Trang chính » Chuyên Đề, Kịch đương đại Việt Nam & thế giới, Phỏng vấn Email bài này

Nguyễn Viện Trả Lời Phỏng vấn Chuyên đề Kịch

(1) Kịch tác gia Việt của miền Nam trước 75 và lưu vong và/hoặc các kịch tác gia đối lập (như Vaclav Havel) thường chú trọng vào đề tài lịch sử, và sự tuyệt vọng của cá nhân dưới bánh xe lịch sử. Trong "Treo Đầu Giây Quan Họ- một vở kịch đặc sắc của Nam Dao- các nhân vật bị sử dụng như phương tiện của kẻ khác và đánh mất cứu cánh của chính họ, hoặc tìm đến sự cứu rỗi qua cái chết. Mặt khác, các kịch tác gia ở các nước tư bản, như Sartre và Yasmina Reza (Pháp), Kobo Abé (Nhật), Harold Pinter (Anh), Tennessee Williams (Mỹ), chú trọng vào những tương giao xã hội có vẻ như văn minh và hoà nhã, nhưng thực ra cũng che đậy đầy áp bức, hung bạo và dối trá.

Tại sao lịch sử và xã hội, qua mọi cách diễn/tả của các kịch tác gia này, vẫn không bảo đảm được sự giải thoát/cứu rỗi cho cá nhân, hoặc cho phép cá nhân đạt được cứu cánh của đời người?

NGUYỄN VIỆN

– Thú thật là tôi không có cơ hội đọc hết các tác giả bạn nêu. Cho nên, cũng chỉ có thể phát biểu một cách tương đối.

Từ hồi còn rất nhỏ, tôi đã may mắn được đọc “Thành Cát Tư Hãn” của Vũ Khắc Khoan và rất hay nghe kịch của Kim Cương qua làn sóng phát thanh. Sau này, tôi cũng có rất nhiều dịp đi xem kịch ở các sân khấu Sài Gòn, từ Lưu Quang Vũ đến các tác giả kịch Trung Quốc, thậm chí cả các vở kịch hài của sân khấu Phước Sang.

Trong số các tác phẩm văn học nói chung, có lẽ tôi thích thể loại kịch hơn tiểu thuyết, đặc biệt với Shakespeare, Jean Paul Sartre và Albert Camus.

Tôi nhận ra, lịch sử và xã hội, là đề tài quen thuộc (hầu như chủ yếu) của kịch.

Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng các nhân vật của kịch có nhiều phương tiện nhưng lại không có cứu cánh như các nhân vật tiểu thuyết. Tôi thật sự đáng ngờ về nhận xét này.

Có thể bản thân lịch sử vốn mù lòa, nhưng cứu cánh, xét cho cùng vẫn thuộc về tác giả trong việc dựng lại “hiện trường”. Và tôi không thấy có gì khác biệt giữa kịch và tiểu thuyết trong cách tiếp cận lịch sử / xã hội hay với từng cá nhân.

(2) Đề tài số mệnh trong kịch Việt, có phải cũng đồng nghĩa với ám ảnh lịch sử và tâm trạng bị các cường quốc đô hộ qua nhiều thế kỷ?

NGUYỄN VIỆN:

– Ngoại trừ trường hợp của Vũ Khắc Khoan, ám ảnh lịch sử được thể hiện khá rõ. Đề tài xã hội nói chung, số phận con người thường được các tác giả khai thác nhiều nhất, gần như đã trở thành bộ mặt chính của thể loại kịch VN đương đại. Tuy nhiên, tôi không cho rằng đó là hệ quả của “ám ảnh lịch sử và tâm trạng bị các cường quốc đô hộ qua nhiều thế kỷ”. Sân khấu kịch VN, theo tôi, phản ánh chủ yếu mối tương quan giữa con người với nhau qua bối cảnh xã hội từng thời kỳ: phong kiến, chiến tranh, xã hội chủ nghĩa và hiện tại (như một xã hội giao thời giữa mới và cũ). Mặc dù các áp lực chính trị vẫn như một bóng ma áp đảo cuộc sống con người, nhưng tất nhiên trong hoàn cảnh VN hiện nay, nó bị tránh né. Người ta chỉ còn được nhìn xem các bi kịch gia đình, tình yêu và những số phận cá nhân nhỏ bé trong dòng chảy cuộc sống “thường ngày ở huyện”.

(3) Một kịch tác gia Việt đã có lúc nào viết một vở kịch vượt ra ngoài những điều kiện văn hoá, lịch sử, không gian và thời gian, để hướng nhiều đến khía cạnh thơ, triết lý hay siêu hình, như “Waiting for Godot” của Becket, hay “Intermission” của Giraudoux? Hay chính đặc tính của kịch là phản ảnh bối cảnh văn hoá, lịch sử, không gian và thời gian của kịch tác gia?

NGUYỄN VIỆN:

– Trước hết, cần phải nói rằng, hầu hết các kịch tác gia Việt Nam, khi viết họ thường nhắm đến khán giả, nhưng thực tế là nhắm đến nhà đầu tư. Nghĩa là họ luôn phải đặt mình vào tâm thế “vừa phải” để không đụng chạm đến chính quyền và đáp ứng được thị hiếu công chúng. Phải làm thế nào để vở kịch có thể được lên sàn diễn với những điều kiện đặc thù của xã hội/thị trường, đấy chính là một trở ngại lớn cho những sáng tạo có thể vượt qua cái vụn vặt, giải trí bình dân.

Để có những tác phẩm như “Waiting for Godot”, người viết cần phải quên đi khán giả. Và cũng như tiểu thuyết, người ta cần xem kịch như một văn bản. Và cũng như người viết, người xem cần đối diện với chính mình thông qua văn bản như chính tác giả. Kịch hay phi kịch, không còn là một đòi hỏi như một thể loại trình diễn nhất định. Khi ấy, “đặc tính của kịch là phản ảnh bối cảnh văn hoá, lịch sử, không gian và thời gian của kịch tác gia” sẽ không phải là bận tâm của người sáng tạo.

4) Tại sao số lượng kịch Việt Nam khá ít, so với những lãnh vực văn học nghệ thuật khác, như văn xuôi, thơ, hay tuỳ bút, tiểu luận?

NGUYỄN VIỆN:

– Có lẽ vấn đề không nằm ở chỗ kịch thì khó hay dễ viết hơn một truyện ngắn hay một bài thơ. Như tôi nói ở trên, hầu hết kịch tác gia ở VN đều bị ám ảnh bởi sàn diễn với một tầng lớp khán giả dễ dãi. Kịch bản sân khấu hay kịch bản phim, khi viết, họ thường rơi vào tình huống lệ thuộc nhà đầu tư. Họ không viết kịch như một văn bản độc lập, có thể tự mình in, tự mình đăng báo. Có lẽ vì thế, người viết kịch không nhiều, thậm chí quá ít. Hầu như, chỉ có tác giả cho những sân khấu đang hoạt động.

5) Một vở kịch hay cần những yếu tố gì? Một vở kịch được coi là “hay/hoàn hảo,”  thì có phải được trình diễn, hay vẫn hay/hoàn hảo nếu nó chỉ được đọc–như văn xuôi hoặc thơ–mà không cần dàn dựng, trình diễn? Nói cách khác, trình diễn có phải là một đòi hỏi căn bản của kịch?

NGUYỄN VIỆN:

– Về cơ bản, kịch là một loại hình trình diễn. Tuy nhiên, việc tôi có cần đến sàn diễn để xem hay tôi chỉ cần đọc kịch như một tác phẩm văn học, có lẽ nó không ảnh hưởng gì đến việc định giá một vở kịch. Nhưng vẫn phải công nhận rằng, vai trò của diễn viên góp phần làm tác phẩm kịch trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn và tạo ra nhiều cảm xúc hơn. Vở diễn là một cách tiếp cận khác với văn bản.

(6) Trong một xứ sở không tự do, điều kiện trình diễn/mua vui của kịch có làm bộ môn nghệ thuật này“dễ/khó” bị kiểm duyệt hay gây nhiều/ít sôi nổi hơn văn chương hay thi ca? Sự linh động, hoạt náo của trình diễn có làm một kịch tác gia được dễ dàng, hay bị khó khăn hơn, trong cách chuyển tải hoặc ngụy trang những thông điệp chính trị trong vở kịch của mình?

NGUYỄN VIỆN:

Ở VN ai cũng biết, mọi thứ đều bị kiểm duyệt. Mỗi loại hình có cách kiểm duyệt riêng của nó. Với ngành sân khấu, mỗi vở kịch đều có một hội đồng thẩm định duyệt trước khi công diễn, không phải qua văn bản, mà qua xem trực tiếp trên sân khấu. Và điều chắc chắn rằng, khâu kiểm duyệt này chặt chẽ hơn vì phải thông qua cả một hội đồng với nhiều thành viên, so với kiểm duyệt một cuốn sách.

Tuy nhiên, với trường hợp của Lưu Quang Vũ, đã có một giai đoạn kịch VN trở nên sôi nổi vì tính thời sự của nó. Chứng tỏ, kịch có sức hấp dẫn riêng.

Khả năng biểu đạt, truyền tải một thông điệp của vở diễn đôi khi mạnh mẽ hơn cái chất liệu thô của văn bản rất nhiều. Tác động của nó với công chúng mang tính trực tiếp, vì thế nó bị kiểm duyệt nghiêm ngặt hơn. Kịch tác gia ở VN ít có cơ hội để gởi gắm những nỗi niềm riêng tư của mình về chính trị, xã hội. Thậm chí với những thể nghiệm thuần túy nghệ thuật cũng rất khó vượt qua những quan điểm mỹ học truyền thống.



bài đã đăng của Nguyễn Viện


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)