Trang chính » Học Thuật, Nhân Văn, Tôn Giáo Email bài này

Sự chấm dứt của một Nước Mỹ Kitô Giáo


♦ Chuyển ngữ:
3 bình luận ♦ 18.05.2009

Tỉ lệ bách phân của những người tự nhận mình là một Kitô hữu đã tụt 10 điểm trong hai thập kỷ vừa qua. Con số thống kê này cho thấy chúng ta là ai trong hiện tại và, với tính cách một quốc gia, chúng ta sẽ trở nên như thế nào trong tương lai.

Tác giả: Jon Meacham | NEWSWEEK

Số ra ngày Apr 13, 2009

Đấy chỉ là một chi tiết nhỏ nhặt, một điểm so sánh vùi sâu nơi câu thứ năm trên trang thứ 17 trong bản tổng kết 24 trang của Bản Khảo sát về Bản sắc Tôn giáo của Người Mỹ năm 2009 (2009 American Religious Identification Survey). Nhưng khi R. Albert Mohler Jr.- Chủ tịch Chủng viện Thần học Baptist phương Nam, một trong những học viện kiểu này lớn nhất thế giới – đọc tài liệu này sau khi nó vừa phổ biến vào tháng Ba, chỉ một câu văn như vậy đủ đánh động tâm trí ông ta. Đối với một người tin đạo như ông Mohler- một người Kitô giáo bảo thủ, vững vàng, uyên thâm về khoa thần học của tín ngưỡng chuyên biệt mà ông theo, đã hiến mình vào công cuộc đào tạo các giáo sĩ nhằm rao giảng những điều không thể sai lầm của Kinh thánh và Phúc âm của đấng Kitô như là những phương cách duy nhất cho sự sống đời đời thì nội dung thông tin của bản khảo sát ấy quả là hết sức đáng lo lắng: con số những người Mỹ tự nhận mình không có tôn giáo đã tăng gần gấp đôi kể từ 1990, từ 8% đã tăng đến 15%. Sau đó, bản khảo sát đã đi đến một điểm khiến ông không thể xua khỏi tâm tưởng: theo lịch sử, dù những thành phần không nhập đạo này từng tập trung ở vùng Tây Bắc, bản tường trình cho thấy “mô hình này nay đã dịch chuyển, và vùng Đông Bắc đã nổi lên từ năm 2008 như một thành trì vững chắc của những người tự nhận mình không có đạo”. Theo Mohler, nền tảng lịch sử của nền văn hóa đạo giáo Mỹ đang rạn nứt.

“Chuyện ấy thực sự khiến tôi bị choáng mạnh” Tuần qua ông đã bảo tôi như thế. “Vùng tây bắc chưa từng là một khu vực đạo giáo, chưa bao giờ được giáo đoàn hóa như vùng Đông Bắc, vốn là một khu vực có nền tảng, có tính căn cứ địa của đạo giáo Hoa Kỳ. Ðể mất vùng New England đã thực khiến tôi choáng váng”. Nặng nề trong tâm tư vì bản báo cáo, ngay trước Tuần Thánh Mohler đã chuyển lên mạng internet một bài viết tuyệt vọng than tiếc cho sự suy thoái – và, ám chỉ rằng, sự sụp đổ sắp xảy ra – của một nước Mỹ từng được tạo dựng và thấm đẫm với Kitô giáo. “Một sự thay đổi quan trọng về văn hóa đang xảy ra chung quanh chúng ta” Mohler đã viết “Những nét chính yếu nhất của nền văn hóa Mỹ đã thay đổi đến tận gốc rễ. Cái gọi là sự đồng thuận theo giáo lý Do thái- Kitô giáo trong thiên kỷ qua đã phải nhường chỗ cho một loại khủng hoảng văn hoá hậu-hiện đại, hậu-Kitô giáo, hậu-tây phương đang đe dọa đến cốt lõi của văn hóa chúng ta”. Khi tôi và Mohler nói chuyện với nhau một vài ngày sau khi ông viết những điều trên, ông còn tỏ ra buồn chán hơn nữa. “Rõ ràng có một tự sự mới, một tự sự hậu-Kitô giáo đang đem lại sức sống cho một bộ phận đa số của xã hội này” ông phát biểu như thế từ văn phòng của mình trong khu đại học ở Louisville. Tiểu Bang Kentucky.

Sự thể chính là ở đây, Hậu – Kitô giáo, một ý nghĩa xưa cũ nhưng mang chứa một sự cấp thiết mới mẻ. Điều này không phải để bảo rằng Thiên chúa của Kitô giáo đã chết rồi, nhưng để nói rằng ngài đang kém đi sức mạnh trong nền chính trị và văn hóa của Hoa Kỳ so với những thời kỳ khác trong dĩ vãng gần đây. Trước sự ngạc nhiên của những người cấp tiến vốn sợ hãi sự lấn tới của một loại chính trị thần quyền và trước sự mất tinh thần của những người bảo thủ tôn giáo đang mong mỏi nhìn thấy đức tin của mình được biểu hiện đầy đủ hơn trong đời sống công cộng, những tín đồ Thiên Chúa giáo đang trở nên một thành phần sụt thoái trong dân số Hoa Kỳ.

Theo Bản Khảo sát về Bản sắc Tôn giáo vừa gây lo lắng cho Mohler, tỉ lệ bách phân của những người tự nhận mình là Kitô hữu đã tụt giảm 10% kể từ năm 1990, từ 86% xuống còn 76%. Dân số Do Thái giáo tụt 1.2%; Hồi giáo 0.6%. Một bài riêng trên Pew Forum đã phụ họa những kết quả của bản Khảo sát ấy, cho thấy rằng tỉ lệ phần trăm những người tự nhận mình không hề tham gia vào bất cứ loại tín ngưỡng cụ thể nào đã tăng đến 16%, nghĩa là gấp đôi trong những năm gần đây; trong phạm vi bầu cử, nhóm này đã tăng từ 5% trong năm 1988 đến 12% trong năm 2008 – gần bằng tỉ lệ các đại biểu cử tri người Mỹ gốc Phi Châu. (Bảy mươi lăm phần trăm những cử tri không theo một tôn giáo nào đã bầu cho Barack Obama, một người Kitô giáo). Trong khi đó, con số của những người tự nhận mình là vô thần hoặc theo thuyết bất khả tri đã tăng gần 4 lần từ năm 1990 đến 2009, nghĩa là từ 1 triệu người đến 3.6 triệu người. (Nghĩa là vào khoảng gấp đôi số dân Episcopalian ở Hoa Kỳ).

Dù chúng ta vẫn còn là một quốc gia được định hình mạnh mẽ bởi đức tin tôn giáo, nền chính trị và văn hoá của chúng ta, trên dòng chính, đã ít bị ảnh hưởng bởi các phong trào, các luận điệu có tính cách Kitô giáo rõ rệt như mới năm năm về trước vẫn còn. Tôi cho rằng đây là một điều tốt- tốt cho nền văn hóa chính trị của chúng ta, một nền văn hoá chính trị không cần đến các nỗ lực o ép, cưỡng bức để tôn kính hoặc đi theo các loại đức tin tôn giáo cũng đã đủ phức tạp và sôi động – như những Vị sáng lập nên đất nước Hoa kỳ đã từng nhìn thấy- Điều này cũng tốt cho Kitô giáo, theo nghĩa là nhiều người Kitô hữu đang tái phát hiện lại những cái hay của việc tách rời nhà thờ khỏi thế quyền, nhằm bảo vệ cho cái mà Rogers Williams, người sáng lập Rhode Island như một nơi an toàn cho những người bất đồng tôn giáo, gọi tên là “vườn hoa của nhà thờ” khỏi “chốn hoang dã của thế gian”. Tôn giáo đã và vẫn là quan yếu đối với sinh mệnh của tổ quốc nhưng sức mạnh đoàn kết của Hoa kỳ chưa từng là vì một đức tin đặc thù nào, trừ sự gắn bó với tự do – trong đó, tự do tín ngưỡng có vai trò quan trọng. Bằng hết sức mình, chúng ta không tách biệt tôn giáo ra như một cái gì đặc biệt hữu ích hay tác hại; trong lịch sử chúng ta đã từng xử lý các luận điểm có căn bản từ đức tin như một yếu tố giữa nhiều yếu tố khác trong môi trường cộng hòa của sự tranh luận và tạo quyết định. Sự suy thoái và sụp đổ của ý niệm về tôn giáo quyền hiện đại của Kitô giáo Hoa kỳ tạo nên được một môi trường chính trị trầm tĩnh hơn, và đối với nhiều người theo đạo, điều này sẽ giúp mở ra lộ trình mới cho một đời sống tôn giáo nghiêm túc hơn về mặt thần học.

Ta nên rõ ràng như thế này: mặc dù tỉ lệ bách phân những người Kitô giáo có thể co hẹp lại thật, những đồn đãi về cái chết của Kitô giáo vẫn chỉ là sự cường điệu. Trở thành bớt Kitô giáo không cần thiết là phải mang ý nghĩa rằng Hoa Kỳ là hậu-Kitô giáo. Một phần ba dân số Hoa kỳ tin rằng mình được tái sinh (cách nói tắt của “tái sinh trong Chúa” – BBT); con số này, cùng với sự giảm sút con số những người Tin lành dòng chính từ ôn hoà đến cấp tiến về mặt chính trị, đã khiến những người soạn nên Bản Khảo sát về Bản sắc Tôn giáo người Mỹ ghi nhận rằng “những chiều hướng này… cho thấy một phong trào chuyển hướng về những niềm tin bảo thủ hơn, cụ thể là đến quan điểm cực đoan, theo sát Phúc âm hơn giữa những ngưòi Kitô hữu”. Với sự gia tăng của những di dân Mễ chống đỡ cho giáo hội công giáo ở Mỹ, đồng thời xét đến sự phổ biến của giáo hội Ngũ tuần, một cộng đoàn phát triển nhanh chóng của Kitô giáo tại Hoa kỳ và trên toàn thế giới, ta thấy rằng đất nước này chắc chắn vẫn còn là một đất nước tôn giáo nhiệt thành, hơn nhiều so với các nước Âu châu.

Vẫn theo thăm dò của Newsweek, hiện nay ít người còn nghĩ rằng Hoa kỳ là một “quốc gia Kitô giáo” hơn là dưới thời gian George W. Bush làm tổng thống (62% trong năm 2009 so với 69% trong năm 2008). Hai phần ba công chúng (68%) hiện nay cho rằng tôn giáo đang “mất ảnh hưởng” trong xã hội Hoa Kỳ, trong khi chỉ có 19% cho rằng ảnh hưởng của tôn giáo đang tăng lên. Tỉ lệ những người Mỹ tin “tôn giáo có thể giải đáp được tất cả hay hầu hết những vấn nạn của ngày nay” giờ đang ở mức thấp nhất trong lịch sử. Trong thời của Bush là 43%, dưới thời Clinton, con số ấy chưa bao giờ xuống thấp hơn 58%.

Nhiều người Kitô giáo bảo thủ tin rằng họ đã thua cuộc trong cuộc chiến đấu với những vấn đề như phá thai, cầu nguyện trong trường học và ngay cả vấn đề hôn nhân đồng tính, và họ tin rằng đất nước hiện đang đi vào giai đoạn hậu-Kitô giáo. Chistopher Hichens – một người bạn và có lẽ còn là kẻ xách động có duyên nhất mà ta gặp được – đã viết một tập sách vô cùng nổi tiếng về vô thần vài năm trước “Thượng đế không Vĩ đại” (God is Not Great). Là một người giữ đạo theo Tân giáo (dù có thể đầy lỗi lầm), tôi không đồng ý với nhiều luận điểm của Hitchens- Tôi không nghĩ là ta sẽ đạt được ích lợi gì khi coi thường niềm tin tôn giáo như một thứ sai lầm và mê tín- nhưng Hitchens quả là một người trí thức chân chính nghiêm túc, người mà trong cuộc du hành đến Texas vừa qua, kể lại rằng đã nghe thấy những xì xầm trong giới tin lành Phúc âm về sự cận kề của một nưóc Mỹ “hậu-Kitô giáo”.

Trở thành Hậu-Kitô giáo đã từng có những ý nghĩa khác nhau trong những thời điểm khác nhau. Vào năm 1886 nguyệt san Atlantic đã mô tả George Elliot như một người “hậu-Kitô giáo”, mang ý nghĩa đồng nghĩa với vô thần hoặc bất khả tri. Ý nghĩa rộng rãi hơn- và thích đáng nhất cho đúng mục đích của chúng ta là định nghĩa rằng “hậu-Kitô giáo” tiêu biểu cho một giai đoạn tiếp theo của sự suy thoái tầm quan trọng của Kitô giáo trong một khu vực hay một xã hội. Việc xử dụng đến nhóm từ này lần đầu xuất hiện trong cuốn “Nước Mỹ được Tự do (“America Set Free”) vào năm 1929 bởi nhà triết gia Ðức Hermann Keyserling.

Ý nghĩa này được phổ thông hoá trong giai đoạn mà các nhà học thuật gọi là phong trào “cái chết của Thượng Ðế” trong giữa thập niên 1960- một phong trào vẫn còn sống động theo cách riêng của nó. Rút ra từ tuyên ngôn “Thượng đế đã chết” của Nietsche trong thế kỷ 19, một nhóm nhà thần học Tin lành đã cho rằng về thực chất, Kitô giáo sẽ phải tồn tại mà không có một cách hiểu chính thống về Thượng đế. Tom Alitzer, giáo sư tôn giáo ở Ðại học Emory, là một thành viên quan trọng của phong trào Kitô giáo không có Thượng đế, đã truy tìm những căn nguyên trí thức trước tiên từ Kiekergaard sau đó là đến Nietzsche. Ðối với Alitzer, kỷ nguyên hậu-Kitô giáo là một thời đại mà “cả Kitô giáo và chính bản thân tôn giáo đều được tháo gỡ khỏi xiềng xích của các nền tảng lịch sử trước đó”. Năm 1992, nhà phê bình Harold Bloom đã xuất bản một tác phẩm có tựa đề “Tôn giáo Hoa Kỳ: Sự xuất hiện của môt quốc gia hậu-Kitô giáo”. Trong tác phẩm này, ông dẫn chứng định nghĩa của William James về tôn giáo trong cuốn “Sự đa dạng của kinh nghiệm tôn giáo”: “Tôn giáo… đối với chúng ta sẽ có nghĩa là những cảm giác, hành vi và những chứng nghiệm của các cá nhân trong sự cô độc của mình, chừng nào họ còn hiểu được chính mình để đứng được trong mối quan hệ với bất kỳ điều gì họ quan niệm là sự thiêng liêng”.

Ðấy đúng là điều đã khiến Mohler lo lắng nhất. “Tự sự hậu-Kitô giáo khác biệt từ gốc rễ; nó đem đến tính tâm linh, định nghĩa theo cách nào đó, mà không có sự ràng buộc thẩm quyền nào,” ông bảo tôi. “Tự sự này được đặt căn bản trên một cách hiểu lịch sử phỏng định rằng đã có một dĩ vãng kém bao dung và rằng tương lai sẽ phải ngược lại, với hiện tại này như một bước chuyển tiếp quan trọng”. Hiện tại, trong ý nghĩa này, là một hiện tại trong đó ý nghĩa của cái chết của Thượng đế ít quan trọng hơn là sự nảy sinh vô số thần linh khác. Những con số tăng lên của người Mỹ tự nhận mình không gia nhập tôn giáo nào là những người có nhiều khả năng tự nhận họ là “sống tâm linh” hơn là “có đạo”. (Theo thăm dò của Newsweek, 30 phần trăm tự nhận mình theo cách này, vượt hẳn từ 24 phần trăm trong năm 2005).

Nói một cách đại cương, tự sự Kitô giáo là câu chuyện về con người – tấn thảm kịch của sự sáng thế, vấp ngã và chuộc tội – như đã được ghi chép trong Kinh thánh Hebrew và Tân Ước. Phái chính thống cố gắng để sống cuộc đời mình theo những nguyên tắc về đức hạnh chung trong Thánh kinh (hoặc tối thiểu theo những nguyên tắc trong đó mà họ hưởng ứng) đồng thời trù liệu cho cuộc phán xét cuối cùng của Thiên chúa- một sự phán xét có thể quyết định cho việc họ sẽ vĩnh viễn ở vào chốn thiên đàng hay địa ngục.

Vậy thì nói đến “Nước Mỹ Kitô giáo” là nói về cái gì ? Những người Kitô rao giảng Phúc âm từ lâu đã tin rằng Hoa kỳ nên là một đất nước có đời sống chính trị đặt căn bản và được cai quản bởi những nguyên tắc thần học và những giải thích về thánh kinh của họ. Chẳng hạn như nếu giáo hội tin rằng uống rượu là có tội thì luật pháp nên cấm mua bán rượu. Nếu giáo hội cho rằng thuyết tiến hóa là xung khắc ngược lại với nghĩa đen của sách Sáng thế, thì các trường công lập nên cắt xén bài giảng dạy cho phù hợp. Nếu giáo hội cho rằng nên đặt phá thai ra ngoài vòng pháp luật, thì toà án của đất nước này nên tuân thủ như thế. Cường độ của cảm giác về việc đất nước này nên Kitô giáo đến mức nào đã tăng lên rồi giảm xuống từ vụ Jamestown: quả đúng như Thánh kinh đã từng viết, không có gì mới lạ dưới ánh mặt trời. Trong suốt hơn 40 năm, cuộc tranh cãi bắt đầu từ quyết định của Toà án tối cao từ năm 1962 để chấm dứt việc bắt buộc cầu nguyện trong trường học (rồi gia tăng với phán quyết trong vụ kiện giữa Roe và Wade 11 năm sau đó) có lẽ đã không có gì ly kỳ nhưng thật sự đã rất khốc liệt. Lo sợ đến việc nước Mỹ có thể trở nên giống như một đất nước thế tục kiểu Âu châu, cánh hữu đã miệt mài vận động cho sự quay về với cái họ tin là một nước Mỹ Kitô giáo của ngày xưa cũ.

Nhưng tối thiểu là trong hiện tại, dự án ấy đã thất bại. Ở Texas, các chính quyền đã đứng về phía khoa học chứ không phải phía thần học trong cuộc tranh chấp về việc giảng dạy thuyết tiến hóa. Thời đại khó khăn ghê gớm về kinh tế này đã không hề dẫn đến sự gia tăng những người đi lễ nhà thờ. Ngày thứ sáu vừa qua ở bang Iowa, toà án tối cao đã phán quyết ngược lại với lệnh cấm hôn nhân đồng tính, một sự đánh bại những người Kitô giáo bảo thủ. Những bằng chứng ấy làm cho người theo đạo căng thẳng vì viễn cảnh của một thời đại được thống trị bởi những một chủ thuyết thế tục mới và mạnh bạo. “Việc giảng dạy đạo lý của Kitô giáo đã để lại ảnh hưởng không kể xiết được vào nền văn minh Tây phương” Mohler nói. “Khi những giảng dạy đạo lý ấy mờ nhạt vào trong ký ức văn hóa, một nền đạo lý kiểu thế tục sẽ thay thế. Một khi tính cách Kitô giáo bị dỡ bỏ bởi một phần dân số đáng kể, bề mặt đạo lý sẽ thay đổi một cách cần thiết. Qua phần lớn chiều dài thế kỷ 20, các nước Tây Âu đã dẫn đạo trong việc từ bỏ sự gắn bó với Kitô giáo. Những phản xạ và nguyên tắc đạo lý Kitô giáo đã phải nhường chỗ cho sự nắm giữ lỏng lẻo của ký ức Kitô giáo. Hiện thời, ngay cả ký ức Kitô giáo cũng đã vắng mặt trong đời sống của hàng triệu con người”

Tuy nhiên, sự khác biệt và ngờ vực trong tôn giáo đã luôn luôn là một phẩm chất Hoa Kỳ. Alexis de Tocqueville đã cho rằng “không khí đạo giáo của nước này là điều đầu tiên thu hút tôi khi đến Hoa kỳ,” nhưng ông cũng khám phá ra “một sự ngờ vực và hờ hững sâu sắc” về mặt tín ngưỡng. Jefferson trước đây cũng từng nắm bắt được tinh tuý của tinh thần Mỹ về tự do tôn giáo khi ông nhận định rằng đạo luật của ông về tự do tôn giáo ở Virginia là “để bao hàm được, trong phạm vi che chở của sự bảo bọc, Do Thái và “dân ngoại”[1], Kitô giáo và Hồi giáo, Ấn độ giáo và những người tà giáo đủ loại”- cùng những người không có một thứ đức tin gì. Nền văn hóa của Hoa Kỳ về tự do tôn giáo đã giúp tạo nên một thị trường tự do rất bận rộn về đức tin: chính từ các nhà thờ đứng ngoài tổ chức mà đất nước này đã làm cho tôn giáo trở nên phổ biến hơn chứ không kém đi.

Vậy thì Hoa kỳ không phải là một xã hội hậu- Kitô giáo – và không thể trở thành, chừng nào xã hội Hoa kỳ còn có con người ở trong đó, bởi vì đức tin là một thôi thúc nội tại của con người. Loại niềm tin vào một trật tự, hay từ một thực tại vượt ra khỏi không/thời gian đã có từ nghìn xưa và vẫn tồn tại bền bỉ. “Tất cả mọi người”, Homer đã nói “cần đến các thánh thần”. Câu hỏi thiết yếu của chính trị và văn hoá về các thánh thần này – hay nói cho chính xác hơn, một kiến thức hiểu biết chung về các thánh thần này – là các ngài sẽ chi phối đến tính tự nhiên của đời sống trong một giai đoạn, một không gian cho sẵn như thế nào ?

Nếu áp dụng cách thẩm định tính quốc gia kiểu Augustine cho mình, chúng ta sẽ thấy rằng chính tự do, chứ không phải tôn giáo, là điều đã giữ được chúng ta lại với nhau. Trong tác phẩm “Thành của Chúa” (“The City of God”), Augustine – một kẻ tội lỗi biết hối cải, vị Giám mục thành Hippo – đã nói rằng một đất nước nên được định nghĩa như “một hỗn hợp của những con người có lý trí trong một đồng thuận chung theo các mục đích yêu thương của họ”. Ðiều mà chúng ta đánh giá cao nhất – điều mà chúng ta cùng yêu thương nhất – chính là sự thẩm định chính yếu về sự thỏa thuận xã hội.

Ðánh giá từ hình thái bao quát của đời sống Hoa kỳ trong thập niên đầu thế kỷ 21, chúng ta quý trọng tự do cá nhân, kinh doanh tự do (hoặc phần lớn tự do) và có khuynh hướng thiên về chủ nghĩa tự do trong những vấn đề đạo đức cá nhân. Các tài liệu nền tảng là Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập và Hiến Pháp chứ không phải bản Kinh thánh Cựu ước và Phúc âm (dù có những liên quan không thể chối cãi giữa các tài liệu này). Phương cách sống này khác xa với cách sống mà những người Kitô giáo bảo thủ ưa thích. Nhưng đấy chính là sức mạnh của cơ chế Cộng hòa vốn đã được lèo lái bởi James Madison vào cuối thế kỷ thứ 18; rằng Hợp chủng quốc sẽ tồn tại trong mối tương quan trực tiếp với khả năng kiểm soát được sự cực đoan và gìn giữ được mức độ tối đa cho tự do cá nhân của nó. Những người theo đạo nên hân hoan đón nhận điều này; tự do cho một giáo phái phải có nghĩa là tự do cho tất cả các giáo phái. Như John F. Kenedy đã công bố trong diễn văn đọc trước Hiệp Hội các Giáo sĩ ở Houston năm 1960 : “Một người Công giáo bị điểm mặt ngờ vực năm nay, nhưng đã có những năm khác, và có thể sẽ có lại, khi một người Do thái giáo- một người Quaker- một người Theo thuyết nhất thể – hay một người Baptist bị như vậy… Hôm nay tôi có thể là nạn nhân – nhưng ngày mai có thể quý vị là nạn nhân – cho đến khi nào toàn thể cơ cấu của cái xã hội hoà hợp của chúng ta được xé toang ra”.

Tôn giáo đã từng là một nhân tố trong đời sống và chính trị Hoa kỳ kể từ khởi đầu. Kính trọng Anh Giáo là một điều bắt buộc ở Jamestown, và những người theo Thanh giáo ở New England đều dứt khoát hy vọng xây dựng một Jerusalem mới. Nhưng tin mà bị ép buộc là không tin gì cả; đó là sự chuyên chế bạo ngược. Roger Williams đã nói: “Tôi ca tụng người nào, dù là Do thái, Thổ nhĩ kỳ, thờ Giáo hoàng, hay bất cứ ai, không hướng về nơi nào ngoài sự thử thách tự lương tâm chính mình”.

Vào thời điểm những nhà lập quốc như Jefferson và Madison nhìn thấy được sự ưu việt trong việc bảo đảm một nền tự do cho lương tâm, và một trong những thành quả đáng kể của nền cộng hòa non trẻ là đã tạo nên một bối cảnh trong đó tôn giáo và chính trị được trộn lẫn nhưng giáo hội và nhà nước thì không. Ý tưởng của những bậc dựng nước là người ta có thể cũng cần cố gắng dựng nên một bức tường ngăn giữa kinh tế và chính trị, hệt như bức tường giữa tôn giáo và chính trị, bởi vì cả hai lãnh vực này đều là những gì dân chúng cảm nhận và cách họ nhìn thế giới. Hãy để những người ngoan đạo tự mình đứng lên trong các võ đài chính trị và tư tưởng và đấu tranh cho các quan điểm của mình trong nền tảng công bằng với các quyền lợi của người khác. Ðời sống công cộng của Mỹ không phải là toàn đạo giáo cũng như không phải toàn thế quyền mà như là một dung dịch không ngừng biến chuyển của cả hai. Lịch sử cho thấy rằng tình trạng đáng ngại có khuynh hướng xảy ra khi một trong những thế lực này trở nên quá mạnh trong đối trọng với thế lực kia.

Do đó các chiến thắng chính trị chỉ có tính nhất thời tự bản chất. Vào giữa thế kỷ 19, nhà truyền giảng Phúc Âm Charles Grandison Finney lập luận rằng “công việc cao cả nhất của giáo hội là cải tạo thế giới – nhằm loại bỏ đi tất cả mọi hình thức tội lỗi”. Ông nói Kitô giáo “cần tăng cường ảnh hưởng của mình để bảo đảm một nền lập hiến phù hợp với luật của Thiên chúa”.

Những thắng lợi về mặt thế tục thường đánh dấu điểm khởi đầu cho một tàn cuộc của phần tử tôn giáo ra mặt trong chính trị. Luật Cấm Rượu (Prohibition) khởi đầu được xem như một chiến thắng về đạo lý, nhưng việc nó thất bại và sau cùng bị bãi bỏ cho thấy một phong trào nên luôn cẩn trọng về những gì mình mong muốn: ở Hoa kỳ, ý chí của khối đông rộng lớn có khuynh hướng thắng thế ngay cả trước các nỗ lực kiên quyết của những nhóm theo đuổi các quyền lợi hẹp hơn.

Khi thế kỷ 20 trôi qua, những người Kitô giáo nhìn thấy mình ở trong một vị trí tương đối không gây tranh cãi là đối đầu với “chủ nghĩa cộng sản vô thần”, và lòng nhiệt tình hăng hái thời Luật cấm rượu và vụ kiện của Scopes[2] như đã nguội đi một chút. Các vấn đề về đạo lý cá nhân chứ không phải chính trị quốc tế, mới đặt nền tảng cho công cuộc vận động tiến tới nước Mỹ Kitô giáo mà chúng ta gọi là cuộc trỗi dậy của hữu phái tôn giáo. Hiện tượng ly dị trong những năm 60 cùng phán quyết Roe năm 1973 đã có vai trò quan trọng, và đức tin tái sinh của Jimmy Carter đã mang Kitô giáo Phúc âm quá khích đến dòng chính trong năm 1976.

Lớn lên ở Atlanta trong những năm 60 và 70, Joe Scarborough, nhà cựu lập pháp đảng Cộng hòa, cảm nhận được nỗi lo sợ cho cha mẹ và những bạn bè theo giáo phái Phúc Âm của họ – chính những nỗi sợ ấy đã giúp xây dựng sự hỗ trợ phong trào Kitô giáo Mỹ bảo thủ. “Mối lo lớn nhất ở vùng trung Mỹ là chúng tôi bị vây hãm – cha mẹ chúng tôi nhìn thấy bọn trẻ đi dưới phố vốn là những hướng đạo ba năm trước giờ bỗng như bọn Hippy và họ sợ hãi lắm”, Scarborough nói: “ Về mặt văn hóa, tình hình giống như tháng 10 năm 2001 suốt một thập niên. Suốt cả một thập niên dài. Và một khi cha mẹ tôi nhận ra là chúng tôi không hề biến mất đi trong chủ thuyết nổi loạn và ma túy thì nỗi lo ấy tan biến đi. Thế giới của chúng ta ngày nay là vậy đó – các bậc cha mẹ của thế hệ baby boomer 30 năm trước không chịu uống một ly rượu vang đỏ trước giờ uống đến vodka. Họ đã được giải phóng”.

Và họ đã hiểu ra rằng chính trị không hề có sẵn mọi lời giải đáp – một bài học mà, cùng với sự giải toả những lo ngại về cuộc nổi dậy văn hoá trong những năm 60, 70, có tác dụng kìm hãm lòng nhiệt thành chính trị phát sinh tự tôn giáo. “Lỗi lầm trầm trọng nhất của những người theo Phúc âm trong các phạm trù chính trị trong 30 năm qua đã là sự ngây thơ đáng kinh ngạc về chính trị, các chính khách và các đảng phái,” Mohler nói. “Họ đã đầu tư quá nhiều hy vọng vào một giải pháp chính trị cho các vấn đề và khó khăn vượt quá chính trị (transpolitical). Nếu chúng ta ở trong một tình huống có cung cách châu Âu hơn, nơi mà các đảng phái khác nhau căn bản từ những vấn đề chính trị truyền thống hơn là các vấn đề đạo lý, hoặc nếu như chúng ta có được nhiều đảng phái hơn, có lẽ chúng ta đã có một bức tranh tốt đẹp hơn. Nhưng khi việc phá thai và hiểu biết đạo lý về cứu cánh của con người được gắn vào với một đảng phái, thì về chính trị người Kitô giáo đã không có nhiều chọn lựa”

Khi đảng phái ấy thất bại- và thực đã thất bại – một số người trong phong trào phản ứng bằng cách rút lui về đường lối chống đối quá khích, trong lòng xác tín về sự gian hoạt và lý tài của thế giới chính trị đã khiến họ rơi vào hết thất bại này đến thất bại khác. (Trường hợp tương tự xảy ra với nhiều người cấp tiến sau năm 1968: điên tiết vì tính cách bảo thủ của quốc gia, cánh tả đã phản ứng giận dữ và chuyển sang phía tả xa hơn).

Nhà bỉnh bút Cal Thomas là một nhân vật ban đầu của Khối Ðạo Ðức Ða số, người đã phải nhìn nhận phong trào Kitô giáo Hoa kỳ sai lầm trí mạng từ các ý nghĩa thần học. “Không một đất nước nào có thể là thực sự “Kitô giáo””. Thomas nói. “Chỉ có người dân có thể là thực sự “Kitô giáo”. Thượng đế ở trên mọi quốc gia, và, thực thế, như Isaiah đã nói rằng ‘Mọi quốc gia đối với người chỉ là một giọt nước nhỏ hoàn toàn không đáng giá gì’”. Suy tưởng ngược về trước vài thập niên, Thomas nhớ lại niềm hy vọng – và sự thất bại. “Lúc ấy chúng tôi bắt tay vào việc tổ chức những người cùng quan điểm để mang nước Mỹ ‘trở lại’ thời đại của đạo đức tốt hơn. Dĩ nhiên, chuyện đó đã phải thực hiện thông qua các chính khách vốn cũng đang có khó khăn trong sự áp dụng đạo đức cho chính họ!”

Kinh nghiệm cho thấy rằng các thẩm quyền đạo giáo có thể tự mình bị tha hóa bởi sự lân cận với thế lực chính trị. Một phần tư thế kỷ trước, ba nhà học giả cũng là những người kitô giáo theo phái Phúc Âm – Mark A. Noll, Nathan O. Hatch và George M. Marsden – đã xuất bản một tác phẩm quan trọng nhưng ít được mọi người biết “Ði tìm một Nước Mỹ Kitô giáo”. Trong tác phẩm này, họ lập luận rằng các rao giảng của Kitô giáo vượt quá mọi trật tự chính trị. Họ viết rằng “người Kitô giáo không nên có ảo tưởng về bản chất của các chính phủ nhân loại. Cuối cùng thì họ sẽ thuộc về cái mà Augustine gọi là “thành phố của thế gian”, ở đó sự ích kỷ cai trị…và tất cả các chính phủ có thể là những kẻ sát nhân tàn bạo”.

Quan điểm của họ trùng với quan điểm của những nhà soạn Thánh thi, từng nói rằng “Ðừng đặt lòng tin của ngươi nơi các bậc đế vương” đồng thời cũng có đầy đủ những bằng chứng trong Tân ước để ủng hộ cho một viễn ảnh của chính trị và đức tin trong đó giáo hội trung thành đối với nhiệm vụ trọng tâm của mình khi nó tách biệt xa nhất khỏi những vướng mắc của chính trị. Thiên chúa của Phúc Âm dứt khoát chối từ việc xử dụng các phương tiện của thế gian này – kể cả sự đối đầu bằng vũ khí lẫn các khát vọng chính trị – để theo đuổi các mục đích của người. Sau phép lạ bánh mì và cá, đám đông kinh ngạc tưởng rằng đã tìm được đấng cứu thế trên thế gian của mình. “Khi chúa Jesus vì thế nhận thấy rằng họ có thể đến và dùng sức mạnh để chiếm giữ lấy mình, để khiến mình trở nên một vì vua, người đã lại một lần nữa rời đi lên núi một mình”. Khi một trong những tông đồ của mình cắt đứt tai một kẻ trong đám đến bắt giữ ngài ở Gethsemane, chúa Jesus nói: “hãy tra kiếm vào vỏ”. Lát sau, trước mặt Pilate, người nói: “Vương quốc của ta không phải thuộc về thế gian này: nếu Vương quốc của ta ở trên thế gian này, thì các thuộc hạ của ta đã chiến đấu”. Ý hướng rõ nét nhất của những bài học trong Phúc âm và trong tất cả các phần còn lại của Tân ước là dạy rằng quyền lực thế gian thì nhất thời và hủ hoá, và những người theo Chúa nên chú ý hơn đến các vấn đề của tâm linh hơn là chính trị.

Tuy vậy, cũng như trong mọi chuyện khác liên quan đến Kinh thánh, luôn có những chương đoạn làm rối rắm bức tranh. Tác giả của bản kinh bằng tiếng Do thái cổ tuyên bố rằng những người theo đạo là “những kẻ xa lạ và lưu đày ở thế gian này” và rằng “Vì ở chốn này chúng ta không có thành phố nào tồn tại được mà để tìm một thành phố tương lai sẽ đến”. Ở La Mã, Giáo hoàng Paul khuyên bảo: “Ðừng trở nên tuân phục với thế giới này”. Công đồng Vatican thứ hai trích dẫn những lời của giáo hoàng Pius XII: Giáo hội Công giáo của “Jesus Christ, Ðấng sáng lập thiêng liêng, đã chưa từng ban cho một sự ủy thác hay sửa chữa bất cứ mục đích nào của trật tự văn hoá. Mục tiêu mà Thiên chúa giao phó cho giáo hội là hoàn toàn tuyệt đối tôn giáo… Giáo hội không bao giờ có thể đánh mất tầm nhìn về những gì tuyệt đối tôn giáo, về mục tiêu siêu nhiên”.

Tuy nhiên, như tổng giám mục Canterbury từng nói, nghĩ rằng Chúa dành mối quan tâm chính yếu, hoặc thậm chí to tát thôi, cho tôn giáo là một sự sai lầm. Ở Amos Chúa đã nói “Ta ghét âm thanh tiếng kèn uy nghi của các ngươi”. Tôn giáo không phải chỉ là sự thờ bái Thiên chúa của ta mà là sự thực hiện những điều cao cả, và thông điệp trọng tâm của Phúc âm là nhiệm vụ của người Kitô hữu phải chuyển hóa thực tại thông qua các công việc bác ái bằng tất cả năng lực mình. “Trách nhiệm của chúng ta vẫn là hãy có mặt giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian” Mohler nói “ Giáo hội là một hiện hữu đời đời trong một thế gian tạm bợ và đổ vỡ- nhưng chúng ta phải tạo ra ảnh hưởng. Các bài giảng trên Núi có nội dung chỉ dạy những việc chúng ta phải làm – nhưng các bài giảng ấy không đến cùng với một cuốn cẩm nang chính trị.”

Làm sao để cân bằng mối quan tâm cho khu hoa viên của giáo hội với các nghĩa vụ đạo đức làm cho đời sống thế gian được thoải mái là một trong những vấn đề gây bối rối cho giáo hội nhất. “Chúng ta có nghĩa vụ quan trọng để thực hiện bất cứ điều gì mình có thể, kể cả phải thông qua sự xử dụng các phương tiện chính trị, để giúp những anh em láng giềng của chúng ta – nhằm thúc đẩy luật công bằng, trật tự, hòa bình, giáo dục và các cơ hội”, Noll, Hatch và Marsden đã viết, “Tuy nhiên, chúng ta nên nhận thức rằng khi làm việc vì sự tốt đẹp có tính tương đối cho “thành phố của thế gian” thì sự thành công của chúng ta sẽ chỉ được tương đối y như thế. Trong nhận định có tính quyết định, giáo hội công bố rằng các giải pháp mang lại từ các quốc gia trên thế giới luôn luôn là các giải pháp nhất thời và chính các giải pháp này cần phải thay đổi “.

Ở Louisville, chuẩn bị cho lễ Phục sinh, Al Mohler thao thức mất ngủ cho nền văn hóa. Tuần qua, ông chuyển lên net một bài có tựa để “Mục sư của bạn có tin vào Thiên chúa hay không?”, một bài về vấn đề phá thai, một bài về sự hỗ trợ tự sát và một bài khác về làn sóng mới của các mục sư. “Chúa Jesus đã hứa nguyện rằng ngay đến cửa địa ngục cũng không thể thắng được giáo hội của ngài”. Mohler đã viết “Thế hệ những mục sư mới này có ý muốn đẩy lùi chống lại địa ngục bằng mục vụ can đảm và đầy viễn kiến. Thế nào cũng có những va chạm xẹt lửa.” Trong cuộc điện đàm với tôi, ông nói thêm: “Những gì chúng ta nhìn thấy hiện nay là chứng tích của một hình thức những thay đổi về trí thức, văn hóa và chính trị trong tư tưởng và tâm hồn đã khởi đi từ rất lâu rồi. Các điều kiện đã đổi thay. Khó mà có thể xác định được ở điểm nào, nhưng bất cứ điều gì đến sau cuộc Khai sáng đã trở nên rất khác với những gì xảy ra trước đó” Và những gì xảy đến kế tiếp, với hàng ngũ những người tin theo Kitô giảm dần, cũng sẽ là khác biệt nữa.

Viết cùng Eliza Gray

Lê Quốc Tuấn dịch

Mùa Easter 2009

(Có thể tìm đọc nguyên văn bằng Anh ngữ ở đây)


[1] Cách gọi theo Kinh Thánh, chỉ tất cả những dân tộc không phải Do Thái, không tin Chúa (BBT)

[2] Vụ kiện đòi ngăn cấm giảng dạy thuyết tiến hoá trong trường học (BBT)

bài đã đăng của Jon Meacham


3 Bình luận »

  • nguyen minh vuong says:

    ‘Cả thiền cũng từ những tạp niệm (âu lo, sinh lão bệnh tử) mà tìm cách đè bẹp nó đi’ Tôi đã từng tìm hiểu và thực hành về Thiền khá nhiều, nhưng chưa thấy ai nói về thiền theo ý câu nói trên. Nếu có thể, xin Anonymous cho biết, ý tưởng này là do ông nghĩ ra, hay là trích dẫn từ tài liệu uy tín nào khác? Mong ông hồi âm…

  • Anonymous says:

    Newsweek là tờ báo khuynh tả, ủng hộ Obama thì việc viết bài để hạ thấp giá trị của Kitô Giáo cho phù hợp với chủ trương “liberals” (socialism củA Mỹ hiện nay) là chuyện dĩ nhiên. Nhân chuyến xuất hiện của Obama ở đại học Notre Dame cho thấy là phe liberals vẫn còn “nổi” nhưng Gallop poll thì cho thấy là tình thế bắt đầu chuyển (poll mới nhất) nhân cái chuyện Kitô chống phá thai. Và người dân ủng hộ tín điều này đạt 51 % còn bác điều này chỉ có 43% .

    Sự thăng trầm của một tôn giáo hay thiền nó tuỳ vào hoàn cảnh xã hội và sự căng thẳng của lòai người. Nếu loài người không âu lo, không sinh lão bệnh tử thì tôn giáo có lẽ không là một cứu cánh cho họ. Cả thiền cũng từ những tạp niệm (âu lo, sinh lão bệnh tử) mà tìm cách đè bẹp nó đi . Vì những âu lo đó mà tôn giáo “căng hơn” hay “mềm hơn” là tùy hoàn cảnh của con người. Nhưng tôn giáo vẫn là tôn giáo . Nếu theo phái tả khuynh để cho tôn giáo hết đường thì đó là biện luận của phe tả khuynh. Sự thật thì hãy chờ xem có thật như vậy hay không. Cũng như TTL nói đến thiền. Cái suy, cái nổi nó vẫn tùy vào xã hội nhưng không vì vậy mà nó giẫy chết. Có thể người đi nhà thờ không còn đông nhưng khi một tai họa đến thì họ đọc kinh. Khi sinh con thì họ rửa tội. Tại sao vậy? Kitô giáo đang chết như phe tả khuynh nói mà !?? Lập luận này chỉ là lập luận cho một phe mà thôi, để biện luận cho lời Obama là nước Mỹ không là nước Công Giáo và chính Obama thì lại cúi rạp trước vua Saudi chứ chẳng cúi rạp trước ai khác.

    Bây giờ Newsweek phe khuynh tả muốn cho công chúng thấy là công giáo xuống dốc là một lối “tuyên truyền” cho Obama mà thôi .

  • Trinh - Trung Lap says:

    Một tài liệu rất sinh động cho những ai đang trăn trỏ về vấn đề tôn giáo (nhất là Kito giáo) trong mối xung khắc với các yếu tố của môi trường xã hội như Kinh tế, Chính trị, Pháp luật, Khoa học, Y tế, v.v….

    Nếu bỏ qua ranh giới phạm vi quốc gia, các yếu tố chủng tộc, văn hóa, truyền thống thì có thể nói rằng mối xung khắc này, ở các quốc gia khác nhau, vẫn có những điểm chung do đặc tính cơ bản của tôn giáo nói chung và Kito giáo nói riêng.

    Như tôi đã đề cập trong 1 vài cái comment về thiền học trước đây, nhân loại đã trải qua quãng thời gian quá dài (mấy ngàn năm) từ khi những bộ Kinh Thánh, Kinh Phật,…được truyền khẩu và viết lại cho hậu thế. Nên nhớ rằng Đức Kito và Đức Phật là những người chưa từng bao giờ dùng bút để soạn thảo hoặc ghi lại những giáo pháp của mình.
    Vì thế quý vị thử nghĩ đơn giản chuyện gì đang xảy ra ở đây ! 1 sự tam sao thất bản không thể tránh khỏi, 1 sự thêm bớt vẻ vời, 1 sự thi thố về tư duy của các đệ tử,….cũng như 1 sự tranh đua về ngôi vị lãnh đạo giáo hội ở 1 vài thời kỳ nào đó (nếu có). Tất cả những điều này và còn biết bao nhiêu điều khác nữa, chẳng hạn như thông tin rò rỉ khi chuyển ngữ các kinh sách ra nhiều thứ tiếng do những dị biệt về tư duy và ngôn ngữ của các dân tộc theo đạo khác nhau.

    Tâm điểm của Kito giáo phải là Đức Giesu, của Phật giáo phải là Đức Phật. Bao lâu còn tồn tại 1 tổ chức của “con người” với những tư duy và luật lệ tự ban hành thêm cho giáo dân thì bấy lâu những xung đột giữa tôn giáo và các phạm trù khác của xã hội khó tránh khỏi.

    Lấy ví dụ :
    -Giữa tôn giáo và khoa học : suốt 1 thời gian dài, trong những thập niên trước, các nhà đạo học coi khoa học là 1 thứ nguy hiểm cho đức tin. Sai lầm như thế đã được nhìn nhận lại và ngày nay trong các lớp học về khoa học đã xuất hiện các tu sĩ theo học rất nhiều để lãnh hội kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội. Thiên chúa đã nói rồi nhưng người ta chỉ đọc lướt qua mà không chịu dừng lại để suy gẫm. Ngài phán : “…..ta là alpha và omega…….”. Chỉ chừng đó thôi đã nội hàm tôn giáo là triết học của mọi môn học. Nghĩa là 1 thứ toán học từ âm vô cực đến dương vô cực. Trong cái lim (thuật ngữ toán học) có biết bao nhiêu là cái giới hạn, khi anh xét trên 1 đoạn thằng, trên 1 mặt phẳng, trên 1 không gian 3 chiều, và ngày nay còn trên cả không gian 4 chiều thì mọi kết quả có thể khác nhau. Tuy nhiên vì sáng tạo phải phục vụ cho cuộc sống nên có đôi khi phải xem 1 “đoạn cong ngắn” như 1 đường thẳng để xét các biến và chấp nhận những kết quả tương đối (khoa học cơ bản)

    Enstein đã xem Phật giáo là 1 khoa học thật sự khi liên hệ đến những thuyết tương đối, qui luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, tác động nhân quả,v.v..Không có tôn giáo nào tuyệt vời hơn Phật giáo về khía cạnh này.

    – Giữa tôn giáo và pháp luật chẳng hạn :

    Chúa Giesu chưa bao giờ đề cập đến hôn nhân đồng tính. Nếu con người phủ nhận “đồng tính” thì hóa ra lại phê phán những sản phẩm khiếm khuyết của Tạo hóa. Người đồng tính đâu có muốn vậy đâu ? Nhưng khổ nỗi đó là luật giáo hội chẳng hạn, cũng chỉ là duy ý chí của con người mà thôi. Nhưng cũng không vì thế mà đã kích tôn giáo, mà nên xác định giá trị thánh thiện lớn lao của nó cho xã hội. Dữ liệu đầu bài viết là 1 ví dụ hùng hồn nhất cho sự suy đồi đạo đức ở Mỹ hiện nay khi thống kê cho thấy tỉ lệ bách phân người tuyên bố có tôn giáo giảm xuống. Trong khi đó những vụ nổ súng trong học đường kinh hoàng gia tăng, cha ném con xuống biển, cha giam cầm và hiếp con gái từ mấy chục năm (ở Bỉ và nghe đâu ở Mỹ cũng có),….!

    1 sự tỉ lệ bách phân nghịch rất tự nhiên thôi.

    Về rượu, Chúa cũng không cấm uống rượu. Kinh thánh còn kể lại rằng (nếu đáng tin) Chúa còn hóa nước thành rượu cho mà uống nữa mà…Vấn đề là khi đọc đoạn này ta phải cảm nhận được 1 thứ “rượu chay” của Chúa, 1 thứ rượu “ban tặng tình yêu” đối với tha nhân (như tình yêu của Cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với đời được thăng hoa khi Ông say vậy). Chúa đâu có làm ra rượu để uống xong rồi đi cướp giật, hãm hiếp dân lành đâu ! hiii….hiiii

    – Giữa tôn giáo và chính trị cũng vậy thôi, hay vấn đề tự sát cũng thế. Chúng ta đã nói nhiều trong “vẻ đẹp của thiền học” rồi phải không ?

    Không biết ý kiến của các đồng môn ở bên đó thì sao ! hiiiii

    Xin chia sê chút ít !

    Thân ái !

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)