Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Phụ Nữ & Giới Tính, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

TRÍCH ĐOẠN TRUYỆN DÀI THE PEARL THAT BROKE ITS SHELL (Hạt trai phá vỡ vỏ trai)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 3.01.2020

 

 

517jhlapzsL._SL300_Nadia Hashimi, sinh năm 1977 ở New York, là tác giả của ba cuốn truyện dài và hai cuốn sách nhi đồng. Cha mẹ bà đến Mỹ sau khi du học ở châu Âu, rồi ở lại Mỹ khi Nga Xô Viết xâm chiếm Afghanistan (1979) khiến họ không thể trở về nước. Bà tốt nghiệp và hành nghề bác sĩ nhi khoa từ năm 2008. The Pearl That Broke Its Shell là truyện dài đầu tay của bà, xuất bản vào năm 2014.

The Pearl That Broke Its Shell có hai câu chuyện lồng vào nhau. Một là chuyện của Shekiba cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi, và một của Rahima, sinh ra và lớn lên trong lúc Afghanistan nhiều nhiễu loạn cuối thế kỷ hai mươi, đầu thế kỷ hai mươi mốt. Hai câu chuyện, ngoài liên hệ gia tộc giữa Shekiba và Rahima, còn có một liên kết khác: cả hai Shekiba và Rahima đã từng có thời gian giả trai theo truyền thống bacha posh của Afghanistan. Lý do chính bacha posh hình thành hẳn là do sự quan trọng không thể thiếu của phái nam trong cuộc sống phái nữ theo luật đạo Hồi, diễn dịch và áp dụng trong xã hội Afghanistan. Khi phụ nữ ra ngoài để làm bất cứ việc gì, luôn luôn phải có người đàn ông đi cùng, vì thế những gia đình không có con trai phải xoay sở bằng cách để một cô con gái nhỏ trước tuổi dậy thì giả trai để giúp trong những việc cần phái nam, rồi trở lại là con gái khi đến tuổi dậy thì để đi lấy chồng. Đây là trường hợp của Rahima. Trong trường hợp của Shekiba, bà giả trai khi làm lính gác cho hậu cung của nhà vua.

Shekiba bị bỏng ở mặt khi còn nhỏ, năm mười ba tuổi mẹ và các em mất vì dịch tả rồi mấy năm sau người cha cũng mất vì đau buồn. Không có sự bảo vệ của đàn ông như luật lệ đạo Hồi đòi hỏi, Shekiba bị họ hàng chiếm đất của gia đình bà và bắt bà làm việc như nô lệ, rồi lại dâng bà cho hoàng cung như một món hàng cho vai trò lính gác hậu cung. Tuy Shekiba thích sự tự do khi giả trai, bà nhận ra rằng trong xã hội Hồi giáo ở Afghanistan vào thời của bà, phụ nữ luôn luôn là vật sở hữu của đàn ông cách này hay cách khác, và bà chỉ có thể hy vọng lấy chồng và sinh con trai để mong một cuộc sống tạm gọi là êm ấm. Kế hoạch kết hôn chưa thành, bà lại mắc tội chết khi bị vu oan là có liên hệ trong cuộc ngoại tình của một phi tần trong hậu cung. Phi tần ngoại tình bị xử tử, nhưng không tiết lộ danh tính người tình là thầy dạy hoàng tử. Tránh được tội chết, người ấy cứu Shekiba bằng cách xin cưới bà làm vợ thứ nhì, và tuy cuộc sống hôn nhân không nồng ấm, mấy năm sau bà sanh được một con trai, củng cố được địa vị với chồng, xem như đã hoàn thành ước muốn.

Sinh ra thứ ba trong một gia đình năm con gái, Rahima được mẹ chọn làm bacha posh. Năm cô mười ba tuổi và vẫn đang là bacha posh, Abdul Khaliq, một thủ lĩnh vũ trang địa phương ở tuổi trung niên, đến nhà cô hỏi vợ. Để cưới được Rahima là con gái thứ ba trong gia đình, Abdul thu xếp cho hai người cháu họ của ông cưới hai chị của Rahima, Shahla và Parwin. Rahima trở thành vợ thứ tư của Abdul Khaliq, chịu sự ghen ghét của Shahnaz, vợ thứ ba của Abdul, sự miệt thị của Bradiya, vợ thứ nhất của Abdul, và con trai Hasthmat của bà ta (ngang tuổi với Rahima và đã gặp Rahima khi cô còn là bacha posh), cũng như ngược đãi của mẹ chồng. Abdul Khaliq thì xem Rahima như vật sở hữu, đánh đập cô từ lúc cô mới về. Không lâu sau, Rahima mang thai và sinh con trai. Trong lúc này, người chị Parwin của Rahima tự tử bằng cách tự thiêu, lối thoát duy nhất cô có thể tìm ra trong hoàn cảnh bế tắc của mình. Khala Shaima, chị của mẹ Rahima, người đã kể cho chị em Rahima nghe chuyện của bà kỵ Shekiba của họ, người luôn khuyến khích học vấn của họ, khuyên Rahima tìm lối thoát qua việc phụ giúp Badriya đã được bầu vào quốc hội nhờ thế lực của Abdul Khaliq. Badriya không biết chữ, nên nếu Rahima tình nguyện làm trợ tá cho bà ta, cô sẽ ít bị quản thúc trong nhà hơn. Rahima bắt đầu đi theo Badriya trong những chuyến đi đến Kabul họp quốc hội. Một lần khi Rahima vắng nhà, con trai Jahangir của cô bị bệnh rồi qua đời, một trong những nguyên nhân chính rất có thể là vì mẹ chồng Bibi Gulalai của cô không chịu cho phép mang đứa bé đến bệnh viện. Đau buồn vì mất con, Rahima còn lo sợ cho chính mình, vì cô biết Abdul Khaliq đang rắp ranh cưới vợ mới mà lại không muốn có hơn bốn người vợ (Muhammad, người sáng lập đạo Hồi, có bốn vợ, và nhiều người Hồi giáo cho rằng nên sống rập theo khuôn mẫu cuộc đời của ông), như thế Rahima có thể bị bỏ rơi hoặc thậm chí mất mạng. Sau thời kỳ tang lễ, Rahima trở lại Kabul và tìm cách trốn đi với sự trợ giúp của Sufia và Hamida, hai nữ nghị sĩ cô quen biết, và bà Franklin, giáo sư người Mỹ ở phòng tài liệu và huấn luyện dành riêng cho phụ nữ trong quốc hội. Giả trai với quần áo của Hashmat, Rahima trốn được đến một nhà tạm trú dành cho những phụ nữ cùng cảnh ngộ. Không dám liên lạc với gia đình vì sợ Abdul Khaliq lùng bắt, Rahima chỉ còn cách viết thư thăm hỏi Khala Shaima và ký tên Bibi Shekiba. Nhiều năm sau, cô mới biết được Khala Shaima đã nhận được thư, và có lẽ đã hiểu được lời cô nhắn gửi.



Chương 7

Madar-jan (1) bắt tôi ở nhà một hai tuần, muốn tôi quen chuyện là con trai trước khi để tôi thử ở bên ngoài. Bà chỉnh chị em tôi khi họ gọi tôi là Rahima, và cũng chỉnh mấy đứa em họ chưa bao giờ nhìn thấy bacha posh (2). Chúng chạy về nhà báo tin cho mẹ mình, và họ cười khẩy. Mỗi bà đã sinh cho chồng ít nhất hai con trai để nối dõi, con gái họ không cần làm bacha posh.

Nhưng Madar-jan cứ làm việc của bà, mặc kệ những ánh mắt của họ. Bibi-jan (3) không ưa việc có người trong gia đình phải buộc lòng theo lệ bacha posh.

“Khala-jan (4), mình cần có con trai trong nhà.”

“Con cũng có một đứa như người ta thì tốt hơn không.”

Madar-jan phải ngậm miệng làm thinh cả ngàn lần.

Padar-jan (5) dường như chẳng để ý chuyện biến đổi này. Ông vắng nhà một hai ngày, lúc về đã mệt nhoài. Ông ngồi trong phòng khách mở một phong bì đựng thuốc lá, vo thuốc trong mấy ngón tay, rải vào giấy vấn, mồi lửa và rít một hơi. Làn khói dầy ngọt ngào uốn lượn, phủ quanh mặt quanh đầu ông. Tôi cùng hai chị từ ngoài vào nhà thấy ông ngồi đó. Chúng tôi vội ngừng chân cúi đầu chào ông.

Ông nhìn chúng tôi, rít một hơi thuốc, nheo mắt qua làn khói khi ông nhận ra ba cô con gái của ông có điều gì khang khác.

“Bà ấy đã làm thực rồi đấy.” Ông chỉ nói có thế.

Khala Shaima (6) là tiếng nói an ủi Madar-jan cần nghe.

“Raisa, em còn làm sao được? Chồng em nửa mê nửa tỉnh và vô dụng. Em không dám cho con gái đến trường, ra chợ cũng không. Nhà chồng của em mải ngồi lê đôi mách chẳng giúp được gì. Đây là lựa chọn duy nhất của em. Hơn nữa, em sẽ thấy chuyện này tốt cho nó. Ở đời này con gái làm được trò trống gì chứ? Rồi Rahim sẽ cám ơn em.”

“Nhưng nhà chồng của em, em…”

“Mặc họ! Người ta không quý quả táo thì cũng chẳng quý vườn táo. Em không làm vừa ý họ được đâu. Em biết thế càng sớm thì càng tốt.”

Nhiệm vụ con trai đầu tiên của tôi rất kỳ thú. Tôi phải đi chợ mua dầu và bột mì. Madar-jan lo lắng đưa cho tôi vài tờ giấy bạc và dõi nhìn theo tôi đi xa dần. Chị em tôi cũng thò đầu ra hai bên váy áo của bà để nhìn theo. Tôi ngoái lại nhiều lần và vui vẻ vẫy tay với Madar-jan, gắng tạo chút niềm tin cho cả hai chúng tôi rằng tôi có thể làm xong việc.

Dọc hai bên đường là những tiệm bán hàng. Nồi đồng. Quần áo trẻ sơ sinh. Những bao gạo và đậu khô. Những lá cờ sặc sỡ treo trước cửa. Những tiệm bán hàng có hai tầng, lầu hai có ban công là nơi những người đàn ông nhàn nhã ngồi ngắm chuyện hàng xóm. Đàn ông không vội vã, trong khi phụ nữ chăm chăm bước.

Tôi vào tiệm đầu tiên tôi nhận ra, với một tấm bảng lớn trên cao báo rằng có dầu ăn mới về.

“Agha-sahib (7), một ký bột mì giá bao nhiêu?” Tôi hỏi, nhớ rằng phải đứng thẳng vai. Tôi chưa dám nhìn thẳng vào mắt ông, vì thế tôi chuyển hướng nhìn những hộp thiếc trên kệ sau lưng ông.

“Mười lăm ngàn đồng,” ông nói mà không buồn ngẩng lên. Trước đây ít lâu, một ký bột mì giá bốn mươi đồng, Nhưng giờ đây tiền đã mất giá, ai cũng có tiền cả bọc.

Tôi cắn môi. Giá này gấp đôi giá ông đòi mẹ tôi, giá bà đã than phiền là quá đắt. Tôi không ngạc nhiên. Tôi đã đến mua hàng tiệm ông hai lần trước đó khi mẹ tôi miễn cưỡng sai tôi đi chợ, và tôi đã có thể trả xuống nửa giá đầu tiên ông đòi.

“Đắt quá agha-sahib. Vua cũng không trả nổi nữa là. Sáu ngàn đồng được không?”

“Mày cho tao là đồ ngu hả thằng nhóc?

“Dạ không.” Ngực tôi phổng lên khi nghe ông gọi tôi là thằng nhóc. “Nhưng cháu biết Agha Kareem bán bột mì rẻ hơn nhiều. Cháu không muốn phải đi bộ tận đến tiệm của ông ấy, nhưng mà…”

“Mười ngàn đồng. Giá chót.”

“Agha-sahib, cháu chỉ mua một ký thôi, và cháu trả tám ngàn đồng thôi.”

“Thằng nhóc này! Mày phí thì giờ của tao,” ông la lên, nhưng tôi biết ông chẳng có chuyện gì làm. Khi tôi vào tiệm, ông đang cạy ghét móng tay.

“Thế thì cháu trả ông mười hai ngàn đồng cho một ký bột mì kèm thêm một ký dầu ăn.”

“Thêm một ký dầu ăn? Mày…”

“Cháu không ngu đâu, Agha-sahib,” tôi nói, tự buộc mình nhìn thẳng vào mắt ông như một đứa con trai. Ông ngưng nói, miệng mím lại. Mắt ông nheo lại soi mói nhìn tôi. Tôi thấy mình rúm lại dưới cái nhìn của ông. Có lẽ tôi đã quá đà.

Đột nhiên ông cười lớn.

“Mày là đứa láu cá!” ông nói với nụ cười khẩy. “Mày là con trai ai đó?”

Hai vai tôi giãn ra. Ông nhìn ra bacha posh nhưng đúng như Madar-jan đã hứa — người ta hiểu.

“Cháu là con trai của Arif. Phía bên kia cánh đồng, quá dòng suối.”

“Khá lắm. Đây, cầm lấy dầu ăn bột mì của mày rồi cút trước khi tao đổi ý.”

Tôi lẹ làng đếm tiền, cầm hàng mau mau trở về nhà khoe với Madar-jan. Bước chân tôi nhanh hơn khi tôi nhận ra mình không phải ra bộ e ấp nền nếp. Tôi thử một ông già đi ngang qua, nhìn thẳng vào đôi mắt nhíu của ông và thấy ông không phản ứng với sự táo bạo của tôi. Hứng khởi, tôi chạy nhanh hơn. Không ai dòm ngó tôi. Đôi chân tôi cảm thấy được giải thoát khi tôi chạy trên phố mà đầu gối không bị va vào váy và không sợ những ánh mắt chê trách. Tôi là một đứa con trai, chạy ngoài đường là bản năng của tôi.

Madar-jan mỉm cười khi thấy tôi vừa cười toe vừa thở hào hển. Tôi để hàng hóa trước mặt bà và hãnh diện khoe số tiền dư tôi mang về.

“Ôi chao, xem ra con trai của tôi trả giá giỏi hơn mẹ nó!” bà nói.

Tôi bắt đầu hiểu tại sao Madar-jan cần có con trai trong nhà. Có những việc bà nhờ cha tôi nhiều tháng trường vẫn chưa xong, giờ đây bà có thể bảo tôi làm.

Khi giày của chị em tôi hư, đế cao su há mõm, tôi mang chúng đến ông già gần nhà. Bàn tay phải của ông chỉ có ba ngón, nhưng ông có thể sửa mọi loại giày hỏng đủ kiểu. Tôi đi mua bánh mì ở tiệm bánh và đuổi chó chạy rông khỏi nhà. Cha tôi về, mắt nhíu đỏ quạch, nhìn thấy tôi và cười lớn.

“Bachem (8), bảo chị em con mang cho ba một tách trà. Nói tụi nó làm thức ăn cho ba nữa,” ông nói, vò tóc tôi trong lúc ông thong thả bước đến một góc phòng khách và xoải người ra trên sàn, đầu ông đụng vào chiếc gối dựa.

Tôi bối rối một lúc. Tại sao ông không sai tôi mang trà và thức ăn? Nhưng khi vào nhà bếp thì tôi hiểu ra. Tôi thấy Rohila (9) trước tiên.

“Rohila, Padar-jan muốn uống trà và dùng bữa. Ba ở trong phòng khách.”

“Thì sao chứ? Sao chị không làm đi? Chị biết có korma-katchaloo (10) trong nồi mà.”

“Ba đâu có sai tao. Ba bảo tao nói với chị em gái, tức là mày đó. Dù sao thì tao cũng sắp đi khỏi. Mày làm nhanh lên. Trông ba có vẻ đói bụng,” tôi vui vẻ nói. Rohila xoay người để hâm lại một tô khoai tây hầm cho ba tôi, nhưng đôi mắt nâu vẫn liếc xéo tôi. Nó bực mình, và tôi cũng biết tôi đang giở bộ, nhưng tôi đang trải nghiệm những thứ mới mẻ và muốn tận hưởng chúng. Tôi gạt đi thoáng hối hận và ra ngoài xem con chó chạy rông có trở lại chơi rượt đuổi nữa hay không.

Một tháng sau, niên học mới bắt đầu và tôi lại lo lắng. Madar-jan cắt tóc cho tôi và thận trọng nói.

“Năm nay con sẽ ngồi trong lớp con trai. Nhớ nghe lời thầy và chăm học,” bà đe chừng, gắng ra vẻ như đây là chuyện thường tình. “Nhớ là anh họ Muneer (11) cũng học cùng lớp với con. Không ai, thầy giáo hay học sinh, sẽ không ai hỏi han…việc gì cả. Nhớ là ba con đã quyết định cho con đi học năm nay. Con là con trai và…và…nhớ nghe lời thầy dạy.”

Mọi việc sẽ khác đi, tôi hiểu. Kế hoạch của Khala Shaima thành công trong vòng rào khu nhà của đại gia đình tôi và thậm chí trong những lần tôi đi mua sắm. Trường học sẽ thử thách trò giả vờ này, và tôi cảm nhận được nỗi lo của mẹ tôi. Mấy chị em tôi thì giận điên lên. Padar-jan đã quyết định họ phải ở nhà dù tôi có thể hộ tống họ đến trường.

Tôi đi chung với Muneer đến trường. Nó không phải là anh họ lanh lợi nhất của tôi, ít khi tôi gặp vì mẹ nó không cho con bà chơi với họ hàng. Điều này có lẽ là lợi cho tôi. Chỉ cần bảo nó một lần rằng trước nay tôi vẫn là em trai họ Rahim của nó, là nó đinh ninh rằng chưa hề có Rahima bao giờ. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì tôi không cần sợ nó làm tôi lộ tẩy.

“Salaam (12), Moallim-sahib (13)”, tôi nói khi chúng tôi đến nơi.

Ông thầy ậm ự trả lời, gật đầu với mỗi đứa học trò bước vào. Tôi quệt hai lòng bàn tay ẩm ướt vào quần.

Tôi cảm thấy đôi mắt tò mò của ông thầy trên gáy mình, nhưng có thể đó chỉ là tôi tưởng tượng. Tôi nhìn quanh phòng và theo sát phía sau Muneer, để ý rằng không có đứa con trai nào có vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi. Tôi cúi gầm đầu và chúng tôi đi xuống cuối lớp. Muneer và tôi ngồi chung một băng ghế dài với ba đứa con trai khác. Một đứa đặc biệt háo hức chứng tỏ nó biết nhiều thứ về ông thầy.

“Moallim-sahib nghiêm lắm. Năm ngoái ổng cho điểm xấu bốn thằng vì móng tay dơ.”

“Vậy hả?” bạn nó thì thầm. “Thế thì mày không được móc mũi đó!”

“Các em! Ngồi thẳng lên và chú ý,” ông thầy nói. Người ông mập tròn, đầu hói bóng viền tóc muối tiêu, bộ râu mép tỉa gọn cùng màu với mấy sợi tóc thưa. “Bắt đầu là các em viết tên mình xuống. Rồi xem thử các em có học được tí gì ở lớp dưới không.”

Tôi nhận ra rất nhanh mấy ông thầy cũng nghiêm như mấy cô giáo. Lớp học không khác lớp con gái mấy trừ việc học trò rù rì nói chuyện và nghênh nhau nhiều hơn. Tôi cẩn thận viết tên mình và liếc nhìn Muneer vật lộn viết. Mấy chữ nó viết không suông sẻ nối liền nhau và một dấu chấm dư biến tên nó từ “Muneer” thành “Muteer”. Tôi ngẫm nghĩ xem có nên sửa cho nó không, nhưng chưa kịp nói gì thì ông thầy đã nhìn về phía tôi. Ông đi quanh lớp nhìn tên mỗi đứa, có khi lắc đầu có khi hầm hừ. Xem ra rất ít đứa đạt tiêu chuẩn của ông.

Ông nhìn qua vai tôi, tôi nghe ông thở bằng mũi, cái bụng ông che tối tờ giấy trước mặt tôi. Tên tôi không gây chút phản ứng nào, theo tôi chỉ có nghĩa là nó không khiến ông thất vọng quá lắm. Cuốn vở của Muneer thì khiến ông rên lên.

“Trò tên gì?” Ông hỏi.

“M-M-Muneer.” Nó ngước nhìn ông thầy nhưng vội nhìn xuống ngay.

“Muneer,” ông dằn giọng. “Nếu ngày mai trò viết sai tên mình nữa thì ta sẽ tống trò xuống học lại lớp. Hiểu chưa?”

“Dạ hiểu, Moallim-sahib,” Muneer lí nhí. Tôi có thể cảm thấy mặt nó nóng bừng.

Tôi nhận ra con trai cũng không học được nhiều hơn con gái.

Khi tan lớp, bọn con trai thích chạy chơi bên ngoài và đá banh hơn là hỏi xem tôi là ai và từ đâu đến. Tôi và Muneer đi bộ về nhà cùng với hai đứa tên Ashraf và Abdullah. Chúng là hàng xóm của nhau, ở cách nhà chúng tôi khoảng nửa cây số. Đây là lần đầu tiên tôi gặp chúng, dù chúng đã biết Muneer và mấy anh em họ khác của tôi.

“Nói lại tên mày xem,” Ashraf hỏi. Trong hai đứa nó thấp hơn, tóc nâu nhạt và mắt tròn. Nó khá xinh, khiến tôi tự hỏi phải chăng nó cũng như tôi, một đứa con gái mặc quần.

“Tên tao là Rahim.”

“Ừa, tên nó là Rahim. Nó là em họ của tao,” Muneer thêm vào. Lời đe của ông thầy làm nó hoảng, nhưng giờ đã ra ngoài, nó hoàn hồn được chút chút.

“Abdullah, trước nay mày có thấy Rahim bao giờ chưa?”

Abdullah lắc đầu. Nó mảnh mai, tóc đậm màu và trầm tĩnh hơn hàng xóm của nó.

“Chưa. Mày chơi đá banh giỏi không, Rahim?”

Tôi liếc vội nó và nhún vai.

“Nó chơi đá banh giỏi lắm,” Muneer nói chắc bẩm. Câu trả lời của nó khiến tôi giật mình. “Tao dám cá nó chơi giỏi hơn mày.”

Tôi nhìn Muneer, tự hỏi phải chăng nó đang tìm cách phá tôi.

“Vậy sao?” Abdullah cười. “Nó không cần chơi hơn tao nhưng nếu nó chơi hơn Said Jawad và đám bạn của nó thì tốt. Tụi nó chắc đang chơi ngoài đường nếu tụi mày muốn nhập bọn.”

“Chơi luôn!” Muneer đi nhanh hơn xuống con đường đến một khoảng trống cách xa nhà tôi được dùng làm sân banh, thực ra cũng là một con đường nhỏ không ai đi vì hẹp quá xe hơi không vào được. Bọn con trai đã quen gặp nhau chơi đùa ở đó.

“Muneer, có phải mình nên –”

“Rahim, chơi chút thôi mà! Vui lắm đó.” Abdullah vừa nói vừa hích nhẹ vai tôi.

Tôi đoán tôi không đến nỗi nào. Tôi chỉ biết chạy. Cũng may là tôi chạy khá nên bọn con trai không nhận ra rằng chân tôi không bao giờ chạm banh hoặc là tôi không bao giờ kêu réo chuyền banh cho tôi. Tôi chạy lên chạy xuống con đường, vai quệt vào bức tường đất sét hai bên. Tôi cứ đinh ninh mẹ hoặc cha tôi sẽ hiện ra và giận dữ lôi tôi về nhà.

Tôi thích cảm thấy làn gió trên mặt mình. Tôi thích cảm thấy đôi chân mình dang thẳng, cố bắt kịp những đứa khác, cố vượt qua bọn chúng. Hai tay tôi tự do vung vẩy bên cạnh thân mình.

“Đây nè! Chuyền banh qua đây!”

“Đừng để nó vượt qua! Bắt kịp nó!”

Tôi đến gần trái banh. Sáu bàn chân đang đá nó, cố khều nó về hướng của mình. Tôi thò chân vào tranh dành. Tôi cảm thấy đế giầy chạm vào lớp da thuộc. Tôi đá nó bay về phía Abdullah. Nó dùng cổ chân chặn banh, đẩy banh về phía khung thành đối diện, rồi chạy.

Tôi cảm thấy hào hứng khi chạy theo nó. Tôi thích trò chơi đồng đội. Tôi thích lớp bụi tung lên dưới chân tôi.

Tôi thích làm con trai.



Chương 62

“Cô có muốn đi hay là không?”

Tôi nhìn xuống chân mình, thở dài. Hai lòng bàn chân tôi đau nhưng xoa bóp thì mất công quá.

“Tùy cô thôi. Cô không muốn làm phụ tá cho tôi nữa thì tôi tìm người khác. Tôi chắc phòng giám đốc có thể giúp tôi. Cô làm được thì người khác cũng làm được.”

Chị ta (14) tỏ ra tử tế như thế này đây.

“Tôi thì sao cũng được…”

Không đúng, và cả hai chúng tôi đều biết thế.

“Tôi chỉ muốn nói là, cô cần quyết định mau vì ba ngày nữa tôi sẽ đi Kabul (15), nếu cô cũng đi thì mình phải nói cho Abdul Khaliq (16) biết.”

Badriya đã quen sự trợ giúp của tôi. Có tôi, những phiên họp quốc hội dễ hiểu hơn. Tôi đọc văn kiện cho chị ta nghe. Tôi điền và nộp tất cả giấy tờ của chị ta. Chị ta lắng nghe khi tôi lược qua những tít lớn trên báo để biết phần nào bối cảnh của những cuộc thảo luận trong jirga (17). Cuối cùng chị ta đã cảm thấy mình là người dự cuộc, người phụ nữ mà địa hạt của chúng tôi nên ngưỡng mộ vì vai trò của chị ta trong chính phủ. Cứ như là chị ta đang thực sự phục vụ cử tri của mình.

Chị ta bỏ qua sự kiện rằng chính là một người đàn ông quyết định chị ta giơ tấm gỗ màu xanh hay màu đỏ lúc bầu phiếu. Chị ta cứ ngỡ vai tuồng nữ nghị sĩ Badriya là thực, và lờ đi mọi chuyện khác.

Dù rất muốn bảo chị ta im miệng, rồi bỏ đi, tôi biết tôi phải quyết định.

Lối thoát. Tôi cần một lối thoát.

Tôi chỉ đến nghĩa trang chôn cất Jahangir (18) một lần, hai tháng sau khi tôi từ Kabul trở về thấy con trai mình lạnh lẽo xám xanh. Sau cùng Abdul Khaliq đã cho phép tôi đi cùng với Bibi Gulalai (19) và tài xế của ông ta. Theo dị đoan, người đã khuất có thể nhìn thấy người sống trần truồng, nên ông ta nghĩ theo lẽ vợ ông ta không được bước vào nghĩa trang. Tôi không tin thế và cho dù thật là thế thì tôi cũng không màng. Tôi muốn thấy nơi chôn cất con trai mình. Tôi nhờ Jameela (20) hỏi xin ông ta và chị đã hỏi. Khi nhờ chị, tôi biết tôi lợi dụng lòng thương cảm của chị, nhưng tôi không còn cách nào khác. Tôi không biết chị đã dùng những lời lẽ thần kỳ nào, nhưng chồng chúng tôi nhượng bộ.

Tôi và mẹ chồng đứng trước bia mộ của Jahangir. Tiếng gào khóc của bà vang vọng qua khoảng không, cũng những tiếng gào sầu thảm như bà đã kêu gào hai tháng trước đây. Tôi im lặng một lúc. Tôi không nghĩ tôi còn lệ để khóc.

“Đứa bé dễ thương vô tội! Bà không tin nổi đây là lúc cháu đi, là naseeb (21) của cháu. Trời ơi, cháu nội tội nghiệp của tôi còn quá nhỏ, sao lại mất sớm!”

Tôi đứng đó, thấy thật khó tin. Làm sao nấm đất này có thể là đứa con bé bỏng của tôi? Làm sao đây có thể là tất cả những gì sót lại của đứa con hiếu kỳ, tươi vui của tôi?

Nhưng thật là thế. Tôi càng nghĩ, thì giọng kêu khóc của Bibi Gulalai lại càng xé tim tôi. Tôi muốn cào đất, muốn thọc tay vào lòng đất để với đến bàn tay của con tôi, muốn một lần nữa cảm thấy những ngón tay nó khép lại quanh những ngón tay tôi. Tôi muốn cuộn mình nằm cạnh nó, ủ nó ấm và thì thầm bảo nó đừng sợ, nó không lẻ loi đâu.

“Nhà chúng tôi biết làm sao đây? Tại sao chúng tôi lại phải gặp thảm cảnh này? Ôi, gương mặt tươi cười của nó nhảy múa trước mắt tôi và xé nát lòng tôi!”

Tôi bắt đầu khóc. Thoạt tiên lặng lẽ, rồi càng lúc càng to đến khi Bibi Gulalai đang than khóc phải chú ý.

Bà quay lại ném cho tôi một cái nhìn lạnh lẽo.

“Tôi đã bảo cô hàng trăm lần phải chú ý hành vi của mình cơ mà? Cô muốn làm nhục gia đình chúng tôi phải không?”

Tôi nuốt nghẹn những tiếng nấc, lồng ngực căng tức vì cố chịu đựng.

“Tội lỗi! Cô gây nhiều chú ý thế là tội lỗi. Đừng làm ầm ĩ ở đây. Thế là bất kính với người đã khuất, người ta đang nhìn kìa!”

Nào có ai nhìn. Chỉ có mình chúng tôi. Maroof (22) đứng xa phía sau, tựa người vào chiếc xe SUV đợi chúng tôi quay lại. Tôi nuốt nỗi đau buồn xuống và nhìn lên bầu trời. Ba con chim sẻ màu nâu xám ức đỏ bay qua trên đầu chúng tôi. Chúng lượn ba vòng, sà xuống phía chúng tôi, rồi lướt đến một gốc cây cách chúng tôi khoảng mười mấy mét. Chúng gù, chúng kêu cục cục, chúng nghiêng đầu tưởng chừng như đang nói điều gì với tôi.

Bibi Gulalai vốc trong túi áo của bà một nắm vụn bánh mì và rải ra trên mộ của Jahangir. Bà rải một nắm khác trên một ngôi mộ bên tay trái, thêm nắm nữa trên một ngôi mộ bên tay phải.

“Shehr-Agha-jan,” bà nói trong tiếng thở dài. “Mong ông đời đời ở thiên đàng.”

Tôi nhận ra tên ông nội của Abdul Khaliq. Những câu chuyện về ông, người chiến sĩ phi thường, đã được kể lại nhiều lần đến mức tôi phải tự nhắc rằng tôi chưa hề nhìn thấy ông. Ông đã qua đời hơn mười năm nay.

Thấy thức ăn rải, lũ chim sẻ bay lên, lả lướt sà xuống mổ đây đó trên bữa tiệc vừa dọn. Bibi Gulalai rải phần còn lại trên những ngôi mộ xa hơn. Nhưng bà vẫn bỏ qua ngôi mộ ngay kế bên phải mộ của Jahangir.

“Ăn đi, ăn đi,” bà rầu rĩ nói. “Ăn đi rồi cầu nguyện cho cháu ta. Và cho cha chồng quý mến của ta. Cầu Trời cho linh hồn ông yên nghỉ và ông được bình an bên cạnh Allah.”

Tôi ngắm lũ chim sẻ gật gù mổ vụn bánh mì và ríu rít hót lời cảm tạ. Quả giống như chúng đang cầu nguyện, những cái đầu bé xíu của chúng cúi xuống ngước lên như đang khẩn cầu. Cảnh tượng ấy cho tôi chút an ủi.

Tôi nhìn tấm bia bên cạnh mộ ông nội của Abdul Khaliq, Sher-Agha. Khu vực này là nơi chôn cất cả gia đình chồng tôi. Tôi tự hỏi tại sao Bibi Gulalai cố tình bỏ qua ngôi mộ này.

“Ai chôn ở đây thế?” Tôi hỏi. Thường tôi không mở lời trò chuyện với mẹ chồng nhưng giờ phút này tôi không muốn cảm thấy quá lẻ loi. Ít nhất bà đã đem những con chim sẻ cầu nguyện đến cho con tôi. Jahangir chắc thích nhìn lũ chim và những cái mỏ bé xíu của chúng lắm. Tôi có thể hình dung cảnh nó bắt chước dáng đi nhẹ nhàng của chúng, đôi cánh vỗ và bộ ngực màu đỏ phổng lên kiêu hãnh của chúng.

“Ở đó hả?” Bà chỉ tay, vẻ chán ghét. “Đó là chỗ chôn bà nội của Abdul Khaliq, vợ của Shehr-Agha. Mẹ chồng của ta.”

Đôi môi bà mím lại.

“Mẹ không rải vụn bánh ở đó.”

Bibi Gulalai tức tối trừng mắt nhìn xuống đất. Bà ngẫm nghĩ một lúc rồi nói.

“Ta không hợp với bà nội của Abdul Khaliq. Bà là một phụ nữ đáng ghét, không ai ưa,” bà giải thích mà không nhìn tôi. “Ta kính bà khi bà còn sống nhưng giờ đây không muốn phí thời giờ cầu nguyện cho linh hồn bà.”

Đây là lần đầu tiên tôi nghe Bibi Gulalai nói đến mẹ chồng của bà. Cũng là lần đầu tiên tôi nghe bà nói xấu một người bên chồng. Tôi kinh ngạc thấy bà hằn học dường ấy. Lẽ ra tôi không nên ngạc nhiên.

“Bà ấy mất lúc nào?”

“Mười năm trước,” bà nói và ra hiệu cho Maroof là chúng tôi sắp rời đi. Anh ta mở cửa xe phía sau và quay lại phía trước để ngồi sau tay lái. “Bà ta là một phụ nữ ác độc quá lắm. Bà nói những điều độc địa về ta với chồng ta. Cô phải biết là không có điều nào đúng sự thật, chỉ là đầu độc tâm trí chồng ta ghét bỏ ta.”

Tôi nhắm mắt, quỳ trước mộ con tôi và cầu nguyện lần nữa, vội vã đến mức đọc lướt những chữ Ả Rập trong đầu, sợ rằng sẽ bị kéo lên xe trước khi cầu nguyện xong. Nhưng Bibi Gulalai dừng chân — như thể đợi tôi.

Tôi cúi đầu hôn lên mặt đất, lũ chim sẻ nhìn tôi, ríu rít thương cảm từ chỗ đậu yên lành của chúng.

“Mẹ xin lỗi con, Jahangir,” tôi thì thầm, áp má vào lớp đất lạnh lẽo giữa mình và con trai. “Mẹ xin lỗi đã không chăm sóc con tốt hơn. Mong Allah luôn dõi theo con.”

Tôi đứng lên và hít sâu vào, mắt mờ lệ. Chúng tôi lên xe và tôi nhận ra Bibi Gulalai vẫn còn đang căm ghét nghĩ đến mẹ chồng của bà.

“Bà khiến đời ta khốn khổ,” cuối cùng bà nói. “Ta làm hết mọi việc cho bà. Nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc con trai bà không người vợ nào bằng. Ta nấu ăn cho cả nhà, mỗi khi bà có khách, khi bà thèm ăn món gì đó. Nhưng chẳng gi khiến bà vừa lòng. Có dịp là bà nói xấu ta.”

Tôi lắng nghe, nhìn thấy một khía cạnh khác của mẹ chồng, lần đầu tiên cảm thấy tôi và bà có điểm tương đồng. Thật mỉa mai thay.

“Chuyện gì xảy ra với bà?”

“Chuyện gì xảy ra? Chuyện xảy ra với mọi người! Bà ấy chết.” Giọng bà châm biếm và bực tức. “Một tối bà không khỏe. Bảo ta xoa chân cho bà. Ta bôi dầu hai bàn chân khô của bà và xoa bóp lâu đến nỗi ta nghĩ hai bàn tay ta sẽ quắp lại không mở ra được nữa. Sáng hôm sau, bà đến xem xét món xúp ta nấu. Shehr-Agha-jan, cầu Trời cho linh hồn ông an nghỉ, đã mời ba mươi người đến ăn bữa trưa. Bà đứng đó dòm hành như người gác ngục canh tù, than phiền ta chậm chạp hay cái gì đó. Ta còn nhớ như mới ngày hôm qua, trông bà khác thường. Sắc diện bà vàng nhợt, trán đẫm mồ hôi. Ta thấy lạ vì lúc ấy đang mùa đông. Ta chưa kịp nói gì thì bà chụp lấy cánh tay ta, cổ bà ngoẹo qua một bên. Bà ngã xuống đất, làm đổ luôn bát hành ta mới bóc vỏ cho nồi thịt hầm.”

Tôi nhìn bà kể chuyện. Bà nhìn ra bên ngoài cửa sổ, bánh xe quay bốc bụi mù che đi cảnh vật. Như thể bà đang sống lại ký ức chứ không phải nói chuyện với tôi.

“Ta phải đi gọi mọi người, báo tin cho mọi người biết. Một ngày khủng khiếp. Nhưng bà chết đi như thế đấy — không màng đến công lao của ta cho đến hơi thở cuối cùng. Bà là loại phụ nữ sắt đá thế đấy.”

Trong một hoàn cảnh khác, có lẽ tôi đã nói với Bibi Gulalai rằng tôi hiểu, rằng tôi có thể thông cảm với bà.

“Cô không biết cô may mắn chừng nào đâu,” bà nói, khi chợt nhớ ra tôi đang ngồi bên cạnh bà.

Đó là lần duy nhất tôi đi thăm mộ con trai. Tôi biết Abdul Khaliq không muốn tôi đến đó. Thực ra, tôi thậm chí không chắc mình đủ nghị lực để quay lại. Không dễ chút nào. Đêm hôm đó và đêm sau nữa tôi thao thức tự hỏi Jahangir có cảm thấy ngộp thở trong mộ không. Shahnaz (23) nghe tiếng tôi khóc qua bức tường mỏng và rên lên bức bối. Tôi không thể thôi nghĩ đến đứa con trai nhỏ của mình.

Khi Badriya lại tìm đến để hỏi tôi có muốn trở lại Kabul không, tôi suy nghĩ và lập một quyết định tôi tin rằng Khala Shaima sẽ tán đồng. Tôi thu dọn hành lý, lòng nặng trĩu tội lỗi vì một lần nữa tôi sẽ bỏ lại con trai mình.

Tôi nghĩ đến nghĩa trang, những hàng bia mộ cũ và mới chạm khắc bằng tay đơn sơ. Lũ chim sẻ nhìn chúng tôi cho đến khi chúng tôi rời đi. Tôi thấy chúng ríu rít với nhau trong lúc xe chúng tôi xa dần, và rồi từng con một cũng bay đi.



Chương 67

Tôi nói tôi thấy muốn bệnh, hy vọng mình có vẻ đáng tin.

Badriya thở phì phì và khoa tay chống nạnh. “Cái gì đây? Cô muốn tôi đi họp một mình? Cô nói xem ai sẽ điền xong mấy phiếu bầu phải nộp ngày hôm nay?”

“Tôi xin lỗi, nhưng bụng tôi không khỏe. Chắc là ăn phải thứ gì tối hôm qua. Bụng tôi khó chịu lắm,” tôi vừa nói vừa khom người vòng tay ôm bụng. “Tôi không muốn gây phiền trong khi ngồi bên cạnh chị. Tôi chỉ e tôi phải chạy –”

“Thôi thôi đủ rồi! Tôi không muốn nghe nữa. Cô làm phụ tá như thế đó. Vô dụng!” Chị ta vừa nói vừa vung tay lên trời, rồi chụp cái xách tay và đùng đùng đi ra. Khi tôi nghe tiếng chân chị ta xa dần, tôi rón rén lại gần cánh cửa và dán tai vào đó. Tôi có thể nghe tiếng chị ta nói với Hassan (24) và Maroof, giọng họ vang ồm ồm trong hành lang.

“Cô ta không đi à?”

“Không. Cô ta nói không khỏe. Chắc mình cứ để cô ta ở lại đây. Đừng tưởng tôi sẽ ở lại với cô ta mà lầm. Bỏ họp thêm lần nữa thì giám đốc sẽ mắng tôi.”

“Chà. Cái cô này chỉ toàn rắc rối,” Maroof nói.

“Mày đưa bà ấy đi đi. Tao ở lại với cô ta,” Hassan miễn cưỡng đề nghị. “Abdul Khaliq mà biết mình để cô ta một mình trong khách sạn thì phiền.”

“Được rồi.”

Tôi nghe tiếng cái ghế kim loại lê trên sàn. Hắn sẽ ở nguyên chỗ của mình cuối hành lang. Lồng ngực tôi trĩu nặng mong đợi.

Hít sâu vào, tôi trở lại giường, kéo túi xách của mình trong gầm giường ra. Hai tay tôi lục trong mớ áo cho đến khi tôi tìm ra thứ tôi cần. Cảm ơn Trời là tôi đã mang nó theo dù tôi không nghĩ sẽ mặc nó. Tôi nhanh chóng thay y phục với đôi chút hồi hộp, rồi quay lại túi xách của Badriya tìm cái kéo trong những món may vá của chị ta. Trở lại phòng tắm, tôi soi gương và hoàn tất việc chồng tôi đã bắt đầu. Cắt, xén, tỉa. Lởm chởm nhưng khá hơn Abdul Khaliq đã làm (25).

Tôi mang giầy xăng đan và ngắm túi xách của tôi một lúc. Nhìn từ phía sau, nó có thể làm tôi lộ tẩy. Tôi quyết định không mang nó theo và ngồi xuống điều hòa lại hơi thở.

Phải mất năm phút lắng nghe bên cánh cửa tôi mới có thể tự thuyết phục mình rằng không có ai đang đến gần, nhất là Hassan. Không có tiếng chân nặng nề hay hơi thở khò khè của hắn. Tôi đoán hắn đã ra ngoài hút thuốc.

Những ngón tay tôi chạm vào nắm cửa, từ từ ôm lấy nó xoay nhẹ trong lúc vẫn dỏng tai lắng nghe.

Nhìn qua khe hở, chắc chắn mình không nhìn thấy ai, tôi mở cửa rộng hơn. Rộng hơn nữa khi tôi thu hết can đảm bước ra hành lang. Tôi ngóng cổ nhìn ra chỗ thường lệ của chiếc chế.

Cái lưng của Hassan. Tôi hít sâu vào và quay về bên phải, phía cầu thang, cố hết sức nhẹ nhàng đóng lại cánh cửa sau lưng mình. Tôi đi từng bước qua bốn cánh cửa đến cuối hành lang, chăm chú lắng nghe cử động của Hassan đến nỗi giầy xăng đan chân trái của tôi mắc vào tấm thảm khiến tôi vấp, phải chụp nắm cửa phòng kế tiếp để giữ thăng bằng.

Tôi nín thở khi nghe tiếng rít của mấy chân ghế bằng kim loại.

“Này!”

Tôi sững lại, vẫn quay lưng về phía Hassan. Tôi chắc hắn có thể nhìn thấy cả người tôi run rẩy từ xa.

“Đi đứng cẩn thận đó, đồ vụng về!” hắn gọi.

Tôi gật đầu và ậm ự rất nhỏ với giọng trầm hơn giọng của tôi.

“Bọn nhóc chạy rông trong khách sạn, thật là…”, tôi nghe tiếng hắn lầm bầm trong lúc tôi tiếp tục đi về phía cầu thang. Với mỗi bước chân, tôi chờ giây phút hắn nhận ra thằng nhóc hắn nhìn thấy thực ra là một cô gái mặc y phục mới của Hashmat (26), ống quần còn chưa viền gấu.

Thoắt chút tôi đã biến đổi. Tôi là Rahima. Rồi không phải là Rahima.

Tôi bước qua phòng ngoài của khách sạn, mặt cúi gầm. Không thấy người đàn ông đứng quầy. Tôi bước nhanh, mở cửa. Ánh nắng xói vào mắt tôi. Chớp mắt, tôi giơ tay che, Khi giầy xăng đan của tôi chạm vào con đường đất, tôi nhìn quanh để biết chắc tôi không nhận ra ai và không ai nhận ra tôi. Mắt tôi gặp một con chim sẻ đang nhanh nhẹn chuyền cành và mê say hót như những con chim trên mộ của Jahangir. Cầu nguyện cho tôi với, tôi nghĩ.

Rahim đi vòng vèo qua những con đường, xa dần khách sạn, ngược hướng tòa nhà quốc hội. Rahim, bacha posh, lắng nghe xem có ai la hét sau lưng mình không, lắng nghe xem có dấu hiệu mình có bị nhìn thấy không, có bị lôi về khu nhà của Abdul Khaliq và chịu trừng phạt không.

Rahim, run lẩy bẩy đến nỗi cứ nghĩ đôi chân mình sắp khuỵu xuống, cần một chỗ ẩn náu.



Chương 68

Những chiếc taxi nhấn còi. Một chiếc lướt qua sát bên cạnh tôi trong lúc tôi cố tránh xe cộ ở một ngã tư đông người. Tôi tự rủa thầm vì đã chọn qua đường ở chỗ này, trước mũi bao nhiêu xe hơi. Tôi cảm thấy cả triệu con mắt đang nhìn mình, những đôi mắt có thể nhận ra cậu thiếu niên này có điều gì khang khác. Chẳng phải là tôi có vẻ sợ hãi sao — như tôi đang chạy trốn cái gì đó? Họ có thấy ngực tôi dường như phổng lên kiểu ngực con gái?

Tôi đã cố hết sức nịt ngực bằng một chiếc khăn quàng đầu, nhưng giờ đây việc ấy khó hơn vài năm trước. Sinh ra Jahangir đã khiến thân hình tôi nẩy nở khó giả trang hơn.

“Bacha (26), đi đàng hoàng coi!” một người đàn ông hét qua cửa kính xe hơi phía tài xế, giận dữ vung vẩy mấy ngón tay kẹp một điếu thuốc lá.

Không ngừng lại, tôi giơ tay xin lỗi, thầm cảm tạ vì biết lớp giả trang của tôi có hiệu quả. Thật ngộ là tôi lại dễ dàng biến thành con người này, cảm thấy rất thoải mái cho dù đang vô cùng căng thẳng.

Giầy xăng đan của tôi đập trên mặt đường bụi bặm, hai chân tôi tự do trong ống quần, một cái áo rộng che phần mông tròn trịa.

Tôi rời khách sạn lúc gần 11 giờ. Từ lúc ấy đến giờ không thể lâu hơn hai, ba mươi phút, nhưng cảm thấy như cả năm. Một xe buýt đằng trước chạy chậm lại gần một đám đông, tiếng còi xe chói tai. Không chừng chính là xe tôi cần. Tôi nhìn quanh tìm dấu hiệu, quay đầu và đột nhiên thấy đôi chân mình muốn quỵ.

Một chiếc xe SUV màu đen chỉ cách nửa dãy phố đang chạy chầm chậm đến.

Tôi cảm thấy bị lộ diện, dù đang trên con đường đông người, tự hỏi phải chăng tôi đã bị nhìn ra. Nếu tôi chưa bị nhìn ra, bỏ chạy lúc này có thể khiến tôi bị chú ý.

Người tài xế hạ cửa kính pha màu tối xuống, và tôi bật ra một tiếng rên hoảng hốt.

Nhưng đấy là một khuôn mặt tôi không nhận ra. Không phải là xe của Abdul Khaliq.

Hoàn hồn lại ngay, tôi len lách đến đám đông đang chen nhau lên chiếc xe buýt màu trắng và xanh.

“Xe buýt này có phải đến Wazir Akbar Khan không?”

Không ai quay lại.

“Agha, có phải đây là xe buýt đến Wazir Akbar Khan không?” Tôi hỏi lại, lớn tiếng hơn, cố trầm giọng xuống giấu âm thanh phụ nữ.

Một người đàn ông quay lại, vẻ bực bội. Ông ta mặc áo sơ mi và quần tây, tay xách một cặp giấy tờ.

“Phải rồi! Có đi thì nhanh lên xe,” ông nói. Ông ta và một người đàn ông khác đang cố len qua cửa xe cùng một lúc, cả hai cùng hy vọng có được một chỗ đứng.

Đầu cúi gầm, tôi len được lên xe sau hai người đàn ông. Tôi chờ tài xế chú ý và la lên, nhưng chuyện ấy không xảy ra. Tôi lách ra phía cuối xe, càng xa tài xế càng tốt. Nhìn quanh, tôi không thấy phụ nữ nào trên xe. Mặt tôi nóng bừng vì đứng gần nhiều người đàn ông. Khép sát hai khuỷu tay vào ngực, tôi co người mỗi khi chuyển động xe đẩy một thân người chạm vào mình, trong lúc nghển cổ nhìn qua những khung ngực và cánh tay, hy vọng nhận ra nơi tôi cần xuống.

Xe buýt sẽ đậu ở một con đường có nhiều tiệm. Tìm tiệm thẩm mỹ nằm giữa tiệm điện tử và hàng thực phẩm. Thường hay có một người đàn ông râu dài cụt nửa cánh tay đứng đó xin tiền.

Chuyến đi đến Wazir Akbar Khan rất dài. Những giọt mồ hôi chảy xuống cổ tôi. Tâm trí tôi bắt đầu bình tĩnh lại khi xe buýt đưa tôi xa dần khách sạn — xa dần những lính gác của Abdul Khaliq.

Lẽ ra tôi phải đến đó lúc 12 giờ. Tôi đã định rời khách sạn sớm hơn nhưng sáng nay Badriya rề rà khiến cả kế hoạch có nguy cơ không thành.

Wazir Akbar Khan là một khu phố phía bắc thành phố, một khu ngoại ô có nhiều tòa đại sứ và nhà của nhiều nhân viên ngoại quốc. Đuờng xá rộng hơn so với những khu vực khác của Kabul tôi đã nhìn thấy. Những tòa nhà hai tầng viền hai bên đường. Tôi mong mình không lộ ra mặt tâm trạng lo lắng và lạc lõng.

Xe buýt chạy chậm lại. Bảng hiệu trên một tòa nhà viết: Nhà thuốc Wazir Akbar Khan.

Đúng nơi rồi, tôi nghĩ, và len lỏi qua đám đông để xuống xe trước khi xe rời bến.

Tôi không nhận ra ai và không thấy cái nhìn ngờ vực nào. Tôi chăm chú nhìn những cửa tiệm để tìm những dấu hiệu tôi đã được chỉ bảo. Có tiệm với nhiều thùng lớn bên ngoài, những hộp bột giặt, đồ dùng trong nhà. Có tiệm thịt. Có đủ cả trừ những thứ tôi tìm.

Tôi rẽ vào một con đường khác nhưng chỉ thấy nhà ở. Những căn nhà đẹp khiến cơ ngơi của Abdul Khaliq thành xấu xí. Chúng là những tòa nhà mới, mặt tiền kiểu tân thời, nhưng tôi không có thì giờ để nhìn kỹ. Thời gian đang trôi qua và tôi có thể mất dịp may này.

Tôi thu can đảm hỏi một người, rắn giọng trầm xuống một âm vực để giả vờ.

“Agha-sahib? Agha–”

“Trời đất, ta không có tiền cho cậu đâu!” người đàn ông vừa nói vừa tiếp tục đi.

Tôi tìm người khác để hỏi.

Một người phụ nữ đi ngang. Tôi muốn lại gần cô nhưng lưỡi tôi cứng lại khi tôi nhìn thấy một cậu bé, có lẽ khoảng ba bốn tuổi, đang cầm chặt bàn tay cô. Cậu bé giơ tay chỉ một chiếc xe trên đường và ngước nhìn xem mẹ mình có chú ý không. Cô gật đầu và nói gì đó khiến cậu vui cười khúc khích.

Jahangir, tôi nghĩ, ngực thắt lại.

Người phụ nữ đi mất trước khi tôi bình tĩnh lại. Chớp mắt cho lệ không rơi xuống, tôi tiếp tục bước. Dừng lại trước một cửa kính tiệm, tôi chợt nhìn thấy một cái đồng hồ và cuống lên.

Một giờ rồi. Mạch tôi đập nhanh lên. Nếu tôi quá trễ, chuyện lần này có thể không thành. Tôi sẽ không được gì sau khi đã đánh liều tất cả. Rồi tôi sẽ ra sao đây?

Mắt tôi đi từ đồng hồ đến một tờ quảng cáo treo trước cửa tiệm.

Mời đến tiệm thẩm mỹ của Shekiba (28), đường Sarai Khahzada. Đám cưới và mọi dịp khác.

Chắc là tiệm này rồi! Tôi nghĩ. Shekiba.

Tôi nhắm mắt, thêm sinh lực nhờ cái tên tiệm. Như thể đang có một bàn tay nắm tay tôi dẫn đường. Tôi đọc lại tờ quảng cáo.

Sarai Khahzada. Chắc chắn tôi đã nhìn thấy bảng tên đường ấy. Tôi đi ngược lại. Hai lần quẹo trái là tôi trở về đó, con đường có lề trải bê tông và cây cối đem lại vẻ sạch sẽ, chào đón. Chỉ vài phút sau tôi đã tìm ra tiệm thẩm mỹ nằm giữa một tiệm điện tử và một tiệm có nhiều thùng rau quả lớn bên ngoài.

Tiệm thẩm mỹ của Shekiba.

Như đã được chỉ dẫn, tôi nhìn thẳng qua mặt đường đối diện và nhìn thấy một tiệm trà.

Hy vọng tôi không quá trễ.

Tôi lại tránh những chiếc xe đang chạy đến và băng qua đường, cố nhìn xuyên qua làn kính mặt tiền tiệm. Nắm cửa kêu lạch cạch trong tay tôi. Tôi hít sâu vào, hy vọng tôi không có vẻ quá điên rồ với những người trong tiệm.

Tôi nhìn thấy bà ngay, riềm tóc mềm của bà lộ ra dưới khăn choàng đầu màu xám và đỏ tía. Mắt bà nhìn ra cửa, trông bà lo lắng không kém gì tôi. Khi bà nhận ra tôi, bà giơ tay che miệng đang hé mở, và đứng dậy.

Tôi lách qua những cái bàn, những người Afghan đang nói tiếng Anh, những người ngoại quốc uống trà xanh ướp bạch đậu khấu.

“Em đã đến được!” bà thì thầm khi tôi đến gần bàn của bà.

“Vâng, bà Franklin (29).” tôi nói, rồi buông người xuống ghế.

Chương 69

Chín ngày sau tôi mới gặp Hamida và Sufia (30). Họ không dám đến gặp tôi, e sẽ dẫn lối cho ai đó tìm ra tôi. Hamida ứa nước mắt khi nhìn thấy tôi. Sufia bật kêu lên một tiếng đắc thắng, với sự nhiệt thành tôi chưa bao giờ thấy bà bày tỏ trong những buổi họp quốc hội.

Từ tiệm trà, bà Franklin và tôi đi thẳng đến nhà tạm trú dành cho phụ nữ bà đã tìm được. Không phải là chỗ chúng tôi đã nghe nhắc đến, mà một chỗ khác, xa hơn tòa nhà quốc hội nhiều và thuộc khu ngoại ô phía tây của thủ đô.

Nhà tạm trú mang hy vọng nhưng cũng nhiều u buồn. Những câu chuyện ở đấy khiến tôi rúm người, những vết sẹo không bao giờ lành.

Tôi gặp một phụ nữ sống ở đó với ba đứa con. Khi nhà chồng của chị biết chồng chị đã chết, họ vu chị giết chồng. Sắp bị tù, chị quyết định chạy trốn để không mất hai con gái và một con trai.

Một người phụ nữ khác trốn ông chồng vũ phu, người chồng ngoại tình với em gái của chị. Một đêm, trong khi ông ta ngáy bên cạnh chị, chị nhẹ lẻn ra ngoài, đi bộ hai ngày hai đêm đến một trạm cảnh sát.

Rồi có một cô gái. Cô bằng tuổi tôi và chuyện của cô khiến tôi nhận ra cũng có người cùng số phận như mình. Mười hai tuổi, cô bị gả cho một người đàn ông gấp năm lần tuổi cô. Gia đình cô mặc cho cô một chiếc áo đầm dài màu trắng và dẫn cô đến một buổi tiệc. Hết buổi tối, họ ra về bỏ mặc cô ở lại. Bốn năm sau, cô trốn thoát gia đình chồng xem cô như nô lệ.

Tôi chưa kể được chuyện của mình cho họ nghe. Ngay cả nơi đây, trong căn phòng thoáng đãng trải thảm Afghan vướng vất mùi cumin, tôi vẫn cảm thấy tầm với của chồng tôi. Nếu ông ta biết tìm ở đâu, thì ông ta có thể đến ngay ngày hôm sau. Ý nghĩ đó khiến tôi lo âu đến gần như không ăn nổi.

Hamida và Sufia chỉ đến một lần. Tôi nhớ hai người nhưng không mong đợi nhiều hơn thế vì tôi biết đường thì xa mà hai người còn bổn phận đối với gia đình. Đến một nhà tạm trú có thể bị dòm ngó và gây nguy hiểm cho tất cả. Tôi sẽ luôn nghĩ về họ với lòng trìu mến và biết ơn sâu đậm, khi nhớ rằng hai người và bà Franklin đã lập kế hoạch giúp tôi thoát khỏi naseeb đang chờ tôi nếu tôi trở về với chồng. Tuy nhiên, kế hoạch của tôi đã không tính trước việc gì có thể xảy ra cho Badriya. Hamida và Sufia gặp chị ta một lần ngay sau ngày tôi biến mất. Họ nói chị ta trông ngờ vực và tức tối, nhưng dường như tin sự kinh ngạc của họ khi nghe rằng không biết tôi đã đi đâu. Tôi chắc Abdul Khaliq sẽ không bao giờ cho chị ta trở lại Kabul, và ái ngại khi nghĩ đến Abdul Khaliq sẽ đối xử với chị ta ra sao khi chị ta trở về nhà. Dù chị ta không tốt với tôi, tôi không mong bất cứ ai phải chịu sự phẫn nộ của ông ta.

Ở nhà tạm trú, tôi có thì giờ ngồi lại và suy ngẫm mọi việc đã xảy ra. Tôi cảm thấy hổ thẹn khi nhớ ngày tôi cãi vả với Khala Shaima, gắt gỏng với bà rằng học vấn mà bà dục tôi theo đuổi chẳng giúp gì được cho tôi.

Đâu phải thế.

Chỉ vì tôi biết chữ nên tôi mới có thể theo Badriya đến Kabul. Chỉ vì tôi biết cầm bút nên tôi mới có thể trở thành phụ tá của chị ta và có thể cùng Hamida và Sufia làm việc ở phòng tài liệu và huấn luyện. Mấy năm đi học của tôi đã giúp tôi đọc được tờ quảng cáo của tiệm thẩm mỹ trên cửa kính tiệm, để tìm ra con đường nơi bà Franklin đang lo lắng chờ giúp tôi trốn thoát.

Con xin lỗi, Khala-jan. Con xin lỗi con chưa hề cám ơn dì đã chống chọi cho con, cám ơn tất cả mọi điều dì dạy bảo, những câu chuyện dì kể lại, cuộc đào thoát dì ban cho.

Tôi chỉ có một điều hối tiếc, rằng tôi không thể nhắn tin cho Khala Shaima biết tôi đã an toàn trốn thoát. Tôi hy vọng bà không nghĩ rằng Abdul Khaliq đã giết tôi, cầu mong bà không tìm cách đến thăm tôi ở khu nhà của Abdul Khaliq, vì bà sẽ gặp người chồng rất tức giận của tôi. Nhưng tôi muốn gửi tin cho bà, bằng cách này hay cách khác — tôi phải thử. Tôi sẽ đặt bút lên giấy và viết cho người dì thân yêu của tôi vài lời, để bà có thể chia xẻ điều tôi đã có thể thực hiện, điều bà đã cho tôi sức mạnh để làm.

Cuối cùng tôi thuyết phục được bà Franklin gửi một lá thư cho Khala Shaima.

Lá thư, đề gửi Khala Shaima, là của một người họ hàng xa, chỉ nói những chuyện không gian tươi mát, tiếng chim hót vui tai, và niềm hy vọng gia đình có thể chóng thăm nhau.

Tôi không có cách nào biết được thư có đến nơi hay không, nên tôi chỉ có thể hy vọng lá thư đã tìm ra Khala Shaima. Chỉ sau nhiều năm, thật dài như cả một kiếp người, tôi mới biết chị của bà, Khala Zeba, đã tìm ra lá thư trong tay bà. Dù sao đi nữa thì Khala Zeba cũng không hiểu gì, vì bà chưa từng đi học và không biết chữ. Dù sao đi nữa thì bà đã quá bấn loạn khi thấy em mình lạnh lẽo không hơi thở nên không để ý đến lá thư. Nhưng hai tuần sau, khi nhịp điệu cuộc sống của bà trở lại và những con chim đã tận sức cầu nguyện trên ngôi mộ của Khala Shaima, bà nhờ chồng đọc thư và thấy khó hiểu, tự hỏi người họ hàng nào đã viết cho người em khuyết tật của bà về những chuyện vặt như là chim chóc và thời tiết.

Lá thư ký tên Bibi Shekiba.




chú thích:

(1) Madar-jan: tiếng gọi mẹ

(2) Bacha posh: con gái trước tuổi dậy thì giả trai để giúp trong những việc cần phái nam. Nghĩa đen của từ này là: mặc (posh) như con trai (bacha)

(3) Bibi-jan: tiếng gọi phụ nữ vai bà, ở đây là bà nội của Rahima

(4) Khala-jan: tiếng gọi phụ nữ vai dì, cô, ở đây là mẹ của Rahima gọi mẹ chồng

(5) Padar-jan: tiếng gọi cha

(6) Khala Shaima: chị ruột của mẹ Rahima

(7) Agha-sahib: tiếng gọi kính trọng (thưa ông, thưa ngài, thưa ông chủ…) dành cho đàn ông

(8) Bachem: tiếng gọi vai con

(9) Rohila là em gái kế Rahima

(10) Korma-katchaloo: một món khoai tây hầm

(11) Không rõ Muneer vai anh hay là em của Rahima

(12) Salaam: hòa bình – tiếng chào trong ngôn ngữ Ả Rập. Thường là dạng tắt của tiếng chào thông thường của đạo Hồi As-salamu alaykum

(13) Moallim: tiếng gọi giáo viên

(14) Badriya: vợ cả của Abdul Khaliq, có con trai là Hasthmat ngang tuổi với Rahima, không biết chữ, đắc cử nghị viên nhưng thực ra hoàn toàn bỏ phiếu theo lệnh của Abdul Khaliq

(15) Kabul: thủ đô của Afghanistan

(16) Abdul Khaliq: chồng của Rahima, lớn tuổi, đã có ba vợ khi cưới Rahima, thủ lãnh vũ trang địa phương

(17) Jirga: hội đồng bộ tộc

(18) Jahangir: con trai nhỏ của Rahima

(19) Bibi Gulalai: mẹ của Abdul Khaliq

(20) Jameela: vợ thứ nhì của Abdul Khaliq

(21) Naseeb: định mệnh, số phận

(22) Maroof: tài xế dưới quyền Abdul Khaliq

(23) Shahnaz: vợ thứ ba của Abdul Khaliq

(24) Hassan: lính gác dưới quyền Abdul Khaliq

(25) Abdul Khaliq đã dùng dao găm xén tóc của Rahima sau bốn mươi ngày để tang Jahangir vì đổ lỗi cho Rahima không biết chăm sóc con

(26) Hashmat: con trai của Abdul Khaliq và Badriya, ngang tuổi với Rahima và đã từng gặp Rahima khi cô còn là bacha posh

(27) Bacha: trẻ con

(28) Shekiba là tên của một bà tổ của Rahima, cũng từng là bacha posh. Khala Shaima đã kể chuyện Shekiba cho chị em Rahima nghe để khuyến khích tinh thần độc lập của họ

(29) Franklin: giáo viên dạy tiếng Anh ở phòng tài liệu và huấn luyện dành cho phụ nữ trong quốc hội do ngoại quốc tài trợ

(30) Sufia và Hamida: hai nữ nghị viên bạn của Rahima

bài đã đăng của Nadia Hashimi


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)