Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Giới thiệu tác giả, Kịch đương đại Việt Nam & thế giới, Nhận Định Email bài này

Dorothy Hewett- Đại Kỳ Nữ Của Nền Văn Chương Úc

Chuyên đề kỳ nầy của Da Màu là về “kịch nghệ đương đại của Việt Nam và thế giới”. Dorothy Hewett, sinh năm 1923 và qua đời 2002, tuy không thuộc dạng “đương đại” nhưng là một kịch giả không thể không nhắc đến khi nói về ngành kịch nghệ của nước Úc.

Thật ra, ngoài là một nhà viết kịch, bà còn là thi sĩ, tác giả tiểu thuyết, (cựu) thành viên đảng Cộng Sản, và một phụ nữ phóng đãng trong lãnh vực tình yêu lẫn tình dục. Có thể nói là bà đều nổi tiếng về tất cả các thứ vừa kể trên ngang ngửa nhau. Khi Dorothy Hewett qua đời, ngành báo chí điện ảnh tuyên dương bà là “Đại Kỳ Nữ của nền văn chương Úc”.

Cuộc đời Dorothy Hewett tuy không phải là một biểu tượng toàn diện của ngành kịch nghệ Úc, nhưng nó hé mở vài góc cạnh của các sinh hoạt sau những tấm màn nhung của một số văn nghệ sĩ nền tảng nhất. Câu chuyện đời bà vẫn còn được đem ra bàn luận nóng sốt vào năm ngoái (2018) vì một diễn tiến xảy ra mà tôi sẽ kể rõ ở phần cuối bài.

Như vừa nói ở trên, khi nhắc đến kịch nghệ Úc là phải nói đến Dorothy Hewett. Mà khi nói đến những tác phẩm của bà là phải nói về đời sống riêng tư của bà. Có thể nói rằng không có kịch giả Úc nào đem nhiều chi tiết cá nhân đời mình lồng kết vào những tác phẩm nghệ thuật như bà Hewett. Mức độ lồng kết nầy đã làm cho đời sống cá nhân và nghệ thuật của bà hầu như trở thành một quyển kịch truyện vĩ đại nửa hư nửa thật, vừa tỏ bày, vừa ngạo nghễ và tất cả đều trực diện thẳng thừng một cách cuồng nhiệt và tàn khốc.

Cho đến khi 12 tuổi, vì sống ở một nông trại xa xôi trong miền quê tiểu bang Tây Úc, bà chỉ được giáo dục bằng lối hàm thụ. Tuy vậy bà bắt đầu làm thơ từ khi còn rất bé. Khi gia đình dọn về thành phố Perth (thủ phủ của Tây Úc) bà mới bắt đầu thật sự được vào một trường học. Năm 1938, bài thơ tựa đề Mơ (“Dreaming”) bà sáng tác từ lúc 9 tuổi được chọn để xuất bản trong một tuyển tập thơ được xem là tiêu biểu của học sinh Úc. Sau trung học, bà vào trường đại học Tây Úc học ngành Văn Chương Nghệ Thuật nhưng bỏ dở nửa chừng để lấy người chồng đầu tiên vào năm 19 tuổi.

Năm 1945, lúc 22 tuổi, bà đoạt giải nhất toàn quốc trong cuộc thi thơ do Đài Phát Thanh Úc tổ chức (Australian Broadcast Coporation hay ABC). Cũng trong năm nầy, bà tham gia đảng Cộng Sản Úc và trở thành một thành viên tích cực cho đến năm 1968, lúc 55 tuổi, khi Tiệp Khắc bị Nga xâm chiếm, bà rời bỏ đảng cộng sản để bày tỏ sự chống đối.

Dorothy Hewett chưa bao giờ là một người phụ nữ yếu đuối. Trong quyển tự truyện Lá Bài Hoang (“The Wild Card” – 1990), bà kể lại một giai đoạn trong đời bà lúc còn trẻ làm việc ở một xí nghiệp giữa thập niên 1950:

Tôi bị xưởng se chỉ dệt Alexandria Spinning Mill đuổi việc vì tôi có thai 8 tháng. Tuy nhiên trước khi rời xưởng tôi đã làm được 2 việc. Thứ nhất, trong buổi họp thường niên của Nghiệp Đoàn Thợ Chỉ Dệt, tôi đã đứng lên kêu gọi tranh đấu cho quyền lãnh lương bình đẳng của thợ phụ nữ. Toàn buổi họp náo loạn lên cả. Họ phải ra lệnh mọi người im lặng và trật tự, rồi sau đó họ pha lờ luôn lời kêu gọi của tôi. Thứ hai, tôi giàn xếp với chi nhánh đảng Cộng Sản ở khu vực Redfern in ra nhiều bản sao của bài viết “Xỏ Lên” (1) rồi đứng phân phát ra ở trước hãng chỉ dệt. Bài nầy bắt đầu bằng câu nói nổi tiếng của Les Flood (2): “Có một danh từ dành cho người đàn ông ăn bám vào công sức của đàn bà…”

Tất cả tác phẩm văn chương hay kịch nghệ của Hewett đều đưa người đọc và người xem vào gần như hẳn bên trong thế giới riêng tư của bà. Những gì xảy ra trong các tác phẩm nầy thường cũng là những gì đã xảy ra trong cuộc đời bà. Tuy nhiên vì cuộc đời bà được phơi bày một cách trần trụi không e dè như vậy, bà thường gặp những phản đối và chỉ trích từ gia đình cũng như bạn bè và đồng nghiệp. Đặc biệt là các nhà phê bình, họ có vẻ chú trọng rất kỹ càng về bất cứ những gì bà làm, không những về đời sống buông thả của bà và còn về những gì đáng được xem là hay đẹp nếu nó xảy ra với hầu như bất cứ ai khác trong giới văn nghệ sĩ.

Có lẽ kịch phẩm nổi tiếng nhất của bà là vở Ngôi Nhà Nguyện Hiểm Nghèo (“The Chapel Perilous”) sáng tác năm 1971. Ngôi Nhà Nguyện Hiểm Nghèo kể lại cuộc đời trôi nổi, và sôi nổi, của Sally Banner từ khi còn là một cô học trò cứng đầu hoang đãng “từ lời nói đến hành động” cho đến lúc trở thành một phụ nữ 30 tuổi, vẫn ương ngạnh bất khuất như thuở nào. Đây là một tác phẩm thuộc dạng siêu thực về nhiều khía cạnh. Mặc dù các diễn tiến trong cốt chuyện vẫn có một thứ tự thời gian bình thường từ khởi đầu lần lượt đến kết thúc, cách trang trí và trình bày trên sân khấu gián tiếp cảnh báo cho khán giả về những nội dung lãng đãng như mộng ảo trong từng màn cảnh sắp diễn ra.

Thí dụ như ngay trong màn bắt đầu:

Hằn in lên tấm phông mang màu nền trời trên sân khấu là hình dáng căn nhà nguyện trong trường trung học với một tấm cửa sổ kính màu (loại vẫn thường thấy ở các ngôi thánh đường khác). Có điều là khán giả sau nầy sẽ được biết rằng tấm cửa sổ kính màu nầy mang chân dung của Sally Banner. Có ba bực thang dẫn lên nhà nguyện… Và bên trong là ba bục cao với một bàn thờ chất ngất. Trong suốt vở kịch, trên mỗi bục cao nầy là một tấm mặt nạ lớn, đủ để một diễn viên có thể đứng núp phía sau. Phía trước mỗi tấm mặt nạ có gắn một chiếc loa lớn. Ba tấm mặt nạ nầy đóng vai những kẻ có thẩm quyền phán xét mọi hành vi của mọi người khác trong căn nhà nguyện cuồng loạn đầy dâm dục nầy. Một tấm tượng trưng cho bà Hiệu Trưởng, một tấm cho Cha Giảng Đạo và một tấm cho Thánh Nữ Rosa. Có khi ba diễn viên nầy đóng vai của những tấm mặt nạ mà họ đang ẩn núp, có khi họ bước ra ngoài các tấm mặt nạ để gia nhập với mọi người trong vở kịch và trở thành những nhân vật khác…

Rất khó có thể tóm lược nội dung cốt chuyện của vở Ngôi Nhà Nguyện Nguy Hiểm. Đó là vì cốt chuyện của nó không liền lạc và không tiên đoán được. Tuy nhiên, người xem có thể thấy khá rõ hai điều.

Thứ nhất là nội dung kịch, và cách trình diễn, mang rất nhiều tính chất “thơ”. Các bài hát, bài thơ, bài nguyện và các bài nhạc nền cho các vũ khúc trong vở kịch thường xuyên chứa đựng đầy những câu đoạn thi ca góp nhặt từ nhiều nguồn khác nhau (một số do chính bà sáng tác). Với cách viết kịch nầy, bà đã pha trộn và liên kết các kịch phẩm với các thi phẩm trong nền văn chương Úc.

Dưới đây là một đoạn thí dụ ngắn được xem là tiêu biểu cho khuynh hướng pha trộn hai lãnh vực văn chương khác nhau, kịch và thơ, của bà.

Tiếng nói của các mặt nạ thẩm quyền phán xét phát ra từ những chiếc loa:

[Tiếng nói của Bà Hiệu Trưởng] Sally Banner là một những cô học trò của tôi đã vào được đại học. Nhiều cô học trò cũ đã trở về thăm tôi. Tôi mong chờ cô nầy mãi nhưng cô không bao giờ trở lại. Khi nước Pháp mất, tôi đứng khóc trước lớp mà không có đứa học trò nào hiểu tại sao.

[Tiếng nói của Thánh Nữ Rosa] Là một kẻ vô thần chủ hòa, một con cộng sản, một đứa xúc phạm thần thánh, cô ta đã lăng loàn đĩ thõa hết cả cuộc đời niên thiếu của mình và chúng ta không bao giờ được yên ổn.

[Tiếng nói của Cha Giảng Đạo] Tôi sẽ viết cho cô ấy một giấy chứng nhận hạnh kiểm, vì, theo những gì tôi thấy, cô ấy là một cô gái Công Giáo trong sạch.

… Một phóng viên hãng Đài Phát Thanh Úc (ABC) cầm trên tay một chiếc máy vi âm bước vào sân khấu.

[Phóng Viên] Và mọi người ai cũng bàn bạc về những thành tích vĩ đại của Sally Banner: đoạt giải nhất, nhì và ba trong cuộc tranh tuyển về giải thơ Jindyworobak (3). Thưa bà Banner, theo tôi biết thì Sally là một người hoang… ơ…phóng khoáng khi còn là sinh viên đại học phải không?

[Mẹ của Sally Banner] Thiệt ra thì nó cũng không hơn gì phần đông những đứa khác. Lúc đó là thời loạn lạc. Lính Mỹ tràn đầy ở đây, họ bỏ thuốc khích dâm vào các ly sữa sinh tố cho mấy đứa gái của mình uống. Nó làm cho chúng nổi loạn lên cả. Chúng tôi ai cũng lo lắng về mấy đứa con gái của mình. Người mẹ đàng hoàng nào mà không như vậy? [Nói nhỏ một bên] Thật ra con nhỏ đó là một con ngựa bà chuyên nghiệp. Nó nằm ngửa ra chỗ nào cũng được và làm chuyện đó giống như một con chó cái. Cũng giống như là nó muốn trừng phạt chúng ta hay sao đó. Tại sao, chúng ta đã làm gì chứ? Chúng ta chỉ thương yêu và muốn bảo vệ nó mà thôi… (Màn 1)

Điều thứ hai mà người xem kịch nào cũng thấy đó là Ngôi Nhà Nguyện Hiểm Nghèo mang tràn trề tính chất tình dục ngay từ câu đối thoại đầu tiên cho đến phút sau chót, không khác gì dòng nham thạch nóng bỏng chảy ràn rụa mọi phía. Thật ra thì trong vở kịch không có cái gì dâm đãng phô bày trực tiếp và lời lẽ thuộc dạng thô tục thì rất hạn chế. Tuy vậy – hay cũng có thể là chính vì vậy – mỗi góc cạnh, ngõ ngách của toàn bộ vở kịch ướt đẫm những đeo đuổi, những hành vi và những khát khao tình dục.

Nhân vật chính Sally Banner trải qua thời thơ ấu và niên thiếu vào thập niên 1920 ở vùng đồng quê tiểu bang Tây Úc. Cũng giống như bà Hewett. Vở kịch nói về những chàng bạn trai của cô gái nhỏ Sally, sau đó họ bị cuốn trôi mất hút vào Thế Chiến Thứ II, về khoảng thời gian cô sống ở Sydney, trở thành một thành viên đảng cộng sản và một người vợ hoang đàng, về những lôi cuốn nổi trôi trong các trò chơi tình dục, những mối tình nảy sinh từ các cuộc chơi tình dục, và những cuộc chơi tình dục nồng cháy và thỏa mãn nhất xảy ra từ tình yêu. Sally Banner là biểu tượng của một cuộc cách mạng tình dục. Đối với Sally, tình dục là nổi loạn, là một cuộc viễn chinh tìm kiếm mối tương tác chân chính nhất giữa con người với con người. Nhưng than ôi, cuộc đời cô chỉ gặp phải, và cặp phải toàn những tên đểu giả, lừa bịp, những gã vũ phu, thù ghét phụ nữ, và theo lời của cô, những cái mặt tởm lợm như cứt ỉa nhưng dường như vì lý do gì đó cô cứ sa vào và trao tình đều đặn.

Cũng không khác gì lắm với nữ sĩ Dorothy Hewett của chúng ta.

Như đã nói ở trên, mặc dù đã qua sau bao nhiêu năm, cuộc đời của “đại kỳ nữ Úc” nầy vẫn còn thu hút sự chú ý đáng kể của rất nhiều người, trong đó có các khán giả và độc giả ngưỡng mộ nhiệt tình lẫn những nhà phê bình đầy lời chỉ trích.

Vào giữa năm ngoái, 2018, hai người con gái của bà (Kate và Rozanna Lilley, con của người chồng thứ ba, Merv Lilley) được tuần báo The Weekend Australian, và sau đó là đài truyền hình số 10, phỏng vấn về khoảng đời niên thiếu của họ khi còn ở chung với mẹ họ. Trong các cuộc phỏng vấn nầy, hai chị em kể lại rằng từ khi họ bắt đầu đến tuổi dậy thì, mẹ họ thường khuyến khích và tạo cơ hội cho họ làm tình với những nam văn nghệ sĩ thân hữu của bà khi những người nầy đến thăm viếng hay họp mặt ở nhà bà. Tất cả những nam văn nghệ sĩ nầy đều lớn tuổi hơn hai chị em rất nhiều.

Các chi tiết sốt dẻo nầy mang đến những phản ứng đối nghịch hẳn nhau từ dư luận. Chẳng hạn như có một số người e ngại điều nầy sẽ làm hư hại danh tiếng của bà Hewett. Họ phản đối sự thổ lộ của hai người con gái một cách công khai và giận dữ. Theo họ, những chuyện như vậy mặc dù có thể đã xảy ra thường xuyên trong giới văn nghệ sĩ ở thập niên 1970, nhưng bây giờ không có gì cần thiết hay ích lợi để đem ra phân tích và phê phán. Có những người khác thì lại lớn tiếng cho rằng bà Hewett hoặc chịu ảnh hưởng của tư tưởng cộng sản vô đạo đức, hoặc là một kẻ theo chủ nghĩa nữ quyền quá đà, hoặc chỉ là một thí dụ tiêu biểu của những văn nghệ sĩ buông thả.

Hai người con gái, chính bản thân họ cũng là các văn sĩ có tên tuổi, thú nhận rằng họ cảm thấy bất ngờ và sợ hãi trước các phản ứng mà họ nhận được. Theo Kate và Rozanna, họ yêu thương mẹ họ và luôn luôn cảm thấy được mẹ họ yêu thương. Tuy nhiên, theo Rozanna, mẹ cô có vẻ không bao giờ muốn nuôi nấng hai chị em cô theo những phương cách giống như các bà mẹ bình thường khác, và bà cũng có vẻ như không nhìn thấy được những nhu cầu tình cảm lúc dậy thì của hai đứa con gái bà.

Trong quyển truyện tựa Nghêu Sò Có Biết Buồn Chán Không (“Do Oysters Get Bored”) của Rozanne, cô viết: “Mẹ tôi không cố ý gây tổn hại cho tôi, nhưng đồng thời bà cũng không bảo vệ tôi. Bà biết rõ tất cả mọi sự việc xảy ra trong nhà bà, và bà cho rằng những trao đổi tình dục như vậy chỉ là những chuyến du hành vào những góc cạnh khác lạ trong cuộc đời, và gia đình chúng tôi là những người quá trưởng thành và thượng cấp để cần phải tuân thủ theo các lề thói thông thường của xã hội trong vấn đề nầy.”

Có người cho rằng theo những gì Rozanne kể lại, Dorothy Hewett dường như là một người tuy có khả năng hạn hẹp trong việc nhận định và hành xử nhưng đồng thời có biệt tài tạo dựng ra những ấn tượng cần thiết để người khác, và chính bà, cảm thấy an tâm đồng tình với những gì bà muốn xảy ra chung quanh mình. Thay vì cảm nhận được nỗi băn khoăn của hai cô con gái trẻ và chỉnh đổi môi trường gia đình lại để thích ứng cho con thì bà lại lựa chọn những giải thích lý tưởng hoa mỹ để củng cố lối sống và sở nguyện của chính bà.

Cả Kate và Rozanna đều nghĩ rằng mẹ họ có thể đã thật sự tin rằng bà đã khai sáng hai đứa con gái trẻ của mình bằng cách cho chúng gia nhập vào thế giới tình dục của những người trưởng thành. Rozanna nói, “Mẹ tôi tin tưởng mãnh liệt rằng tình dục là một cái gì thượng đẳng. Tôi nghĩ bà thật sự tin rằng bà đang mang đến cho chúng tôi một phong cách sống tự do và phóng khoáng”. Và Kate cũng cho biết, “Mẹ chúng tôi chắc chắn nghĩ rằng bà đang làm một điều tốt đẹp cho chúng tôi. Bà luôn luôn mơ ước có được lối sống nầy và bà không nhìn thấy những đứa con trẻ như chúng tôi có các nhu cầu gì khác cả.”

Cả hai chị em, họ kể lại, ngoài những trải nghiệm tình dục “tự nguyện” với các người đàn ông lớn hơn nhiều tuổi, họ còn bị cưỡng hiếp nữa. Trong trường hợp Kate khi còn dậy thì, cô bị một người đàn ông cưỡng hiếp và người nầy sau đó tiếp tục trở thành bạn tình của mẹ cô. Trong một bài thơ của Kate, cô viết: “Tôi kể lại cho Mẹ nghe và bà nói / Bà đã hỏi và ông ấy nói rằng tôi đã thuận tình / Từ giây phút đó tôi biết là vô ích / Mẹ sẽ không bao giờ đứng bên phe tôi…” Và chính bài thơ nầy dẫn đến nhiều lời lên án gắt gao nhất về cách hành sử của bà Hewett đối với hai đứa con gái của bà.

Nhưng ngay Kate cũng cho biết: “Mẹ tôi không phải mà một người mẹ khuôn mẫu nhưng bà là mẹ chúng tôi… Tôi nghĩ ngay khi bà có những hành vi độc hại, bà chưa hề bao giờ không thương yêu chúng tôi. Và đôi lúc trong khi tôi ghét bà, tôi cũng luôn luôn thương yêu bà. Đây là sự thật. Và đây là một điều phức tạp thật sự. Nếu ai không nhìn nhận sự thương yêu nầy thì họ chỉ đang đơn giản hóa toàn bộ vấn đề…”

Những câu chuyện như của Kate và Rozanna thật sự xảy ra cũng khá thường trong những gia đình phóng khoáng ở thập niên 1970. “Yêu tự do” là khẩu hiệu biểu tượng của một cuộc cách mạng tình dục, một tiến trình với mục đích tháo gỡ các cột ràng trong quan hệ của các thế hệ trước đó. Tuy nhiên cuộc cách mạng nầy cũng làm cho những kẻ yếu đuối, đặc biệt là các cô gái trẻ non dại, trở thành những “con mồi thơm tho”.

Kate cho biết cô được ảnh hưởng bởi phong trào #MeToo (4) bùng khởi gần đây khi cô ra mặt kể lại chuyện đời thơ bé của mình. Đây là một phong trào mang đến tiếng nói cho những cá nhân đã từng nằm trong vị thế “lót đường” cho những cuộc hành trình tình dục của những kẻ có uy quyền hơn họ. Kate kể lại, “Người ta thích chị em chúng tôi có mặt trong những buổi tiệc ăn chơi của họ. Chúng tôi là gái tơ hơ hớ. Chúng tôi là những trái cấm họ thòm thèm vói tay hái bắt… Phong trào #Me Too  mang chúng tôi trở lại những hiện trường cũ để chúng tôi có dịp thấy hiểu tận tường hơn những gì đã xảy ra…”

Khi nói chuyện với đài truyền hình số 10, hai chị em đồng biểu lộ một sự trầm tĩnh dịu dàng, nhẹ nhàng. Họ phê bình thẳng thắn mẹ họ với một sự chấp nhận và tha thứ. Họ không hoan nghênh sự chú tâm của mọi người chung quanh đang xỉa rọi vào họ, nhưng họ cũng không rụt rè né tránh nó. Họ trình bày các câu chuyện về đời họ với một tư cách tỉnh táo và nghiêm trang. Điều đáng kể nhất là họ đang phơi bày những nỗi đau trong quá khứ nhưng đồng thời không hề biểu lộ một vẻ cay đắng nào. Có đôi khi họ tức giận, có đôi khi họ buồn bực, nhưng không bao giờ cay đắng. Đó là một thành tích rất đáng nể phục vì tuy hai chị em đều bị mẹ họ làm tổn thương phần đời thơ trẻ của họ, nhưng họ vẫn nhìn nhận rằng người mẹ đó đã yêu thương họ và họ vẫn tiếp tục yêu thương người mẹ đó.

Đó cũng là một vị thế cần rất nhiều can đảm vì tất cả những gì họ cảm nhận vẫn còn xen lẫn những dữ kiện xung đột nhau và các câu hỏi có lẽ không bao giờ trả lời được. Cả hai chị em đều có vẻ như không cố tìm cách tạo dựng lên những hoàn cảnh hay đặt bày ra các câu trả lời để giải thích các dữ kiện xung đột trên hay để thỏa mãn vị thế hay tâm tình của họ. Họ có vẻ chỉ nói ra những gì họ cho là thực tế và thật sự đã xảy ra.

Những thố lộ của Kate và Rozanna Lilley vừa thu nhỏ và đồng thời vừa khuếch đại những truyền thuyết về Dorothy Hewett. Những câu chuyện kể của họ trưng bày các khía cạnh cực đoan trong tư tưởng, và thái độ, của kịch giả nổi danh nầy về tình yêu và tình dục hoàn toàn tự do, không ranh giới, không khuôn khổ, không hạn chế bởi lề thói xã hội hay gò bó bởi truyền thống gia đình. Bà là một người tự lập, tự chủ và hoàn toàn thành công trong việc phổ biến các tư tưởng phóng khoáng trên qua những tác phẩm nghệ thuật của mình. Nhưng những câu chuyện của hai cô con gái cũng đồng thời phơi bày một người đàn bà với nhiều yếu đuối và lầm lỗi đằng sau một Dorothy Hewett lẫy lừng danh tiếng.

Nhiều người cho rằng chính những yếu đuối, lỗi lầm nầy làm cho độc giả và khán giả ái mộ bà thấu hiểu hơn, phần nào, về nhân vật thần thoại Hewett. Và nếu có những chi tiết trong quyển tự truyện Lá Bài Hoang của bà trước đây có thể có vẻ không đầy đủ thì ngày nay có lẽ sẽ được giải thích thêm ít nhiều.  Thay vì e ngại các câu chuyện kể của Kate và Rozanna sẽ làm hư hại danh tiếng của mẹ họ, có lẽ tất cả chúng ta nên cám ơn hai người nầy đã can đảm chia sẻ với chúng ta những khía cạnh làm toàn diện hơn hình ảnh của đại kỳ nữ Úc Dorothy Hewett.

 

Chú thích:

(1) Xỏ Lên – Bobbin Up: quyển truyện của bà Hewett ấn hành 1959 dựa trên những gì xảy ra trong thời gian bà là công nhân xưởng chỉ sợi Alexandra Spinning Mills

(2) Sau khi ly thân với người chồng đầu của bà là Lloyd Davies (một luật sư và một ký giả đồng thời là một “đồng chí” thành viên đảng cộng sản của bà) vào năm 1948, bà Hewett dọn về ở Sydney và chung sống 9 năm với Les Flood, một thợ hàn đồng thời cũng là một thành viên đảng cộng sản. Bà sinh 3 người con trai trong khoảng thời gian nầy. Năm 1960, bà trở về thành phố Perth ở Tây Úc thành hôn với Merv Lilley, một thủy thủ thương thuyền và cũng là một thành viên cộng sản. Bà có 2 người con gái với ông nầy, tên Kate và Rozanne.

(3) Jindyworobak là một phong trào thơ văn, đặc biệt là thơ, được khởi xướng tại thành phố Adelaide, tiểu bang Nam Úc vào những thập niên 1930, 1940. Đa số thi sĩ tham dự là người da trắng với chủ đích xây dựng một nền văn chương và văn hóa hòa hợp với các đề tài, ngôn ngữ và truyền thuyết của người thổ dân Úc.

(4) #MeToo (“Tôi cũng vậy”) là tên một phong trào bắt đầu khởi dậy vào gần cuối năm 2017 trên mạng internet trong nhiều nước Âu, Mỹ, Úc Châu nhằm vạch trần cho mọi người biết về tệ nạn sách nhiễu và cưỡng bức tình dục đã và đang xảy ra rộng rãi trong xã hội như thế nào. Phần lớn các vụ sách nhiễu và cưỡng bức tình dục xảy ra tại các môi trường nghề nghiệp với thủ phạm là những người có quyền lực và nạn nhân là các người ở thế yếu hay dưới quyền. Những vụ gây nhiều chú ý nhất xảy ra trong môi trường văn nghệ với nhiều tên tuổi nổi tiếng là thủ phạm cũng như là nạn nhân.

 

bài đã đăng của Nguyễn Nhân Trí


@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)