Trang chính » Chuyên Đề, Kịch đương đại Việt Nam & thế giới, Phỏng vấn Email bài này

Bùi Vĩnh Phúc: Trả Lời Phỏng Vấn Chuyên Đề về Kịch của Da Màu

 

BVP portrait

Giáo sư Bùi Vĩnh Phúc thuyết trình về ngôn ngữ Kiều thời Trương Vĩnh Ký (Người Việt, 8 tháng 12, 2018)

(1) Kịch tác gia Việt của miền Nam trước 75 và lưu vong và/hoặc các kịch tác gia đối lập (như Vaclav Havel) thường chú trọng vào đề tài lịch sử, và sự tuyệt vọng của cá nhân dưới bánh xe lịch sử. Trong “Treo Đầu Giây Quan Họ- một vở kịch đặc sắc của Nam Dao- các nhân vật bị sử dụng như phương tiện của kẻ khác/hệ thống điều hành tinh vi và đánh mất cứu cánh của chính họ, hoặc họ phải tìm đến cái chết để giữ lấy linh hồn. Mặt khác, các kịch tác gia ở các nước tư bản, như Sartre và Yasmina Reza (Pháp), Kobo Abé (Nhật), Harold Pinter (Anh), Tennessee Williams (Mỹ), chú trọng vào những tương giao xã hội có vẻ như văn minh và hoà nhã, nhưng thực ra cũng che đậy đầy áp bức, hung bạo và dối trá.

Tại sao lịch sử và xã hội, qua mọi cách diễn/tả của các kịch tác gia này, vẫn không bảo đảm được sự giải thoát/cứu rỗi cho cá nhân, hoặc cho phép cá nhân đạt được cứu cánh của đời người?

Trả Lời cho câu hỏi 1:

Tôi nghĩ, một trong những yếu tính của Kịch là luôn đưa ra xung đột. Xung đột giữa con người và lịch sử, giữa con người và xã hội, giữa cái thiện và cái ác, cái Đẹp và cái Xấu, giữa cái sống và cái chết, giữa tính cách và hoàn cảnh, giữa của cải, vật chất trần gian và hạnh phúc, thăng hoa tinh thần, giữa lý tưởng, ước mơ thiết tha, cao quý và hiện thực thô nhám, sần sùi, tàn bạo. Cứu cánh, mục đích tối hậu của đời người là sống. Sống gì? Sống như một con người. Con người được ném vào đời là để sống với những điều kiện, những hoàn cảnh, những conditions humaines của nó. Con người phải sống với những bó buộc, những quy thúc, những thúc phược của cuộc đời. Và, tôi nghĩ, như cách nhìn của Camus, con người tìm được giá trị của mình, ý nghĩa sống của mình, chính là khi nó đối mặt với những sức mạnh muốn trùm lấp nó, chấp nhận cái thế sống nhiều khi phi lý, ràng buộc con người.

Tôi tin rằng con người có lý trí và ý chí tự do. Nhưng dù có thế, nó cũng khó/không thoát được thân phận mình, như một hữu thể tự do, nhưng cũng là một hữu thể hướng tử. Con người bị đẩy vào đời để vấp ngã và bị cột buộc. Nhưng chính là với ý chí tự do, con người tìm cách tranh đấu, chống lại những sợi dây ràng buộc mình, do xã hội, lịch sử, hay những sức mạnh khác kìm hãm, giam cầm nó. Có thể nó vẫn không thoát khỏi định mệnh mình; nhưng chính trong thái độ đối mặt với những khó khăn để vượt lên, vượt qua, hay chấp nhận cái thế sống có khi mang nét bi kịch hay phi lý của mình, con người xác định được nó là một hữu thể có ý chí, có chọn lựa, và có ý thức trong tất cả những hoàn cảnh sống của nó. Có lẽ con người không nên/không cần được giải thoát hay cứu rỗi. Nó có tự do và có ý thức. Nếu nó phải chấp nhận khổ đau, hay phải chấp nhận thân phận của nó như một định mệnh, sau khi đã nỗ lực tranh đấu để thoát-khỏi-vòng, nó vẫn đáng được ca ngợi. Cuộc sống của nó vẫn có ý nghĩa.

Dù sao, Aristotle có nói về hiệu ứng thanh tẩy/thanh lọc (“catharsis”) của kịch bi tráng Hy Lạp, như tôi đã có dịp viết. Sự thất bại của con người trong việc kiếm tìm hạnh phúc, kiếm tìm sự giải thoát hay cứu rỗi, hoặc sự thất bại của nhân vật bi kịch Hy Lạp trong việc giải quyết xung đột (thường đưa nhân vật ấy đến cái chết) xuất phát từ một lỗi lầm của thời đại, một vết xước của hoàn cảnh hay lịch sử, hoặc một cái bất toàn trong tư tưởng của thời đại, v.v., khiến người xem thấy tiếc nuối và đau xót, cùng lúc gây nên cảm thức nhân đạo và từ bi trong họ. Chính những cảm nhận, rung động ấy đưa đến hiệu ứng thanh lọc, khiến khán giả hướng đến cái cao cả của cuộc sống.

Kịch tác gia là những người đem lại cho khán giả, người xem kịch, một tấm gương soi, để họ nhìn lại chính hiện hữu của họ. Phải, một tấm gương soi. Cùng với mấy khúc nhạc đời. Nhiều khi bi thiết. Nhưng luôn có những ánh sáng đâu đó, tôi nghĩ, trong những âm thanh tưởng như là đen tối, đớn đau, và/hay tuyệt vọng kia.

(2) Đề tài số mệnh trong kịch Việt, có phải cũng đồng nghĩa với ám ảnh lịch sử và tâm trạng bị các cường quốc đô hộ qua nhiều thế kỷ?

Trả Lời cho câu hỏi 2:

Có lẽ không hẳn là vậy. Đề tài về số mệnh có thể có mặt trong kịch của bất cứ kịch tác gia thuộc dân tộc hay nguồn gốc nào. Nó là một chủ đề lớn của Kịch, của Con Người. Ở mọi thời và mọi nơi.

Ngộ Nhận (Le Malentendu) của Camus, Vua Lia (King Lear) của Shakespeare, hay Antigone của Sophocles ngày xưa, hoặc Antigone của Jean Anouilh sau này, chỉ kể một vài tác giả, cũng mang chứa chủ đề này trong chúng. Đề tài này trong kịch Việt có thể, phần nào đó, có ẩn chứa ám ảnh lịch sử. Dù sao, tôi nghĩ, nó không nhất thiết phải đến từ một “ám ảnh lịch sử và tâm trạng bị các cường quốc đô hộ qua nhiều thế kỷ”. Có thể điều này, nếu có, chỉ thể hiện ở một số trường hợp nào đó mà thôi.

(3) Một kịch tác gia Việt đã có lúc nào viết một vở kịch vượt ra ngoài những điều kiện văn hoá, lịch sử, không gian và thời gian, để hướng nhiều đến khía cạnh thơ, triết lý hay siêu hình, như “Waiting for Godot” của Beckett, hay “Intermission” của Giraudoux? Hay chính đặc tính của kịch là phản ảnh bối cảnh văn hoá, lịch sử, không gian và thời gian của kịch tác gia?

Trả Lời cho câu hỏi 3:

Tôi nghĩ một kịch tác gia có thể chọn cho mình bất cứ một chủ đề nào, bất cứ một lát cắt nào có ý nghĩa của đời sống. Ông ta/bà ta có thể dựng phông cho các cảnh diễn của vở kịch mình trong những “điều kiện văn hoá, lịch sử, không gian và thời gian” mà ông ta/bà ta sống trong, sống cùng, hay sống với và chịu các quy định của những hoàn cảnh, điều kiện ấy. Nhưng, họ cũng có thể thoát ra ngoài.

Đối với các kịch tác gia Việt Nam, ta có thể nghĩ đến, trước hết, là Vũ Khắc Khoan. Kịch “Thành Cát Tư Hãn” của nhà văn/nhà viết kịch này trình bày một câu chuyện xảy ra thời xa xưa, thời của Thành Cát Tư Hãn, thời Tây Hạ. Ở một mức độ nào đó, nó cũng mang tính thơ, triết lý và siêu hình trong nó. Việc nói về các nhân vật Thành Cát Tư Hãn, Sơn Ca, Giang Minh, Cổ Giã Trường, v.v., chỉ là một cái cớ để VKK đưa ra một thác ngôn, một phát biểu bóng gió, cho một điều gì khác. Các nhân vật chỉ là cái cớ, đặc biệt là nhân vật Thành Cát Tư Hãn, kẻ thủ vai chính (và ít nhất là kẻ được lấy tên đặt cho vở kịch). Và nhân vật Cổ Giã Trường, kẻ không bao giờ có mặt, nhưng lại như một thứ định mệnh, một đối trọng của thân phận con người. Dù con người đó có là ai chăng nữa. Ngay cả khi nó là một kẻ nắm quyền sinh sát trong tay. Vũ Khắc Khoan đã đưa ra một cái nhìn triết lý pha với chút siêu hình, và mang đầy tính thơ, qua vở kịch này của mình. (Xin xem thêm bài viết của BVP, “Vũ Khắc Khoan & Samuel Beckett: Nghệ Thuật, Như Một Cái Cớ”, cũng trong chuyên đề về Kịch này trên Da Màu)

Hay, một kịch tác gia Việt Nam khác: Nghiêm Xuân Hồng. Với vở kịch “Người Viễn Khách Thứ Mười”, chẳng hạn. Vở kịch có khung cảnh ở “một miền nơi trung tâm lục địa châu Á”, không nhất định là nơi nào. Nhân vật của ông mang tính hư hư thực thực, có khi như xuất hiện trong thời Đông Chu, lại có khi như hiện ra ở những đất nước huyền bí xa xôi thời “ngàn một đêm lẻ”. Tên nhân vật: Thạch Đầu Nhi, Giang Hoa Tâm, v.v. Địa lý, núi non, sông nước mang những cái tên như trong mộng ảo: bản Sa Phin, xứ Hoa Thích Lâm, thôn Đào Nguyên, sa mạc Qua Bích… Vở kịch đầy tính triết lý, về cuộc nhân sinh, về “cõi chân như” đầy những ảo không sắc tướng, về định mệnh, về những cuộc mặc cả giữa cá nhân với đời sống, với thiên mệnh, với Trời Đất.

Nghiêm Xuân Hồng, qua vở kịch này, cũng như Vũ Khắc Khoan qua kịch “Thành Cát Tư Hãn”, đã lái những vở kịch vừa được nhắc đến của họ theo hướng “kịch bi tráng” của Hy Lạp.

4) Tại sao số lượng kịch Việt Nam khá ít, so với những lãnh vực văn học nghệ thuật khác, như văn xuôi, thơ, hay tuỳ bút, tiểu luận?

Trả Lời cho câu hỏi 4:

Trong đời sống xã hội, cũng như trong đời sống văn học, kịch không được thông dụng như Văn và Thơ. Số sáng tác phẩm không nhiều bằng. Không dễ đọc (hoặc không cuốn hút người đọc đủ), theo những cách nhìn nào đó, bằng hai thể loại kia. Ngoài ra, như sẽ nói thêm ở phần trả lời cho câu hỏi kế, Kịch, muốn có tiếng vang và được nhiều người biết đến, nói chung, phải được trình diễn. Xét riêng đối với Việt Nam, kịch bản viết ra (đặc biệt tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975) không luôn luôn có được cơ hội trình diễn để tạo tiếng vang và để được biết đến một cách rộng rãi. So với các nhà văn, nhà thơ, hay những người viết thuộc những dạng văn xuôi khác (ngoại trừ những người viết trong lĩnh vực phê bình nói chung và phê bình văn học nói riêng), số lượng những người viết kịch cũng ít ỏi hơn nhiều. Có thể vì nhiều lý do, mà các lý do về mặt xã hội và thương mại có lẽ là những lý do lấn lướt nhất. Nếu có những nghiên cứu sâu xa về mặt xã hội học văn học, có thể chúng ta sẽ có được những hiểu biết nghiêm cẩn, thấu đáo hơn về vấn đề này.

5) Một vở kịch hay cần những yếu tố gì?Một vở kịch được coi là “hay/hoàn hảo,”  thì có phải được trình diễn, hay vẫn hay/hoàn hảo nếu nó chỉ được đọc–như văn xuôi hoặc thơ–mà không cần dàn dựng, trình diễn? Nói cách khác, trình diễn có phải là một đòi hỏi căn bản của kịch?

Trả Lời cho câu hỏi 5:

Trên căn bản, kịch là phải được trình diễn. Nó là một thế giới riêng, vừa giống vừa khác với thế giới của đời thường. Thế giới của đời thường luôn luôn thay đổi, mỗi ngày, mỗi giây, mỗi phút, cho dù, ở một góc độ nào đó, nó vẫn luôn là nó. Thế giới của kịch hẳn là ít thay đổi hơn, vì nó được tách biệt và khuôn lại trong một không gian nhỏ bé, cụ thể. Dù thế, nó vẫn thay đổi trong mỗi lần trình diễn. Sự trình diễn lột tả được những nét độc đáo của kịch. Mỗi lần trình diễn là mỗi lần khác. Không có buổi trình diễn nào giống buổi trình diễn nào, cho dù là cùng một vở kịch, với cùng những diễn viên. Chính các diễn viên cũng thay đổi, dù ít thế nào chăng nữa, trong mỗi lần trình diễn. Xúc động của họ, phong thái của họ, ứng biến của họ, v.v. Công chúng thay đổi. Phản ứng của những công chúng khác biệt có thể khác nhau. Và phản ứng của khán giả có thể ảnh hưởng, ở một mức độ nào đó, đến sự trình diễn vở kịch của các diễn viên. Vân vân. Bởi thế, trên căn bản, kịch phải được trình diễn, để lột tả cái độc đáo của nó. Trong cái thế giới riêng của kịch.

Thế nhưng, để có kịch trình diễn, trước hết, người ta phải có kịch bản. Văn bản kịch là một thể loại văn học với những đặc trưng riêng của nó, như cốt truyện, hoàn cảnh, tình tiết kịch được tập trung cao độ; tình huống kịch đưa đến những xung đột, căng thẳng cần giải quyết; nhân vật kịch mang tính diễn trong chính sự xuất hiện của mình; ngôn ngữ kịch đầy tính ẩn dụ, bóng gió, vừa mang tính hành động vừa mang nét trữ tình; và cách chia kịch thành các hồi, các cảnh, các màn cho người đọc nắm được bố cục kịch. Văn bản kịch là một văn bản văn học, một phương diện văn học của kịch, nên tiếp cận kịch bản cũng là một cuộc tiếp cận văn học. Đọc kịch có cái thú riêng của nó. Khi kịch được đưa lên sân khấu, người thưởng ngoạn sẽ có một sự hân thưởng khác, một hứng thú khác.

Một vở kịch hay, về mặt văn bản để thưởng thức, phải đạt được mức lôi cuốn người đọc qua những yếu tố đặc thù của văn bản kịch như đã thử nêu trên. Khi lên sân khấu, ngoài biên kịch là người sáng tạo văn bản để diễn, kịch lại cần phải có đạo diễn giỏi, biết cách hướng dẫn để diễn viên lột tả được các tình huống kịch cùng những nét nhấn cần thiết. Và, quan trọng nhất, các diễn viên. Họ phải lột tả được những nét độc đáo của kịch qua cử chỉ, hành động, điệu bộ và lời nói của mình, sao cho tất cả những khía cạnh đó tạo nên một hiệu ứng tích cực về mọi mặt nơi khán giả khi theo dõi mọi diễn biến của vở kịch.

Như một người thưởng ngoạn, tôi xin phép tự giới hạn mình trong việc chỉ trả lời câu hỏi này qua một vài điều mà tôi đã trình bày.

(6) Trong một xứ sở không tự do, điều kiện trình diễn/mua vui của kịch có làm bộ môn nghệ thuật này“dễ/khó” bị kiểm duyệt hay gây nhiều/ít sôi nổi hơn văn chương hay thi ca? Sự linh động, hoạt náo của trình diễn có làm một kịch tác gia được dễ dàng, hay bị khó khăn hơn, trong cách chuyển tải hoặc ngụy trang những thông điệp chính trị trong vở kịch của mình?

Trả Lời cho câu hỏi 6:

Câu hỏi này gắn liền với những hiểu biết thấu đáo và cơ hội được sống, được kinh nghiệm làm việc như là một kịch tác gia, một nhà biên kịch, hoặc một khán giả được tham dự trực tiếp vào đời sống kịch trong một xứ sở không tự do mà câu hỏi này đã giả định. Hoặc, ở một góc độ khác, theo tôi, một câu trả lời nghiêm túc cho vấn đề này tiền giả định là nó nên đến từ một người nghiên cứu về kịch trên các phương diện văn học, tâm lý, chính trị và xã hội, chẳng hạn, trong một xã hội như thế.

Tôi không có điều kiện để có được những kinh nghiệm, hay sự tham dự, và sự hiểu biết cần thiết, nên không thể/không dám có ý kiến. Xin được dành câu trả lời cho những người có cơ hội, có hoàn cảnh và điều kiện thích hợp hơn.

Bùi Vĩnh Phúc

California
28 tháng VI, 2019

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


3 Bình luận »

  • Minh Đạo says:

    Không bình luận gì cả. Chỉ trích một đoạn từ báo ‘Tuổi Trẻ’ (13/05/2007):

    “Vở kịch ‘Bí mật vườn Lệ Chi’ đã từng được sân khấu IDECAF dựng từ năm 2000. Sau 70 suất diễn, vở được Chương trình Nhà hát truyền hình VTV chọn đưa lên sóng trực tiếp truyền hình tại Nhà hát TP vào tháng 11-2002. Nhưng thật bất ngờ, khi tất cả đã sẵn sàng cho đêm diễn này, bỗng có lệnh ngưng từ cơ quan chức năng vì có ý kiến cho rằng nội dung vở có vài chi tiết chưa ổn về nhân vật Nguyễn Thị Anh theo lịch sử. Nhưng chỉnh sửa sao cho đúng và chừng nào vở mới được diễn lại thì sân khấu IDECAF không hề nhận được một văn bản nào, và phải chờ đến gần năm năm mới có câu trả lời bằng… miệng!

    Việc ngưng đột ngột dành cho một vở kịch đã qua 70 suất diễn, với sự đánh giá cao về chất lượng từ công luận khiến những người làm vở không thể không bị tổn thương và rất đông khán giả chưa kịp xem tiếc nuối.”

    https://tuoitre.vn/bi-mat-vuon-le-chi-voi-suat-dien-71-tram-nam-tung-van-tuoi-xanh-200851.htm

  • Trần Thiện Huy says:

    Trong khi tôi đồng ý với rất nhiều điều Black Raccoon nói ở trên, nhất là về thói ưa tấu hài thái quá của người bây giờ. tôi cũng nhận thấy có một thành kiến rất nặng ở người hải ngoại, là quá phóng đại cái tốt đẹp của thời VNCH, và cái yếu kém của thời nay về lãnh vực văn hóa. Ngay cả lên youtube, nếu thật sự có lòng tìm tòi và có khả năng đánh giá khách quan về nghệ thuật, người ta cũng vẫn tìm thấy những tác phẩm có giá trị được tạo ra sau 1975.

    Trên thực tế, có những tác phẩm tôi cảm thấy cần được xem xét, phê bình một cách nghiêm chỉnh, chuyên nghiệp như cách mà thế giới đánh giá kịch Ibsen chẳng hạn. (Đây chỉ là nói về thái độ tiếp cận, không phải so sánh hơn kém, ngang bằng). Hy vọng trong tương lai tôi sẽ có thể nói thêm về chuyện này.

  • Khó mà có nghệ thuật kịch trong một xã hội như VN hiện nay.

    Thứ nhất, bởi đặc tính trình diễn những xung đột, lịch sử, tình cảm, xã hội, tập quán. Thứ hai, do VN theo chế độ hà khắc lấy chính trị làm thống súy. Thứ ba, có lẽ do kịch nghệ VN thường có khuynh hướng xây dựng song song với sinh hoạt cuộc đời.

    Những nhà độc tài (và tai mắt) rất “nhạy cảm” với hành tung của họ, huống chi kịch lại là thể loại trình diễn. Kịch sờ vào đâu cũng sẽ đụng vào cơ chế và cơ thể đầy quyền lực của họ.

    Người Việt và văn hóa Việt lại nặng tình hơn lý, chú trọng đạo nghĩa, nhân ái v.v. VN khó có được một môi trường sinh hoạt văn học nghệ thuật giương cao công lý, pháp luật hay chính nghĩa như người Tây Phương. Một vở kịch VN, thí dụ, với lời đối thoại và câu chuyện cũng như diễn cảnh “đụng chạm” thì coi như nó sẽ được tứ phía “xây dựng” “giúp đở” v.v. Đó là chưa nói vở kịch và tác giả cũng như diễn viên có thể sẽ gánh chịu sự trù dập của cường quyền.

    Hệ quả, theo tôi thấy, VN hiện nay có quá nhiều loại tiểu phẩm nhất là “tấu hài”. Loại này ngắn, cũng là một thứ kịch, đơn giản dễ làm, không đụng chạm ai, qua cái vỏ bọc gọi là hài, cười hỉ hả một cách dễ dãi. Thế thôi. Huề.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)