Trang chính » Phụ Nữ & Giới Tính, Sáng Tác, Truyện chớp Email bài này

“Sẵn sàng là thượng sách!”*

Woodie Long - 13 women  with 13 purses

13 Người Đàn Bà Mang 13 Cái Ví (13 Women Wearing 13 Purses)
Woodie Long (1942-2009)

 

Mai có rất nhiều sắc, túi, ví, bóp: túi xách có quai dài, ví đeo ngang vai, cặp da như bị mang thư của nhân viên bưu điện hoặc bị đựng dụng cụ y khoa của bác sĩ đến nhà, những cái ví thêu lấp lánh và xinh gọn như hộp chứa giấc mơ cho đêm dạ hội thời con gái, những sắc tay “mệnh phụ” có khóa cài mạ vàng, khóa đóng trạm xà cừ, ví làm bằng vải dệt như thảm Ba Tư, hoặc giống như bị da bowling, những ví da thời trang có nhãn hiệu Chanel, Louis Vuitton, Fendi, Longchamps, Goyard mà Mai đã mua trong những giây phút bốc đồng sau ngày lãnh lương: những cái túi như thuốc phiện làm nàng quên đi mặc cảm di dân, và quá khứ tản cư chỉ nhét được hai bộ quần áo và những thứ cần thiết vào túi vải màu cà trước khi hối hả chạy lên ghe rời Việt Nam.

Mai sưu tầm sắc, túi, ví, bóp như một tên sở khanh, con người lang chạ, hoặc như đế vương mua cung nữ ở những thế giới mà khái niệm thần tiên vẫn là mỹ từ cho sự áp chế. Nàng săn đuổi nhiều sắc, túi, ví, bóp và mua chúng cho bằng được, nhưng sau đó lại thấy chúng quá nhàm chán và sống sượng. Chúng đứng chen chúc trong tủ áo lớn của Mai, một cái tủ áo với diện tích gần bằng một phòng ngủ của dân thành thị. Che phủ bởi những bao vải, bao ny-lông, và được nhồi bằng giấy tisssu mỏng để giữ hình dạng, những sắc, túi, ví, bóp của Mai là những công chúa ngủ trong rừng, trinh trắng nhưng lòe loẹt.

Tuy có rất nhiều sắc, túi, ví, bóp, nhưng thường ngày Mai chỉ đeo một túi vải có hàng chữ “The Metropolitan Museum of Art” tô trắng trên nền vải đen mà nàng mua ở quầy bán lạc-son dưới hầm viện bảo tàng, gọi tắt là The Met, trong một chuyến du lịch đến thành phố Nữu Ước. Đó là một túi vải thanh lịch do chính sự khiêm tốn và thực dụng của nó, mà số đông nghệ sĩ và sinh viên thường chọn để đi cùng với cách trang phục dã chiến nhưng đặc thù của họ: áo thun bó người, quần bò, giầy nhà binh Doc Martens. Mai đã qua thời nổi loạn, nhưng nàng đeo túi vải The Met như một cách đùa ngầm. Túi vải chính là hoán dụ cho viện bảo tàng lớn nhất nhì thế giới, nơi tụ tập những di tích văn hóa, nghệ thuật và lịch sử của nhiều nền văn minh nhân loại.

The Met

Sự chung thủy của Mai đối với cái túi chỉn chu—với dây móc cho chìa khoá xe, ngăn lớn cho laptopipad, hai ngăn nhỏ cho điện thoại di động và kính râm—vẫn không giảm cơn nghiền của Mai tới vô số những sắc, túi, ví, bóp khác.

Mai không nghĩ nàng mâu thuẫn, tuy bản sắc thực tiễn thích cái túi vải The Met của nàng cũng là bản sắc ham muốn vật chất xa hoa và đa diện. Đấy là một bản sắc vừa chân thật vừa dối mình. Nhưng sự dối mình cũng chỉ là bề trái của tâm hồn lãng mạn muốn tìm đến sự thật và cái đẹp vĩnh hằng. Mai chưa cảm thấy thoải mái với bản thân nàng hay thế giới chung quanh nàng, cho nên túi vải The Met của nàng được coi như nhu cầu an ninh tạm thời, trong khi cuộc săn đuổi một cái sắc/túi/ví/bóp tuyệt hảo biểu hiện cho hành trình tìm kiếm một cuộc sống ý nghĩa. Nhưng để có một cuộc sống ý nghĩa, Mai cần phải thu thập mấy cái sắc, túi, ví, bóp như thuốc an thần, để giúp nàng rong ruổi, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, không sợ hãi và luôn luôn sẵn sàng.

Mai nghĩ đến bà Bạch Cúc, mẹ chồng quá cố của nàng. Lúc sinh thời, bà Bạch Cúc thích đi mua những thức ăn bán hạ giá và chất đầy trong tủ lạnh, mọi hốc, khe, chạn trong căn hộ chật chội của bà. Bà Bạch Cúc sống được gần một thế kỷ, và trong cuộc đời dài đầy gian truân này bà đã phải chạy tản cư nhiều lần, từ thôn quê ra thành phố, từ thành phố về thôn quê, từ Bắc vào Nam, từ Nam sang tít bên Mỹ. Đối với bà, thức ăn là sinh tồn, nguồn cội, và hạnh phúc. Như cô bé Alice trong xứ thần tiên đã thành người khổng lồ sau khi ăn miếng bánh lạ, bà Bạch Cúc trở nên to béo qua nhiều năm nấu nướng nuôi chiều chồng, con, bạn bè, và nhu cầu bản thân ăn thật nhiều những món quốc hồn quốc túy ở một nơi xa xứ. Bà Bạch Cúc mất vì bệnh tim, nhưng Mai nghĩ bà chết vì sự nhớ nhà của bà đã lớn bằng cả một đại dương—khi nỗi nhớ nhung này bị vỡ đê ra khỏi cái không gian quá nhỏ bé của bà.

Mai khước từ những lựa chọn của Alice trong xứ thần tiên. Nàng không muốn như Alice uống liều thuốc rồi bị teo quắt để không thể mở cánh cửa bước vào khu vườn thơ mộng. Nàng cũng không muốn ăn miếng bánh lạ để biến thành một quái vật khổng lồ. Trong cách thu thập những sắc, túi, ví, bóp, Mai muốn chúng vừa trống trải vừa tiềm ẩn, vừa vô dụng vừa khả dụng, vừa ở trong, và ngoài thời gian. Sự thu thập là một cách chế ngự không gian và thời gian. Trong cách thu thập, nhưng không dùng những thứ nàng thu thập, Mai cố duy trì sự căng thẳng tuyệt diệu giữa đam mê và viên mãn.

Nhưng dù sao thì Mai cũng không khác bà Bạch Cúc. Cả hai người đàn bà đều sợ hãi hiện thực, quá khứ, và cái chết.

Hoàng Huệ, con gái của Mai, có bản tính dung dị và dễ hòa đồng. Khi ra ngoài, con bé không thích mang sắc, túi, ví, bóp, mà chỉ cầm vỏn vẹn cái điện thoại di động có Apple wallet, và ngăn cao su dán sau gáy điện thoại để cài thẻ căn cước. Con bé có dáng người dong dỏng, nhẹ nhàng và phây phây. Nó đi khắp Nam, Bắc, Đông, Tây, trong và ngoài nước Mỹ. Nhìn con, Mai chợt nhớ đến câu nói của Hamlet: “Cứ nên sẵn sàng là thượng sách!” Mai muốn sở hữu sự tự tin của con gái. Hoàng Huệ có thể chấp nhận mọi sự vì nó biết rõ về nó. Sự hiểu biết này giống như một điệu múa uyển chuyển giữa khái niệm và hành động.

Tuy lúc nào cũng sẵn sàng, nhưng Hoàng Huệ luôn luôn làm mọi người bị bất ngờ. Hai năm trước nó tạm nghỉ học để sang Nepal theo đuổi Phật học Tây tạng và hoạt động trong ngành môi sinh. Năm nay nó muốn sang Hồng kông ủng hộ dân cư tranh đấu cho quyền tự trị.

Thật ra Hoàng Huệ có mặc cảm tội lỗi vì nó đã được sinh ra và lớn lên trong một xã hội tự do, sung túc và dung túng. Nó trở thành một vị “trực thăng cứu độ” mà người bản xứ gọi là helicopter savior —dân làm việc từ thiện bằng cách đổ bộ xuống một nơi bị thiên tai, nghèo khó, đàn áp, phát biểu vài câu, chụp hình đăng trên facebook, instagram, rồi sau đó lại được bốc đi bằng trực thăng hay máy bay để trở về một nơi thoải mái và an toàn hơn. Làm từ thiện như Hoàng Huệ cũng là một cách thu thập và phô trương. Nhưng Mai chưa nhận ra điều này.

Mai nghĩ những nạn nhân duy vật như nàng chỉ là bọn ma đói trong cuộc chiến tiêu hao với định mệnh.

 

Đinh Từ Bích Thúy
Tháng Giêng 2020

 

________________________________________

[*] Hamlet (tranh luận với Horatio): Đừng ngăn tôi. Tôi bất cần những điều mê tín dị đoan. Thượng đế kiểm soát mọi việc trên thế gian–ngay cả cái chết của một con chim sẻ. Tất cả mọi thứ sẽ tuân theo định mệnh. Nếu có điều gì phải xảy ra bây giờ, nó sẽ không xảy ra lúc khác, còn nếu nó không xảy ra lúc khác thì nó sẽ xảy ra bây giờ … cứ nên sẵn sàng là thượng sách. Vì chẳng ai biết mình sẽ để lại gì cho đời, có sao đâu nếu ta phải ra đi sớm hơn kẻ khác. Cứ bình thản. (Hamlet, Màn 5, Cảnh 2).

Hamlet (arguing with Horatio): Not a whit. We defy augury. There’s a special providence in the fall of a sparrow. If it be now, ’tis not to come. If it be not to come, it will be now. If it be not now, yet it will come—the readiness is all. Since no man of aught he leaves knows, what is’t to leave betimes? Let be. (Hamlet, Act V, Scene 2).

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


8 Bình luận »

  • ĐTBT đề cập đến sự sẵn sàng cho ba thế hệ, mỗi thế hệ một cách. “Sẵn sàng” để sống còn. Nhưng thông điệp của truyện không chỉ có thế. Truyện có ba nhân vật. Nhân vật Bạch Cúc tương đối dễ hiểu nhất, có thể tìm thấy nguyên mẫu ở rất nhiều nhân vật ngoài đời trong các sinh hoạt cộng đồng. Nhưng hai nhân vật kia có hơi rắc rối.

    “Mai sưu tầm sắc, túi, ví, bóp như một tên sở khanh, con người lang chạ, hoặc như đế vương mua cung nữ ở những thế giới mà khái niệm thần tiên vẫn là mỹ từ cho sự áp chế.” Một ví von ngộ nghĩnh! Thoát khỏi việc lo lắng miếng ăn hàng ngày nên Mai, thế hệ một rưỡi, có quyền “sở khanh”, có quyền “lang chạ” chăng? Không. Một mặt, “những cái túi như thuốc phiện làm nàng quên đi mặc cảm di dân, và quá khứ tản cư chỉ nhét được hai bộ quần áo và những thứ cần thiết vào túi vải màu cà trước khi hối hả chạy lên ghe rời Việt Nam.” Nhưng mặt khác, “Trong cách thu thập, nhưng không dùng những thứ nàng thu thập, Mai cố duy trì sự căng thẳng tuyệt diệu giữa đam mê và viên mãn.” Mai đúng là dân chơi thứ thiệt!

    Mai là thế hệ một rưỡi, như Đỗ Lê Anh Đào:

    Tôi không còn muốn nhìn lại
    biển hung bạo
    Tôi không còn muốn nghe
    sóng dữ gào
    Tôi không còn muốn nuôi sự căm ghét
    Tôi không còn muốn sống mãi vết thương.
    (trích “Những kẻ sinh trước” của Đỗ Lê Anh Đào)

    Phải chăng chính cảm thức đó khiến cho “Mai nghĩ những nạn nhân duy vật như nàng chỉ là bọn ma đói trong cuộc chiến tiêu hao với định mệnh” vì Mai cũng không khác mấy với thế hệ trước ở chỗ: sợ hãi hiện thực, quá khứ, và cái chết.

    Chỉ có thế hệ thứ 2 (sinh trưởng ở Mỹ) như Hoàng Huệ mới có vẻ như hoàn toàn khác. Thế hệ này không cần “ăn”, không cần “ví”, chỉ cần cái “cell”. Hoàng Huệ có thể chấp nhận mọi sự vì nó biết rõ về nó. “Sự hiểu biết này giống như một điệu múa uyển chuyển giữa khái niệm và hành động.” nghĩa là thoát khỏi “hiện thực, quá khứ và cái chết” như bà nội và mẹ? Dường như không. Tại sao? ĐTBT bảo: “Thật ra Hoàng Huệ có mặc cảm tội lỗi vì nó đã được sinh ra và lớn lên trong một xã hội tự do, sung túc và dung túng.”

    Cả Mai và Hoàng Huệ đều vẫn còn “mặc cảm”. Phải chăng sự tồn tại của “mặc cảm” là cầu nối giữa ba thế hệ?

    Vậy thế hệ sau-Hoàng Huệ thì thế nào? Có lẽ họ chỉ cần những con “chíp” điện tử gắn vào người! Mặc cảm sẽ tự tiêu vong chăng?!

    Trần Hữu Thục

  • Sự liên tưởng trong phiên dịch:

    Ông Schwarzenegger khi làm Thống Đốc California giới văn nghệ hài hước như David Letterman hay trêu là Mr. Kaleefornia. Người Mỹ có người tên là Cathy, cũng có người tên là Katy.

    Người Việt miền Nam nói lẫn lộn các âm s và x, v và d. Trong khi người miền Bắc phát âm các chữ tr và ch, r và d và gi nghe na ná nhau. Ấy là khi nói khi phát âm chứ lúc viết thì căn bản Nam Bắc viết vẫn giống nhau. Sinh sản (không thể viết lộn thành xinh xản), xa xa, rõ ràng, trong trắng, dễ dàng, vương vấn.

    Trở lại sự liên tưởng trong phiên dịch. Dường như người Việt đã cố gắng Việt hóa các trường hợp chuyển âm theo phép hình thanh khi phiên dịch các từ ngoại quốc sang Việt ngữ.

    Savon => xà bông (có bọt như bông)
    Sausage => xúc xích (dài, nối như dây xích)
    Sac => xách tay (xách trên tay)
    Xán lạn 燦爛 rực rỡ => sáng láng (sáng sủa và bóng láng)
    Bình bồng 萍蓬 lục bình và cỏ bồng => bềnh bồng (trôi nổi lềnh bềnh)
    Lung ling 瓏玲 sáng lóng lánh => lấp lánh (ánh sáng ẩn hiện như trốn lánh)

    Cách liên tưởng này trong Việt ngữ tôi thấy là cửa ngõ. Có tính sáng tạo và rất thú vị.

  • Cám ơn nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, độc giả black raccoon, nhà văn Hai Trầu và Đặng Thơ Thơ đã góp ý.

    Có lẽ sự đánh vần dùng “s” thay vì “x” cho chữ “sắc” cũng là một thố lộ có tính cánh Freudian (Freudian slip) từ vô thức của người viết. “Sắc” ở đây vừa là hành trang đựng những vật dụng cần thiết, vừa là nơi tích lũy ký ức (theo ý Đặng Thơ Thơ), và cũng là hoán dụ cho “bản sắc” chăng? Hay “sắc” đây là từ khái niệm “sắc sắc không không” trong Phật Giáo? Có mà không, không mà có, khó lường lắm thay. Trong cuộc sống diễn ra hằng ngày, không ai là có tất cả những hành lý trang bị cũng như không ai là không có gì cả. Lúc viết truyện, tác giả chỉ có hình ảnh của những cái túi, ví, sắc/xắc trong đầu, nhưng chưa/không nghĩ ra hết những ý tưởng liên hệ đến hình ảnh này, nên có lẽ hình ảnh những túi, ví, sắc/xắc cũng là một biểu tượng của vô thức.

  • Hai Trầu says:

    Thử lật vài bộ tự điển và từ điển xưa tìm vài chữ phiên âm theo tiếng Pháp:

    Theo các bộ tự điển và từ điển xưa, tức cái thời cách nay cũng hơn nửa thế kỷ trở lên thì cách phiên âm và viết tiếng Tây ra tiếng Việt thì:

    1/ Theo bộ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Hùinh Tịnh Paulus Của do nhà Imprimerie Rey, Curiol & Cie, Sài Gòn, năm 1895:

    Xách là nắm quai mà nhắc lên, cầm mà dở bổng.
    Cái xách: Đồ dùng mà xách, đồ có quai.

    2/ Theo bộ Việt Nam Tân Từ Điển của Thanh Nghị do nhà Thời Thế xuất bản năm 1951:

    Xách (đông từ): Cầm lòng thòng mà nhắc lên hay mang đi. Ví dụ: Xách giỏ (Porter pendant à la main)

    (danh từ): Bao, bóp nhỏ thường làm bằng da, có người còn gọi cái “bót”. (Porte-feuille, Porte-monnaie),

    Xà-bong, xà-phòng (danh từ): Chất hóa-hợp dầu với oxyt kim loại (Tàu gọi là dưỡng-hóa vật) dùng để giặt rửa cho sạch (Savon).

    Bánh xà-bong : Pain de savon.
    Xà-bong thơm: Savon de toilette.
    Xà–bong đánh răng: Savon dentifrice.
    Xà-lách (danh từ): Rau sống (theo tiếng Pháp salade)
    Xà-lan (danh từ): Tàu lơn không mui, để chở đồ (âm theo tiếng Pháp: Chaland)
    Xà-lúp (danh từ): Tàu nhỏ có tay kéo (âm theo tiếng Pháp: Chaloup)
    Xà-lim (danh từ): Ngục hẹp và tối tăm (âm theo tiếng Pháp: Cellule)
    Xà-lỏn (danh từ): Quần cụt (âm theo tiếng Pháp: Culotte)

    3/ Theo bộ Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ do nhà Khai Trí xuất bản năm 1970:

    (danh từ): Do chữ Tu-ví nói tắt. Còn gọi lá Xắc (Sac) nghĩa là cái bọc đựng tiền xách hay cầm trên tay.
    [Tu-ví (danh từ): Vật đựng đương bằng lá buôn, miệng túm, đáy to, giống như cái túi. Thắt tu-ví: Chỉ hạng người ăn ở rít-róng, xấu bụng với mọi người.]

    Xà-phòng (danh từ), còn gọi xà-bong (savon)
    Xà bong bột
    Xà-bong chén
    Xà-bong sả
    Xà-bong thơm
    Xà-bong thuốc

    Xà-lách (danh từ): Món ăn phụ trong bữa ăn gồm có cải, cà chua, dầu, giấm và muối tiêu trộn chung lại. Thí dụ: Kêu một dĩa xà-lách.(âm theo tiếng Pháp: Salade)

    Xà-lách son (danh từ): Âm theo tiêng Pháp: Cresson):Loại cỏ nhỏ dây dài nếu đất tốt, thuộc họ “Cải”, sống nơi ẩm thấp, ngập nước; cũng trồng được trên liếp cao nhưng cần tưới nước và che nắng luôn; lá kép hoa nhỏ trắng; trong lá có chút ít iod l, trong hột có glucôsit gọi là nasturtiôsit, khi bị thủy-phân với nhiễu tố myrosine thì tiết ra chất phényléthylsénévol; chống nicôtin, trị được bệnh đái đường (Nastursium officinal)

    Xà-ích (danh từ): Người đánh xe ngựa. (âm theo tiếng Pháp: Sais)

    Lạc-xon (tĩnh từ): Ứ đọng, cũ, trưng bày bán rẻ. Ví dụ: Bán lạc-xon (âm theo tiếng Pháp: à la solde) [Cụ Vương Hồng Sển cũng viết “lạc-xon”]

    Ét-xăng (danh từ): Dầu xăng (âm theo tiếng Pháp: Essence)

    Qua vài thí dụ dẫn ra và qua các sách xưa của Nguyễn Hiến Lê, của Vương Hồng Sển, tui hổng thấy các bậc tiền bối chỉ ra cách âm theo tiếng Pháp nhưng các tác giả dường như ngầm đồng ý với nhau là dùng chữ “X” cho các chữ âm từ tiếng Pháp ra nhiều hơn là dùng chữ “S”. Tuy nhiên đôi khi cũng gặp vài chữ như sách bán nơi vỉa hè, bên lề đường gọi là “bán son” (âm theo tiếng Pháp: solde) cụ Vương Hồng Sển ưa viết như vậy trong cuốn Cuốn Sách Và Tôi (Thú Phong Lưu Sót Lại), nhà xuât bản TRẺ, năm 2010 [Di cảo].

    Trân trọng,
    Hai Trầu
    Houston, ngày 11 tháng 02 năm 2020

  • Sac à dos, sac marin

    Ba tôi đi lính, lúc nhỏ tôi vẫn còn nhớ, người lính VNCH có 2 cái sac. Một, là sắc-ca-đô. Hai, là sắc-ma-re.

    Sắc-ca-đô là cái ba lô. Sắc-ma-re to hơn, nó là cái bao vải xanh lính, có dây rút cột túm đầu lại thật chắc.

    Hồi nhỏ chỉ nghe gọi vậy. Hóa ra nó là các danh từ của tiếng Pháp.

    . sac à dos
    backpack [noun] a bag that walkers, people who go on trips, or students carry on their backs; rucksack

    . sac marin
    duffel bag [noun] a large bag with a round bottom, straight sides, and drawstring.

    Tra cứu thêm thì thấy hiện nay các loại sắc này vẫn còn bán thông dụng, mẫu mã mầu mè nhỏ nhắn xinh xắn hơn dành cho dân dụng.

    https://dictionary.cambridge.org/us/dictionary/french-english/sac-a-dos
    https://dictionary.cambridge.org/dictionary/french-english/sac-marin

    https://www.amazon.fr/Coofit-Vintage-Cartable-Scolaire-randonn%C3%A9e/dp/B07KCVLBMS
    https://www.iamfy.co/product/sac-marin-bleu-marine-in-navy-blue

  • BBT Da Màu says:

    Cám ơn nhà thơ Hoàng Xuân Sơn đã lưu ý về cách đánh vần “s/x” cho chữ “sắc/sắc tay” vs. xắc/xách tay” chuyển tự (transliteration) từ tiếng “sac” trong tiếng Pháp.

    (Với các chữ ngoại quốc, có hai cách viết, tùy là chuyển tự hay chuyển âm:
    Chuyển tự: transliteration
    Chuyển âm/ký âm: transcription)

    Đại Tự Điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (nxb Văn Hóa – Thông Tin, VN: 1998) có chữ “xắc” (danh từ) định nghĩa là “túi nhỏ cầm tay hoặc đeo ở vai, thường bằng da, miệng có thể cài kín.” Tự điển này không ghi nguồn ngoại quốc của chữ “xắc.”

    Tự Điển Anh-Việt (Viện Ngôn Ngữ Học VN: 1993) thì dịch “sac” sang tiếng Việt là “túi, bao” nhưng không dùng chữ “sắc,” hay “xắc.”

    BBT cũng tra Tự Điển Viêt ngữ của nxb Khai Trí (trước 1975), thì thấy không có quy tắc rõ ràng giữa x và s khi phiên âm và đánh vần các chữ ngoại quốc. Tuy nhiên x có vẻ thông dụng hơn:
    Thí dụ: xà bông, xà phòng, cũng có thể viết là sà bông (savon)
    Xà lan hay sà lan (chaland)
    Sà lách hay xà lách (salad)
    Xà lim (không có sà lim) (cellude)
    Xà ícn (sais), không có sà ích
    Nhưng là ma sơ, không có ma xơ.

    Tuy vây, chữ sacoche thì trong nước gọi là cái sắc cốt còn trong tự điển Khai Trí thì là cái xà cốt.

    BBT mong đợi được quý độc giả góp ý thêm về quy tắc s/x khi chuyển tự từ các chữ ngoại quốc.

    Trân trọng,

    BBT Da Màu

    • Mộ̀t truyện chớp để lại nhiều suy ngẫm vì sự cô đọng, sâu sắc, và đa tầng trong ngữ nghĩa, trong những ẩn dụ, và câu chuyện của ba thế hệ phụ nữ.

      Tôi thích cách Mai tự quan sát chính cô, nhìn nhận sự phức tạp của hành động sưu tập, sở hữu, và giữ kín như một bí mật. Tuí, ví, sắc/xắc, bóp là người bạn tín cẩn nhất của phụ nữ, chứa đựng những nhu cầu thiết thân của họ, chúng còn là vũ khí giuṕ che đậy những điểm yếu.

      Việc mang túi, bóp, sắc/xắc, ví cũng có thể nhìn như hành trình tích luỹ của người viết, và hành động viết là mở tung các thứ tuí. bóp…, lộn ngược hết ra, phơi bày những vật dụng cá nhân riêng tư.

      Chúng là đời sống nội tâm đang tìm cách định hình, ra bên ngoài.

      Với Mai, đó là những gánh nặng đắt tiền. Vơí bà Bạch Cúc, đó là việc đông đá những mùi vị của ký ức. Với Hoàng Huệ, đó là tâm trạng của cô.

  • Hoàng Xuân Sơn says:

    Dù nguyên ngữ tiếng Pháp là Sac, Việt hóa có lẽ đọc là Xắc, Xách tay hơn là Sắc,Sách tay. Nên chăng?

    Hxs

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)