn chỉ là một lớp băng mỏng trên bề mặt… Tiểu luận này nằm trong nỗ lực khai phá dần tảng băng ngầm ấy” (Sđd, tr. 499, 500).

– Đi Tìm Bản Kinh Thánh Cuối: Nhân vật xưng “Tôi” là người thầy tu dòng Tín Giáo xuất thân từ chủng viện lâu đời nhất thế giới. Tôi là người chép kinh thánh, viết bằng tay, cuốn kinh dầy cộm đi từ Cựu ước đến Tân ước”. “Nhiệm vụ chép kinh ngài [Giáo Chủ] giao phó cho tôi cũng là để kéo dài niềm tin đến tương lai. Trong cái thư viện cổ xưa này, cổ xưa bằng chiều dài lịch sử Đấng Cứu Thế, chúng tôi sẽ quyết định tương lai Tín Giáo, hưng thịnh hay suy vong, thống trị hay phế thải. Những bản kinh cổ mà tôi lưu trữ một ngày kia sẽ tan thành bụi. Chúng cần người chuyển ngữ luôn luôn, nếu không sau này chúng sẽ chỉ là thứ ngôn ngữ chết và như vậy thì niềm tin cũng chết” (tr. 191, 194). “Tôi” đi tìm bản Kinh thánh cuối trải qua kinh nghiệm tâm linh và xác thịt với Ma-ry Ma-đơ-len là “người đàn bà có mình mà không đầu, hoặc có đầu mà không mình, và người đời sau chỉ biết một trong hai thứ.(…) Hành trình của thân xác thì cả thế gian đều biết, nó như một câu chuyện điển hình của một người đàn bà tin Chúa: bắt đầu từ việc bị quỷ ám, lấy nước mắt rửa chân Chúa và lấy tóc lau chân Chúa, chứng kiến Chúa bị hành hình đến khi thấy Chúa sống lại. Rồi thôi. Nàng sẽ mất tích ngay sau đó, sẽ bước ra khỏi kinh thánh và đóng sách lại như chúng ta xập một cánh cửa sau lưng.

Thân hình Ma-ry làm mọi việc đó mà chẳng cần có đầu. Vì cái đầu thật ra không cần thiết. Đầu và thân hình nàng là hai tự thể riêng biệt. Nàng mang thân xác phụ nữ nhưng cái đầu nàng khước từ giới tính.

Vì Giê-su không bị ràng buộc bởi cái nhìn giới tính. Vì giới tính chỉ thuộc về thân xác, nó là ảo ảnh và sẽ tan rữa khi chúng ta ngưng thở về với Chúa. Nhưng đó là lời Chúa, tạ ơn Chúa. Còn trong lời nguyền thì Ma-ry sẽ bị cột chặt vào giới tính của nàng, suốt hai mươi thế kỷ về sau…”. Và “Tôi” đã nghe theo lời Giáo Chủ, “tôi chọn nhục thể, tôi yêu Ma-ry Ma-đơ-len. Tôi yêu nàng từ khi đức Giáo Chủ ra lệnh cho nàng đi làm điếm (…):“Vâng, các anh em, điều này đã rõ. Chính là Ma-ry Ma-đơ-len. Người đàn bà này đã xõa tóc lẳng lơ, đã lấy dầu sáp thơm thoa mình, đã để xác thịt phạm điều cấm kỵ”.

“Ban ngày tôi đọc và biên tập kinh, ban đêm linh hồn tôi lẻn xuống quảng trường gặp Ma-ry” (tr. 199, 201).

Văn bản nguyên thủy có cần phải hồi phục không khi con người đã có đức tin: “Không ai có thể đi tới mà chỉ có thể bước lui. Hình thức di chuyển duy nhất là xoay lưng đi ngược. Thử thách này đòi hỏi lòng tin tuyệt đối. Tôi cũng muốn thử sức nên đã quay lưng lần hồi về lại thế giới cũ. Tôi đi nghịch chiều không gian trong lúc đó thời gian vẫn đang tiếp diễn về phía trước (tôi biết điều này vì tôi vẫn đang già đi), và mọi hiện hữu ở giữa bị kéo dãn đến độ đứt lìa. Khi tôi trở lại chủng viện thì mọi thứ đã gần biến mất. Những cuốn kinh trên căn gác cổ đang trở về hư vô. Chỉ còn lại một bản kinh thánh cuối rách nát nằm chờ lửa liếm trên sàn gỗ. Để cứu vãn nó khỏi chu trình tàn hủy tôi phải học thuộc lòng hết cuốn kinh, tôi phải đọc lui từng chữ một, đọc từ cuối lên đầu, đọc từ sau về trước. Hành trình đọc hết thánh kinh để tìm ra chân lý là sáu ngàn năm đi ngược. Cuối cùng tôi cũng vượt qua được thử thách này” (tr. 219).

*

Khả Thể của Đặng Thơ Thơ theo thiển nghĩ cứ xem như là một tổng-thể sáng tác, có thể

– đọc khởi từ hư vô để đi đến / tìm thấy “khả thể”;

– đọc như một từ chối hiện sinh, hiện tồn để đến hiện thành;

– đọc như một sáng tác chưa thành, độc giả cùng lên đường đi cùng đường với “tác giả”

– mổ xẻ một số giả thuyết/sự việc đã xảy ra mà “tác giả” không tin đã là 100% như vậy (biến cố 30-4-1975, thiền sư làng Sen về Việt-Nam, tư tưởng Hoàng Đạo, v.v.), nên nghiên cứu, tìm hiểu những khía cạnh, chứng liệu khác hoặc “đọc lại”/“lý giải lại” dưới ánh sáng thời đại mới, hoàn cảnh mới, khác (lưu vong, không lệ thuộc một chế độ nào chẳng hạn) và đề nghị những kết luận “khả thể”. Tóm, Đặng Thơ Thơ muốn đi xa hơn, muốn và đã rời bỏ chỗ cư trú an toàn như Nguyên Sa thời thập niên 1960 đã quay trở lại phê phán và từ khước (một số) những cách tân của văn-học ‘hôm nay’ của Sáng Tạo ngay trước đó.

Muốn cách tân còn có nghĩa là phải vượt qua sự có mặt thường trực và trội bật của những bóng ma và cái chết của lịch sử văn-học như hể nói đến thơ là những Xuân Diệu, Nguyên Sa, v.v.; văn thì phải như ông A bà B, v.v. cứ phải xuất hiện để chận tầm nhìn. Rồi nào những ‘gánh nặng’ lịch sử, văn hóa,… Muốn sáng tạo, làm mới, phải ra khỏi những vũng lầy đó! Đặng Thơ Thơ sáng tạo cách khác, tác giả trở về với những bóng ma nhưng ý hướng thì tiên thiên và thường trực muốn tránh bị đè. Chúng tôi tin họ Đặng viết vì nhu cầu… viết và tự cho mình một sứ mạng có thể văn nghệ, có thể chính trị. Rốt cùng thì ngay lịch-sử cũng là sản phẩm của tưởng tượng, của những ‘mode’ tưởng tượng, của những cách cắt nghĩa, viết lại, và thường được nhìn với cặp kính màu. Chính lịch-sử hay văn học sử vẫn luôn được viết lại, nghĩ lại. Như văn học chữ quốc ngữ Việt-Nam từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay vì kỳ thị văn hóa, chính trị, tôn giáo mà đã có những loại “văn học” và “văn học sử” khác nhau, khắc nhau đến độ như đen chọi trắng!

Sáng tạo, viết truyện ở đây là công việc tâm thức và ý chí, cho nên con chữ, kỹ thuật văn chương chỉ là phương tiện. Nghĩ và viết về Hoàng Đạo, vợ Khổng Tử, họ Hồ ở Khả Thể, trở thành một sự suy nghĩ, tra vấn, đưa đẩy đến đối thoại với nhân vật và những vây quanh đồng thời tác giả tự tra hỏi và độc thoại. Các truyện trong Khả Thể hoặc thuần ý niệm hoặc mang tính hiện thực, liên quan đến những vấn nạn của đời sống và lịch sử. Ý niệm thì tự do cấu thành, còn hiện thực thì trở nên đối tượng điều nghiên, đi sâu,… Tác giả tỏ ra cấp bách như bị thôi thúc, khi ngược dòng lịch sử cũng như khi chứng tỏ sáng tạo mang ý thức giới tính kể cả khi muốn phi giới tính.

Thành công của nhà văn, theo tôi là biết cách bỏ rơi độc giả của mình và để cho họ tự xoay sở cả với lý trí cũng như cảm xúc trong trạng huống của truyện.

*

Như vậy, Khả Thể không còn là thể-loại truyện/tiểu thuyết theo cấu trúc nhà trường hoặc thường thấy trước nay, mà rơi vào xu-hướng hậu-hiện-đại. Như Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Lê Thị Thấm Vân, Đỗ Quyên,… Khác các tác giả vừa kể, Đặng Thơ Thơ viết Khả Thể gần với tiểu luận hơn là sáng tác văn chương. Tác giả đã sáng-tác-là-kể-chuyện theo mảnh rời, lý phản nghịch nhau,… Kỹ thuật tìm kiếm đi lùi, lùi-về-quá-khứ, moi móc những thứ mà lịch sử/văn học sử đã xem như xong với những dữ kiện chung điểm hoặc đã hiển nhiên: tìm kiếm ý nghĩa tiềm ẩn, bị giấu nhẹm, tìm kiếm những “khả thể” khác. Nói cách khác, kỹ thuật hậu-hiện-đại không từ bỏ một phương tiện nào kể cả siêu hình, hài-hước, hoài nghi, đi con đường tránh, đi ngã khác, v.v. Xét lại, viết lại OK nhưng hành xử cái hiện tại mới thiết yếu. Quá khứ, tương lai phải có liên hệ tự tại và đi qua hiện tại.

Đi tìm “khả thể” bằng xoay chiều, xoay vòng, đào sâu, khai quật vết tích từng mù mờ gốc gác hoặc lý luận cho ra lẽ do đó cũng là phương cách nghệ thuật và phải là một đảm bảo hoàn toàn thật sự khả tín về sự thật và cho phép lương tâm chúng ta tỉnh thức một cách cụ thể và khách quan trước những gian dối có hệ thống của nền văn hóa vật chất và lợi nhuận. Nếu không có cuộc sống tâm thức này, cái u tối, hèn hạ sẽ tiếp tục con đường của chúng trong ý thức chúng ta.

Cách tân, hậu-hiện-đại theo nghĩa ‘hôm nay’, là đặc điểm cần có cho sinh hoạt văn-chương cũng như cho mọi canh tân: hiện thực, hôm nay về đề tài, về thể loại hình thức, về nội dung và một số nguyên lý (cứu cánh) của chính nền văn-học. Phá bỏ luật thường hay đã quen, viết hoa viết thường, chấm câu hoặc không, pha trộn thể loại, châm biếm bên cạnh lãng mạn, cổ điển nhà trường, khuấy nhiễu, hoài nghi cạnh bộc lộ tâm can, v.v. tức khác, làm khác! Những trường-phái tư tưởng và văn-học Hậu hiện-đại, Hậu thực dân, Tân Hình thức, Tân Tự-do, Nữ quyền, v.v.; tất cả theo thiển nghĩ là những phương tiện tốt cho công việc làm văn-học nghệ thuật, đã và sẽ có những công trình tuyệt vời về nghệ thuật. Với vài tối thiểu của môi trường văn chương hay làm nên! Ngôn-ngữ và kỹ thuật văn-chương trở nên quan trọng, là cái riêng của mỗi tác giả, trong cách kể, cách viết, trong không khí mà tác phẩm tạo nên được! Sức mạnh của bài thơ, bài văn hay tác-phẩm nghệ thuật là ở ý tưởng, mục đích, ở hình-thức, hình ảnh và ở nội dung, sứ điệp được chuyên chở hay nhắm tới. Một tác phẩm thành công theo thiển ý là khi có thể giúp người thưởng ngoạn hiểu biết, yêu mến và thực thi được những lý tưởng Chân Thiện Mỹ trong cuộc đời.

Tính hậu-hiện-đại cũng được hiểu là rời bỏ, là đối chọi với truyền thống, cổ điển, nhưng cái Đẹp thường là phổ quát, như một giá trị ‘bền vững’. Hậu-hiện-đại hóa phải mang nội dung văn hoá (một cách nào đó), chứ không thì sẽ là tân-hoá đa tạp, giả tạo. Nhưng không phải cái gì mới cũng hay và thời gian là vị giám khảo công bằng nhất.

Nói cho cùng, một tác phẩm dù theo cổ điển, lãng mạn, cấu trúc, hiện-đại rồi hậu-hiện-đại, tân-hình-thức, tân-tự-do, nữ-quyền, hậu v.v. đều là tác phẩm nghệ thuật; sống còn, sống mãi với thời gian, thế hệ hay không, lại là một vấn nạn khác!


Nguyễn Vy Khanh – 11-2018

(Nguyễn Vy Khanh. NHÀ VĂN VIỆT-NAM HẢI NGOẠI. San Jose CA: Nhân Ảnh, 2019. Tr. 111 – 124)

bài đã đăng của Nguyễn Vy Khanh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)