Trang chính » Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Tọa đàm GAI SẮC TRONG TRUYỆN TRẦN VŨ tại Trung tâm Văn hóa Pháp, Hà Nội ngày 6/8/2019

clip_image0021_thumb4

Thành phần các diễn giả:

Mai Anh Tuấn, sinh năm 1983 tại Quảng Bình.

Tiến sĩ, giảng viên Khoa Lý luận – Sáng tác – Phê bình, trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Một nhà phê bình nổi bật, thẳng thắn, nhiều phát hiện, hoạt động văn chương tích cực.

Lĩnh vực quan tâm nghiên cứu là văn chương và điện ảnh Việt Nam.

• Trần Ngọc Hiếu, sinh năm 1979 tại Hà Nội.

Tiến sĩ, giảng viên chuyên ngành Lý luận văn học, Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Là một nhà nghiên cứu có mối quan tâm rộng về các vấn đề văn học, đặc biệt quan tâm tới lý thuyết văn học cũng như văn học đương đại Việt Nam. Anh chinh phục độc giả bởi kiến văn sâu rộng và phong cách diễn thuyết hấp dẫn.

• Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, sinh năm 1980 tại Thái Nguyên.

Tốt nghiệp Thạc sĩ tại Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên ngành văn học sau 1975. Hiện là Phó ban Tiếng Việt của Nhà xuất bản Nhã Nam, biên tập viên của nhiều tác giả quan trọng mà Nhã Nam đã xuất bản, đồng thời viết các bài điểm sách, làm diễn giả và điều phối viên cho các cuộc tọa đàm.

1. Trình bày của các diễn giả

clip_image0041_thumb1

Diệu Thủy:

Cảm ơn các anh chị và các bạn đã có mặt ở thư viện L’Espace hôm nay, trong một buổi tối mùa thu đẹp trời, sau những ngày mưa bão. Tôi cảm thấy ngạc nhiên vì hôm nay có rất nhiều các bạn trẻ, bởi tôi nghĩ rằng Trần Vũ không phải là một tác giả dễ đọc…

Hôm nay Trung tâm văn hóa Pháp và Nhã Nam rất hân hạnh tổ chức buổi tọa đàm về cuốn sách Phép tính của một nho sĩ của nhà văn Trần Vũ. Tham gia tọa đàm xin giới thiệu TS Trần Ngọc Hiếu, TS Mai Anh Tuấn, hai nhà nghiên cứu có mối quan tâm sâu sắc đến các tác giả văn học Việt Nam đương đại. Và tôi là Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, biên tập viên của Nhã Nam, người đỡ đầu cho cuốn sách, và tôi sẽ điều phối chương trình ngày hôm nay.

Thưa quý vị! Xuất bản được cuốn sách này là một kỷ niệm rất đáng nhớ trong công việc biên tập của tôi. Từ ngày còn là sinh viên, tôi nhớ đãi nhìn thấy cái tên Trần Vũ ở rất nhiều nơi, trong các bài nghiên cứu, trên mạng, trong các cuộc trao đổi văn chương hoặc trong nhiều cuộc thảo luận bếp núc của chúng tôi. Trần Vũ luôn được đánh giá là một cây bút xuất sắc, ấn tượng, nổi bật, nhưng điều kỳ lạ là chưa có cuốn sách nào của Trần Vũ được in ở Việt Nam cả, và tôi phải tìm đọc anh trên mạng.

Đến năm 2016 khi tôi biên tập cuốn phê bình Đọc tôi bên bến lạ của Đoàn Cầm Thi, trong đó có một bài viết dài và công phu về văn chương Trần Vũ mà tôi rất thích, thì tôi nghĩ mình phải làm Trần Vũ thôi. Trước khi tôi liên hệ với nhà văn Trần Vũ, một vài người nói với tôi là không được đâu, ông này khó lắm, khó kinh khủng, tuyệt đối không cho cắt một chữ, mà văn ông ấy không cắt thì không bao giờ in được. Nếu được thì nhiều nơi khác đã in từ lâu rồi. Tôi nghĩ mình phải thử, có thể những lời kia là lời đồn chứ chưa ai thực sự thử cả. Và nếu không in được, thì ít nhất tôi đã thử.

Tôi đã liên hệ với nhà văn Trần Vũ, trao đổi với anh cách tôi muốn làm, tôi cũng làm việc trực tiếp với nhà văn Tạ Duy Anh phía bên Nxb Hội nhà văn về bản thảo này. Phức tạp nhất chính là khâu chọn, chọn sao để vừa giới thiệu được đặc trưng cũng như sự toàn vẹn của chân dung nhà văn, vừa được sự đồng thuận của tác giả, vừa phù hợp với bối cảnh trong nước. Và cuối cùng thì cuốn sách Phép tính của một nho sĩ đã ra đời, và tất nhiên không-sửa-một-chữ, trừ chính tả. Lần đầu tiên, sách của Trần Vũ, một trong những nhà văn quan trọng nhất của văn học hải ngoại, đã xuất bản ở Việt Nam.

Tôi xin giới thiệu sơ qua về tiểu sử Trần Vũ, về tập sách này cũng như văn nghiệp của Trần Vũ nói chung.

Trần Vũ sinh năm 1962 tại Sài Gòn. Gia đình anh vốn là gia đình tư sản ở Sơn Tây-Phú Thọ, di cư vào Nam năm 1954. Trần Vũ học tiểu học và trung học ở Sài Gòn. Năm 1979 vượt biên, sống một năm trong trại tị nạn ở Philippines. Sau đó anh sang Pháp và sống trong một cô nhi viện ở miền Bắc nước Pháp. Trần Vũ từ đó sống ở Pháp. Anh tốt nghiệp Cao đẳng tin học năm 1985. Năm 1988 bắt đầu viết văn và ngay lập tức nổi tiếng. Từng làm chủ biên tạp chí Hợp Lưu từ 2003-2005, một tạp chí văn chương quan trọng ở hải ngoại. Và từ 2013 anh định cư ở Hoa Kỳ.

Về văn nghiệp, Trần Vũ đã viết trên 50 truyện ngắn và ký, tức Phép tính của một nho sĩ chỉ là một phần năm của tổng thể. Trong tập truyện trừ hai truyện “Cuộc săn thú của nhà văn An Nam” với “Phép tính của một nho sĩ” viết ở thập niên 2000, còn lại trong tập là những truyện viết thập niên 1980 và 1990, do vậy cũng chưa thể thấy hết các khía cạnh và các kỹ thuật áp dụng. Tuy vậy tập truyện này cũng sơ bộ giới thiệu Trần Vũ ở các truyện lịch sử, thế sự và huyền ảo.

Trần Vũ hầu hết đã in các tập truyện ở nước ngoài. Tập Mùa mưa gai sắc đã dịch sang tiếng Pháp tựa Sous Une Pluie d’Epines (dịch sát là Dưới trận mưa gai) do Nxb Flammarion ấn hành. Tập Giấc mơ Thổ dịch sang tiếng Anh tựa The Dragon Hunt (Cuộc Săn Rồng) do Nxb Hyperion in. Năm The Dragon Hunt xuất bản, tạp chí The New Yorker xếp hạng là 1 trong 25 tập truyện ngoại quốc hay nhất trong năm.

Trên đây tôi điểm vài nét về Trần Vũ. Thưa anh Mai Anh Tuấn, theo anh, vị trí của Trần Vũ ở đâu trong văn chương hải ngoại nói riêng và trong văn chương viết bằng tiếng Việt nói chung?

Mai Anh Tuấn: Xin chào quý vị. Hôm nay đúng là có nhiều bạn trẻ, những người tưởng như xa lạ với văn chương Trần Vũ. Đây là điều bất ngờ đối với tôi. Văn Trần Vũ kén khách, nhưng không phải cứ đông người đọc mới là có giá trị. Cộng đồng đọc như thế này cho thấy nhà văn có sức hút riêng.

Qua quan sát ngắn của tôi khi tập truyện này ra mắt đầu năm 2019, dường như có dư luận đâu đó tỏ ra thất vọng, rằng những gì chúng ta tưởng tượng về Trần Vũ hóa ra chỉ như vậy thôi ư. Không biết họ đã đọc tập truyện này như thế nào mà lại có tiếng thở dài như vậy. Nhưng riêng cuốn này, đối với cá nhân tôi, đặt trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam đương đại, hoàn toàn xứng đáng là một tập truyện hay. Đôi khi chúng ta có một sự ghen tị nào đó về sự xuất hiện xa lạ của một tác giả bên kia chân trời, nhưng cần có thái độ đọc đúng để nhìn ra giá trị của tác giả.

Sự xuất hiện của Trần Vũ trong văn học hải ngoại thế nào? Anh rời Việt Nam với tư cách thuyền nhân năm 1979. Theo nhà văn Vũ Khắc Khoan thì phong trào thuyền nhân sau biến cố 30 tháng 4 lại là bước trưởng thành của văn học hải ngoại. Từ năm 1975 nhiều văn nghệ sĩ, trí thức của miền Nam cộng hòa đã ra đi và đặt tiền đồn đầu tiên cho văn học hải ngoại, định hình một cộng đồng văn chương ở hải ngoại. Trường hợp Trần Vũ thuộc thế hệ thứ hai, thế hệ mà lúc rời khỏi Việt Nam về cơ bản chưa phải là tác giả, Trần Vũ lúc ấy mới là một cậu thiếu niên 17 tuổi. Anh bắt đầu trưởng thành, viết văn, tạo dấu ấn trong bối cảnh văn học viết bằng tiếng Việt ở hải ngoại đã có đời sống tương đối ổn định.

Trần Vũ xuất hiện trên văn đàn hải ngoại vào cuối những năm 1980 đầu những năm 1990, cùng với Nguyễn Hoàng Nam, Lê Thị Thấm Vân, Khế Iêm, Đỗ Kh…. Khi ấy một số tạp chí tiếng Việt đã xuất bản đây đó ở Pháp, ở Mỹ. Như vậy văn chương tiếng Việt không còn quá hẻo lánh như thời Nguyễn Mộng Giác nữa. Thế hệ thứ hai do đó có những điểm khác biệt với thế hệ thứ nhất. Trần Vũ ra mắt tập truyện đầu tay năm 1988, lúc còn trẻ, mới 26 tuổi – đầu tay nhưng rất chắc tay, bây giờ đọc mà cũng không dễ lý giải, tiếp cận được ngay, đó thực sự là một tài năng. Phong độ đó vẫn tiếp tục được duy trì ở tập thứ hai. Trần Vũ viết nhiều thể loại khác nhau, sưu khảo chiến tranh, lịch sử, tham gia tích cực cho tờ Hợp Lưu và có thời gian còn làm chủ biên. Đấy là tờ tạp chí xuất bản năm 1991, có vai trò tiên phong trong sự thúc đẩy giao lưu kết nối văn học trong nước và hải ngoại, dù sự giao lưu ấy cũng không dễ dàng gì, chịu nhiều sóng gió, nhưng ít nhất cho thấy những người trong nước và ngoài nước có thể ngồi lại với nhau cùng bàn câu chuyện văn chương chữ nghĩa. Năm 2000 với sự phát triển của internet thì không chỉ tác phẩm của Trần Vũ là nhiều tác giả bên ngoài khác cũng được độc giả trong nước tiếp cận. Chính tôi cũng như chị Thủy đọc Trần Vũ trên internet và ông đã là niềm si mê của tôi thời điểm đó. Với sinh viên của tôi sau này tôi cũng yêu cầu đọc Trần Vũ như một sự bắt buộc.

Tôi nhấn mạnh là từ thế hệ di dân thứ hai có điểm khác cơ bản với thế hệ trước. Đối với một số tác giả chạy khỏi Việt Nam từ 1975 thì một trong những cảm hứng lớn là viết về chính những biến động trong đời sống tị nạn, đời sống di dân. Và rất nhiều sáng tác lúc đó của nhiều tác giả mang nặng cảm giác về chính trị, mang nhiều sự thù hằn. Với Trần Vũ thì những cảm giác đó không rõ, không hiển thị nhiều như các thế hệ trước. Cách viết, chủ đề đều có sự khác biệt. Lưu ý là thời điểm Trần Vũ xuất hiện, các tạp chí văn học, đời sống sinh hoạt văn chương tương đối sinh động, nhưng văn chương tiếng Việt vẫn là thiểu số ở nơi họ sống, chính Trần Vũ lo lắng rằng sẽ không còn độc giả tiếp cận văn học tiếng Việt. Với nỗ lực của chính anh và những người cùng thế hệ thì ít nhất văn chương tiếng Việt vẫn tồn tại, đấy là đóng góp lớn cho thế hệ sau này. Các bạn có thể cũng biết là Linda Lê, nhà văn sinh năm 1962 như Trần Vũ, đã từ chối tiếng Việt để viết tiếng Pháp.

Trần Vũ theo tôi là một tác giả văn xuôi nổi bật của văn học Việt Nam, một gương mặt truyện ngắn xuất sắc, có dấu ấn, xứng đáng để chúng ta đón nhận khi ông quay trở lại Việt Nam.

Diệu Thủy: Khi Nhã Nam xuất bản cuốn sách này thì anh Trần Ngọc Hiếu có nhắn riêng với tôi là cuốn sách này hay quá. Lời đó làm tôi rất cảm động và là niềm vui cho một người biên tập. Anh Hiếu bày tỏ sự ấn tượng của mình đối với nghệ thuật viết của Trần Vũ, và cũng nói rằng những người viết trẻ rất cần đọc Trần Vũ để tham khảo. Vậy xin anh chia sẻ ý kiến của anh về nghệ thuật viết của Trần Vũ, điều gì làm cho Trần Vũ trở nên khác biệt?

Trần Ngọc Hiếu: Trước khi trả lời câu hỏi của Thủy thì cho tôi nói thêm một ý mà Mai Anh Tuấn vừa nói. Cuốn sách này của Nhã Nam khi ra mắt vấp phải một số những phản hồi mà Mai Anh Tuấn dùng một từ khá nhẹ nhàng là "tiếng thở dài" đối với sự hiện diện của Trần Vũ ở Việt Nam. Cá nhân tôi cho rằng, một trong những may mắn đối với văn học Việt Nam đương đại, đó là nó vẫn còn những độc giả nghiệt ngã và khó tính. Một khi người ta còn nghiệt ngã và khó tính là người ta còn đòi hỏi ở nền văn học ấy nhiều hơn thế. Tôi chưa bao giờ thấy mình có đủ thẩm quyền trở thành một loại độc giả nghiệt ngã, nhưng những cách đọc nghiệt ngã ấy gợi cho tôi nhiều câu hỏi. Và một trong những câu hỏi mở đầu cho tọa đàm hôm nay, là văn chương Trần Vũ đứng ở đâu, thời điểm này sự hiện diện của Trần Vũ ở Việt Nam làm chúng ta suy nghĩ điều gì.

1. Phải nói thật một điều, ngôn ngữ là thứ giúp chúng ta che đậy suy nghĩ thật hơn là để phát lộ sự thật. Chúng ta hay gộp Trần Vũ với rất nhiều những nhà văn sinh sống ở nước ngoài và sáng tác bằng tiếng Việt như Lê Minh Hà, Thuận, Nguyễn Văn Thọ… và gọi chung là văn học hải ngoại. Nhưng chữ "hải ngoại" làm mờ đi tính chất phức tạp của cộng đồng người viết bằng tiếng Việt ở bên ngoài biên giới Việt Nam. Theo tôi văn học viết tiếng Việt ở nước ngoài có hai bộ phận, một là văn học lưu vong, Trần Vũ thuộc về cộng đồng này, và hai là văn học xuyên quốc gia, thì Lê Minh Hà, Thuận, Nguyễn Văn Thọ… thuộc về bộ phận này.

Chưa bao giờ khái niệm "văn học Việt Nam" lại đứng trước thách thức như bây giờ. Tiêu chí nào để xác định một tác giả là của văn học Việt Nam, sinh ra ở Việt Nam? hay viết bằng tiếng Việt? Nhã Nam từng in cuốn tản văn tiếng Việt của Joe Ruelle người Canada, thì đó là một hiện tượng của văn học Việt Nam hay là của Canada? Và khi tổ Văn học Việt Nam Hiện đại ở khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm cho sinh viên làm luận văn về Linda Lê thì tôi rất bất ngờ, coi Linda Lê là thuộc văn học Việt Nam thì chúng ta nên hiểu khái niệm đó thế nào đây? Tôi nghĩ đã đến lúc đặt Trần Vũ vào bản đồ rộng hơn là khuôn khổ địa lý: bản đồ của cộng đồng người viết tiếng Việt. Thời điểm này định vị Trần Vũ là công việc phức tạp, đòi hỏi cái nhìn tinh tế, cận nhân tình hơn là thở dài kiểu "anh ta chỉ thế này thôi ư".

Nếu nói về Trần Vũ thì điều đầu tiên tôi nghĩ đến là cách Trần Vũ lựa chọn tiếng Việt để viết văn. Đây là câu chuyện phức tạp nhất và tôi nghĩ nhiều nhất. Linda Lê bằng tuổi Trần Vũ, rời Việt Nam sớm hơn Trần Vũ hai năm, và không theo con đường vượt biên. Linda Lê có một câu nói nổi tiếng lý giải vì sao cô ấy không viết tiếng Việt, rằng viết tiếng mẹ đẻ trong hoàn cảnh của cô không khác gì làm tình với xác chết! Đấy là lý do cô ấy giống như một người cải đạo, vứt bỏ tiếng Việt đi để viết tiếng Pháp và trở thành người viết tiếng Pháp có dấu ấn. Đây cũng là trường hợp của nhiều nhà văn di dân trên thế giới. Hay như những hiện tượng gần đây được quan tâm, là người Việt viết tiếng Anh như Nguyễn Thanh Việt – được giải Pulitzer, Ocean Vương – được giải TS Eliot, Nguyễn Hoa – được đề cử giải Griffin Prize 2017, và Kim Thúy với Ru – giải Canada Reads. Họ có thể bằng hay kém tuổi Trần Vũ, nhưng không có cảm giác phải gắn kết bằng được với tiếng mẹ đẻ.

Bởi theo tôi tiếng Việt ở nước ngoài là thứ tiếng hai lần ngoại biên. Ngoại biên lần thứ nhất trong tương quan với chúng ta. Khi Thủy mời tôi và Mai Anh Tuấn đến cuộc tọa đàm này thì tôi nghĩ là chúng tôi đều không có thẩm quyền nhiều lắm để nói, bởi vì tiếng Việt chúng ta đang dùng là tự nhiên như hít thở khí trời. Chúng ta rất khó hình dung trải nghiệm của Trần Vũ khi anh ấy thích nghi với đời sống nước ngoài trong rất nhiều phương diện nhưng khi viết văn chỉ có thể chọn tiếng Việt. Đấy là thứ tiếng vừa bị ngoại biên hóa với trong nước, vừa bị ngoại biên hóa với văn hóa chính mạch ở nước anh cư trú. Văn học hải ngoại thời kỳ này đang gặp khó khăn. Vì bây giờ là thế hệ thứ ba rồi, họ ngày càng cảm thấy vấn đề của họ không phải tôi là ai mà là tôi thích nghi được với văn hóa chính mạch càng nhanh càng tốt. Quận Cam bây giờ người Việt đa số là người già, dùng tiếng Việt vẫn có thể tương tác được với nhau, nhưng những người trẻ đã rời đi. Thế nên việc Trần Vũ lựa chọn tiếng Việt với tôi là một lựa chọn đầy can đảm, vì anh dùng thứ tiếng hai lần ngoại biên để viết. Tôi nghĩ bởi chỉ có tiếng Việt mới là thứ ngôn ngữ chạm được vào cái chấn thương, những trải nghiệm về lịch sử của anh. Giả sử viết tiếng Anh thì sẽ gần như làm mất đi cái không khí, hay cái gì đó gắn với da thịt, thân thể. Ngôn ngữ gắn chặt với thân thể, và một trong những khía cạnh khiến tôi thích đọc Trần Vũ là anh có một hệ ngôn ngữ thân thể rất sống động. Rất ít các nhà văn Việt Nam có khả năng miêu tả các trạng thái cơ thể sống động như Trần Vũ. Tôi nhắc lại, lựa chọn tiếng Việt của Trần Vũ là lựa chọn can đảm, vì viết thứ ngôn ngữ đó là đối diện với chấn thương, những chấn thương vừa có tính cá nhân vừa có tính lịch sử. Cho nên viết văn chính là một cuộc hành xác khắc nghiệt.

Có một truyện tôi rất thích trong tập này, khó nói là truyện chấn thương nhưng đối với tôi nó lại là minh họa theo cách những chấn thương cá nhân đôi khi là sự dội trở lại những chấn thương lịch sử, đấy là truyện “Phố cổ Hội An”. Trong truyện này nhân vật Lữ vừa dùng tính dục vừa dùng rất nhiều những câu chuyện chém giết tàn sát để mê hoặc Loan, khiến Loan gần như bị cuốn hút về cả bạo lực trong lịch sử lẫn bạo lực trong tình dục. Chấn thương cá nhân và chấn thương lịch sử liên đới với nhau rất mật thiết. Cần đặt sáng tác của Trần Vũ trong một dòng văn học rộng lớn của thế giới – dòng văn học chấn thương, mà lâu nay chúng ta chỉ có mỗi một đại diện là Nỗi buồn chiến tranh. Tôi nghĩ trong cộng đồng lưu vong một một cá nhân kể xuất sắc lịch sử chấn thương của cộng đồng mình, đó là Trần Vũ. Và ít nhiều trong tập này chúng ta có thể đọc điều đó dù đây chưa phải là những truyện chạm đến vấn đề ấy một cách nhức nhối nhất.

2. Vậy sự lựa chọn về ngôn ngữ dẫn đến điều gì? Khi đọc tôi luôn luôn quan tâm đến sự biến đổi của văn học ở cấp độ vi mô, tức là cấp độ lời văn. Lấy mốc từ 1986 trở đi, nói đến văn học đương đại chúng ta hay nghe người ta nói về đổi mới nhân vật, đổi mới nhiều thứ… Nhưng rất thiếu người quan sát về đổi mới trong sự cải tạo câu văn xuôi. Theo tôi có ba người đứng lên đóng vai trò cải tạo. Thứ nhất là Nguyễn Huy Thiệp, ông đưa vào lối hành văn rất khô, tiết chế tối đa cảm xúc, đối lập với thứ văn chương sử thi luôn bão hòa chất trữ tình. Thứ hai là Phạm Thị Hoài, người đưa ngôn ngữ văn xuôi về lại cái khẩu ngữ sống động, có tính bông đùa, cợt nhả, làm một cuộc carnaval trong tiếng Việt. Thứ ba là Trần Vũ. Văn Trần Vũ không khô. Tôi thử đọc một truyện tôi rất thích là “Trưa nắng Hàm Ninh” để xem có bao nhiêu câu chỉ có cấu trúc chủ vị, thì rất ít, rất ít. Câu văn của Trần Vũ trùng điệp, không phải kiểu cố gắng trùng điệp tạo nhạc tính theo kiểu Thuận cứ lặp đi lặp lại một từ hay cụm từ nào đó. Mà cách của Trần Vũ là làm ngôn ngữ đặc quánh lại. Nếu dùng ba từ để mô tả điều mà văn Trần Vũ gợi ra thì đó là: ngột ngạt, u ám, và đặc quánh. Văn Trần Vũ có vẻ thong thả, không tốc độ như văn Phạm Thị Hoài, nhưng sự thong thả đó làm chúng ta cảm thấy bất nhẫn, vì nó dồn vào miêu tả những cảnh bạo lực, bạo dâm. Người viết văn sẽ ý thức ngôn ngữ không bao giờ chỉ là công cụ, ngôn ngữ là thứ để chúng ta chất vấn. Viết văn không phải là sử dụng ngôn ngữ mà là đập vỡ ngôn ngữ. Nói như bà Elfriede Jelinek người đạt giải Nobel năm 2004 là: tôi gõ vào ngôn ngữ để ngôn ngữ khạc ra sự thật. Cách mà Trần Vũ lao động với chữ thì Đoàn Cầm Thi là người sớm nhận ra: Trần Vũ coi ngôn ngữ như là thân thể và hành xác ngôn ngữ để nó không né tránh, mà phải gợi ra được những chấn thương, những cái u uẩn nhất, riêng tư nhất, dễ bị dập vùi bởi nhiều nhân tố lịch sử.

Tại sao chọn tiếng Việt trong khi có khả năng viết bằng ngôn ngữ khác? Thế hệ của Trần Vũ không chỉ bị ám ảnh bởi biến cố khách quan mà còn đối diện bài toán nan giải: mình gắn kết với ai và mình thuộc về đâu. Và Trần Vũ khẳng định tôi vẫn thuộc về tiếng Việt, thuộc về lịch sử của tôi, nên Trần Vũ không say mê viết tiểu thuyết kiểu T mất tích như Thuận, hay như Thư gửi Mina của Thuận đã đẩy bối cảnh ra ngoài Việt Nam trong khi Trần Vũ, kể cả trong truyện ngắn kỳ lạ “Cuộc săn thú vô hình của nhà văn An Nam”, thì vẫn là câu chuyện Việt Nam. Vấn đề Trần Vũ là vấn đề khó với tôi, không dễ nói và dễ đọc, nhưng vì thế mà đáng đọc đi đọc lại.

Tôi nghĩ đối với công việc viết văn của những người viết trẻ, có một cách học viết đấy là thông qua việc đọc những tác giả đáng đọc, những tác giả trao cho ta kinh nghiệm, trao cho ta nhận thức về nghề nghiệp. Tôi nghĩ người tập viết văn sẽ học được nhiều ở Trần Vũ.

3. Nếu tôi biên tập cuốn truyện này tôi sẽ làm cho nó nhất quán hơn nữa, để truyện này toàn những nhân vật xưng tôi, hoặc chúng tôi. Hiện chỉ có “Phố cổ Hội An” là lạc hệ thống, trần thuật từ ngôi thứ ba. Theo tôi việc lựa chọn ngôi kể không bao giờ chỉ là vấn đề kỹ thuật, bởi khi ta lựa chọn ngôi kể là nó gắn liền với vai kể – mình là ai. Nhân vật xưng tôi trong tập truyện này rất đa dạng, thậm chí còn không phải là người mà là ma, trong truyện ngắn “Phép tính của một nho sĩ”.

Ở thời điểm này tôi đang nghiên cứu một cái gọi là Queer theory. Queer tạm gọi là thứ bản dạng phía dưới không theo xu hướng dị tính của đa số. Queer theory trao cho chúng ta việc chất vấn những chuẩn mực – tất cả những chuẩn mực trong đời sống không phải là tự nhiên và đáng là đối tượng để chất vấn nhiều hơn. Văn chương là phương tiện để chất vấn chuẩn mực ấy. Khi đọc Trần Vũ tôi thấy màu sắc queer hiện lên rõ nét. Có khá nhiều truyện miêu tả tình dục đồng giới nữ. Truyện “Gia phả” có cảnh u Đào và Trần Thị có hành động tính dục với nhau. Truyện “Cái chết sau quá khứ”, truyện tàn bạo bậc nhất, thì "tôi" có quan hệ đồng giới với Ngự và Ngọc Trản. “Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu”, cực hay, lần đầu tiên có nhân vật xưng tôi nhưng "tôi" lại là người bị rối loạn nhân cách. (Ai viết văn thì biết để nhân vật tôi bị rối loạn nhân cách tự kể chuyện về mình là một bài toán cực khó về kỹ thuật kể chuyện. Nếu chúng ta đọc Âm thanh và cuồng nộ trong đó có nhân vật Benjy là người thiểu năng mất trí thì tác giả chỉ trần thuật từ ngôi thứ ba.) Trần Vũ trong truyện “Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu” đã dùng thủ pháp phân thân, và để nhân vật "tôi" ngôi thứ nhất nhìn "tôi" ngôi thứ ba với ánh mắt thèm khát.

Đọc Trần Vũ ta rơi vào hàng loạt thứ nhức đầu, không phải vì đọc không "rút ra được bài học" gì như các thầy cô giáo cấp ba hay dạy học sinh. Khó là đọc truyện Trần Vũ khiến ta phải thắc mắc mối quan hệ giữa các nhân vật là mối quan hệ nào. Truyện “Cái chết sau quá khứ” thì mối quan kệ giữa "tôi" và lão Chu bị làm mờ đi. Theo tôi đấy là thủ pháp queer hóa trong văn chương. Truyện “Cuộc săn thú vô hình của nhà văn An Nam”- truyện rất lạ, các nhân vật có mối quan hệ giao hoan kiểu cực kỳ lệch chuẩn.

Đồng tính đã ít được nhắc trong lịch sử rồi, đồng tính nữ càng bị đè nén. Khi nghiên cứu Queer theory tôi thấy nhiều người đặt trọng tâm ở gay chứ không quan tâm đến điểm nhìn lesbian. Tôi nhận ra đồng tính nữ là thứ cũng bị hai lần ngoại biên, và trạng thái đó tương hợp với tiếng Việt mà Trần Vũ sử dụng. Phải dùng thứ ngôn ngữ ấy mới diễn đạt được những gì khuất lấp nhất, cay đắng nhất, nhỏ nhất trong lịch sử. Văn học khác lịch sử, những gì lịch sử bỏ quên thì đó là chỗ của văn học.

Theo tôi khi người kể chuyện xưng tôi thì cái tôi đó phải mang căn tính. Người ta rất ít dạy phân tích người kể chuyện từ góc độ căn tính. Năm ngoái rộ lên cuộc tranh luận có nên dạy “Chí Phèo” trong trường phổ thông nữa hay không. Tôi cho là vẫn nên dạy, nhưng tất cả lý do mọi người đưa ra rằng nó bạo lực quá, rằng Chí Phèo là nhân vật lệ thuộc hoàn cảnh… là những diễn dịch rất thô sơ. Trên thực tế điều gượng nhất khi đọc truyện “Chí Phèo” đấy là cảnh Chí Phèo cưỡng hiếp Thị Nở. Nhưng trong cái đêm Thị Nở bị cưỡng hiếp thì không có điểm nhìn của Thị Nở. Các diễn dịch rằng nhờ Chí Phèo cưỡng hiếp mà Thị Nở được làm đàn bà, và nhờ cưỡng hiếp Thị Nở mà Chí Phèo thành đàn ông, thì thứ đó rất đáng sợ. Nếu dạy điều đó trong thời kỳ này thì đó là một diễn ngôn về cưỡng hiếp và cưỡng hiếp như thế thì hóa ra hợp lý quá?

Bởi vậy tôi thích cách Trần Vũ cực kỳ ý thức khi mình xưng tôi. Cái tôi mang căn tính đó không chỉ kể chuyện mà còn chất vấn lịch sử. Ngay cả truyện lạc hệ thống là “Phố cổ Hội An” nếu như đọc kỹ, toàn bộ điểm nhìn là của Loan, truyện được kể từ điểm nhìn bên trong, tức là những gì Loan cảm thấy. Người phụ nữ trong truyện của Trần Vũ luôn cảm thấy thế giới rõ nét nhất trên thân thể của mình. Cho nên dạy văn ngoài chuyện tìm đề tài, ý tưởng đã đến lúc cần nói về việc lựa chọn ngôi kể, và ngôi kể đó gắn liền với trách nhiệm xã hội của anh, nó mang căn tính nào, trường nhìn của nó đến đâu, nó có thể đi đến những khám phá nào, chất vấn nào. Đọc văn không phải để lấy bài học mà cùng nghĩ với những gì tác phẩm đặt ra.

Diệu Thủy:

Cảm ơn anh Trần Ngọc Hiếu. Anh vừa nói để cho thống nhất thì tôi nên bỏ “Phố cổ Hội An” ra, nhưng tất nhiên là không đời nào tôi bỏ cả, bởi đó là một truyện rất hay và chính anh Hiếu cũng rất thích nó. Và tôi nghĩ “Phố cổ Hội An” vẫn thống nhất với các truyện khác ở cảm hứng lịch sử, ở tính bạo lực như một điểm nhất quán trong văn chương Trần Vũ. Trong truyện này có những cảnh khiến tôi cảm thấy rất kinh dị, như cảnh Lữ đút cho Loan ăn cá sống chẳng hạn, nó làm tôi nổi gai. Có thể nói tính bạo lực là một sự nhận diện của văn chương Trần Vũ. Tôi mong anh Mai Anh Tuấn chia sẻ thêm suy nghĩ của anh về cách Trần Vũ sử dụng yếu tố bạo lực để viết tác phẩn của mình và dùng nó như một phương tiện lý giải nhân sinh.

Mai Anh Tuấn:

Lối viết đặc sắc của Trần Vũ đúng là khó ai có thể bắt chước. Tôi không chắc những bản dịch tiếng Anh tiếng Pháp có thể đảm bảo được yếu tố ngôn ngữ hay không. Đặt trong bối cảnh văn học đương đại thì riêng sự ma mị và quái quỷ trong ngôn ngữ đã đặt Trần Vũ ở một vị trí rất khó lẫn. Trần Vũ còn nhiều truyện hay khác, xứng đáng để trở lại, mong Nhã Nam và chị Thủy dũng cảm chiến đấu với cái gọi là cơ chế để in thêm một tập nữa.

Bạo lực, bạo dâm trở đi trở lại, nhiều chiều trong văn Trần Vũ. Bạo lực gắn với quá khứ, bạo dâm gắn với con người cá nhân vô danh hoặc hữu danh. Nó chảy trong mạch lịch sử và cũng có mặt ở hiện tại. Tôi nghĩ cách Trần Vũ viết về bạo lực, bạo dâm không phải là ngẫu nhiên mà là một chiến lược viết của tác giả, bằng những nhìn nhận quá khứ, bằng những trải nghiệm không lấy gì làm ngọt ngào trong chiến tranh. Trần Vũ có bài viết mà tôi ấn tượng là bài “Lưng trần”, ở cuối có nói rằng lưng trần của phụ nữ là đoạn lưng đẹp nhất, còn lưng của đàn ông Việt chỉ toàn những vết chém mà thôi.

Trải nghiệm về chiến tranh, những gì Trần Vũ đã chứng kiến đủ để anh có cái nhìn khái quát về một đặc tính xuyên suốt trong lịch sử Việt Nam mà tôi không ngại nói, rằng ẩn trong máu mỗi người Việt Nam là bạo lực và bạo dâm. Cái ngưỡng để Trần Vũ trở lại trong nước nằm ở cái khó đó. Khi nhìn nhận đặc tính của cộng đồng và lịch sử của nó là bạo lực và bạo dâm, ta mới thấy khủng khiếp. Ít ở cộng đồng nào mà lịch sử có nhiều cuộc chém giết, những câu chuyện huynh đệ tương tàn nhiều như vậy. Truyện “Gia phả”, có đoạn Trần Thủ Độ chiếm đoạt Trần Thị Dung và nói: Dâng hiến cho ta là dâng hiến cho đất nước, làm gì mà phải khóc lóc kêu gào. Và không ở đâu mà cảm hứng tình tình dục lại nảy sinh từ hưng phấn với những chuyện bạo lực chém giết đậm đặc như “Phố cổ Hội An” miêu tả.

Trần Vũ đúng là có cảm hứng lịch sử, có vốn hiểu biết lịch sử, viết lịch sử không thua kém ai. Nhưng cái riêng khác, độ khó, là ở chỗ chất vấn nhiều về bạo lực và bạo dâm. Phải chăng vết chàm của quá khứ hiện hình trong cuộc sống hiện tại rõ như chỉ tay chúng ta, như một phần của căn tính, của chiến tranh ly loạn, của mất mát đứt lìa. Và những người trải qua biến cố như vậy họ tìm đến chỗ ấy như một nơi chốn để sáng tạo, để cắt nghĩa cho chính bản thân mình. Cho nên văn của Trần Vũ vừa lôi cuốn vừa hất đẩy chúng ta ra khỏi trang viết, bắt chúng ta đối diện tận cùng với bản tính ác, dâm trong mỗi con người mà những diễn ngôn của đạo đức và văn hóa che lấp đi. Sự trở lại của Trần Vũ hôm nay khiến chúng ta giật mình. In cuốn sách này là sự lựa chọn táo bạo của Nhã Nam và của cá nhân chị Thủy.

2.Trao đổi với độc giả

clip_image0061_thumb2

Độc giả: Xin hỏi chị Diệu Thủy, sự khó khăn để ra được cuốn sách này là gì, cái khó là ở chỗ Trần Vũ là một nhà văn hải ngoại hay cái khó là do văn phong, ngôn ngữ của tác phẩm?

Diệu Thủy: Trần Vũ là một người viết thẳng và không kiêng dè bất cứ điều gì. Trần Vũ không hẳn hoặc cố tình như những người viết khác đặt các vấn đề chính trị một cách thô sơ trực tiếp lên trang viết, nhưng anh không kiêng dè bất cứ vấn đề nào đến trong suy nghĩ và sáng tạo. Khi in sách Trần Vũ đề nghị tôi không-cắt-bất-cứ-một-từ-nào. Tôi đã phải đọc toàn bộ sáng tác của Trần Vũ, chọn dần từng bước một, để xem chúng tôi có thể tiếp cận được cái ranh giới hợp lý đến đâu. Kết quả là chúng tôi đã có được cuốn sách này. Văn của Trần Vũ mọi người hay nhắc “Giấc mơ Thổ”, “Mùa mưa gai sắc”, và nếu tính những truyện đó là điểm mười, thì cuốn này theo tôi cũng phải được điểm tám.

Độc giả: Các diễn giả có đánh giá cao nhà văn Trần Vũ. Trước đây tôi thấy có Nguyễn Huy Thiệp đã viết về cái ác, và từng nói trong truyện Mưa Nhã Nam – Em có ghê tởm điều thiện như là điều ác không. Mong các diễn giả cho biết kỹ hơn sự viết về cái ác của Trần Vũ?

Trần Ngọc Hiếu: Câu anh trích của Nguyễn Huy Thiệp theo cảm nhận của tôi mang một nội hàm hơi khác. Điều thiện xét cho cùng là những quy phạm đạo đức trong đời sống và vì là những quy phạm nên nó rất nhàm tẻ. Đề Thám trong câu chuyện đó đã không thể vứt bỏ tất cả để đi với người con gái ông yêu, mà đưa cô ấy về nhà, về lại với trật tự. Thật ra ở mức độ nào đó văn chương bị hấp dẫn bởi bóng tối và cái ác hơn bởi ánh sáng. Vì văn chương thuộc về tự do, nó luôn thôi thúc chúng ta chống lại cái bình thường. Đến tuổi này tôi nhận ra không có cuộc nổi loạn nào khó hơn nổi loạn trong chính đời thường, vì đời thường có quá nhiều thứ níu giữ chúng ta chấp nhận hiện thực đang có. Cái ác của Trần Vũ theo tôi thuộc về phạm trù khác: đấy là cái ác cái dâm vừa thuộc về căn tính tiềm tàng trong mỗi chúng ta mà chúng ta muốn che đậy, vừa là một phần của lịch sử và hay bị ngụy trang thành cái đẹp.

Mai Anh Tuấn: Trần Vũ khi viết hay dừng lại miêu tả cảnh bạo lực, bạo dâm như một kỹ thuật quan trọng trong điện ảnh, bắt ta phải đối diện, suy ngẫm, đón nhận chứ không như nhiều nhà văn khác là thường lướt qua. Nguyễn Minh Châu nói thể tạng của ông là đọc những đoạn giết người thì không dám đọc phải nhảy ngay qua trang khác, như vậy sao mà viết cái ác được. Chủ đề cái ác vắng mặt khá lâu trong văn học trước 1975, chúng ta chỉ nhìn thấy cái ác của kẻ thù, còn nói chung chúng ta là tốt đẹp, lương thiện, tử tế. Sau 1975 chúng ta mới đặt lại vấn đề về cái ác. Trần Vũ viết về bạo lực, bạo dâm, tôi không chắc cái ác có nằm trong đó hay không. Nhưng một số nhà văn hay viết về cái xấu cái ác như là một cách phản ánh xã hội, đọc nó người ta sẽ than rằng cái ác lên ngôi, nhân tính không còn v.v.. Trần Vũ không làm việc đó, không phản ánh các ác cái xấu để chúng ta cất tiếng phê phán xã hội và phóng chiếu vào thực tế xã hội. Trần Vũ bắt chúng ta nhìn sâu vào quá khứ, lịch sử, vào căn tính và khiến chúng ta rùng mình nhiều hơn.

Độc giả: Trước đây tôi nghe có ý kiến rằng họ không thích tập truyện vì không muốn nhìn lịch sử qua thái độ bệnh hoạn. Tôi nghĩ đến những diễn viên đóng vai phản diện hay bị đồng nhất với nhân vật, dù ngoài đời họ không như thế. Mong chị Thủy, người có tiếp xúc với tác giả, nói một chút về con người tác giả, chắc là nhiều người ở đây muốn biết hơn về chân dung tác giả không chỉ trong văn chương mà trong cả đời thường.

Diệu Thủy: Có vẻ Trần Vũ là một nhân vật bí ẩn quá phải không? Chúng ta không tìm thấy ảnh của anh ở đâu, không thấy phát ngôn chỗ nào ngoài các sáng tác trên mạng. Tôi phải nói là Trần Vũ… dễ thương. Có một điều thú vị là khi trao đổi thư từ, Trần Vũ dùng một hệ ngôn ngữ rất cũ, kiểu Bắc kỳ xưa, không như chúng ta nói chuyện thế này. Anh gọi tôi là "cô Diệu Thủy”, dùng các từ kiểu Phi Luật Tân… Theo tôi đấy là việc dùng một cách có ý thức, ý thức giữ lại, làm sống lại lối giao tiếp xưa. Trần Vũ là người đa văn hóa, mang nhiều văn hóa trong mình: gia đình gốc Bắc, lớn tên ở miền Nam, sau đó sống ở Pháp và bây giờ ở Mỹ. Tôi kết nối với những điều anh Hiếu và anh Tuấn nói thì cảm giác như đó là cách Trần Vũ giữ lại căn tính hay lịch sử của mình. Trong giao tiếp Trần Vũ không dữ dội như trên trang viết, mà có vẻ chỉn chu, chi chút. Tháng trước tôi có đi châu Âu, sang Pháp, Trần Vũ dặn dò tôi phải đi giày thấp, tham quan chỗ nào, ăn thử những món gì, nhà hàng nào ngon mà lãng mạn… Bản thân nhà nghiên cứu phê bình Thụy Khuê cùng nói Trần Vũ bản tính hiền lành nhút nhát. Tóm lại đừng vì nhà văn viết dữ dội mà không dám… lại gần.

Mai Anh Tuấn: Về sự bệnh hoạn thì tôi cũng tiếp xúc với giới văn chương nhiều và tôi thấy nhà văn Việt Nam thuộc vào loại… lành nhất, dễ chịu nhất so với nhiều giới khác. Các bạn đừng bao giờ bị lái vào sự tương đồng giữa con người cụ thể và con người sáng tạo.

Độc giả: Trong truyện Trần Vũ có các yếu tố loạn luân không? Tôi rất tò mò về các mối quan hệ của các nhân vật trong tập truyện.

Trần Ngọc Hiếu: Điều mà bạn băn khoăn thì hồi đầu tiên tôi đọc Trần Vũ, tôi cũng chẳng hiểu gì. “Cái chết sau quá khứ”, mối quan hệ của các nhân vật không định hình, đến cuối mới ngờ ra. “Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu”, đến cuối mới biết hai nhân vật là một. Truyện của Trần Vũ tạo ra cảm giác vừa đọc vừa phải đoán. Một trong những kỹ thuật viết quan trọng nhất là phải thắng lại tính khả đoán của độc giả. Nếu các bạn đi offline với các nhóm viết trinh thám thì họ chia sẻ rất nhiều thủ pháp để làm sao chiến thắng độc giả. Văn của Trần Vũ có một yếu tố mà bây giờ nhiều nhà văn không đầu tư, đấy là sự hấp dẫn của cốt truyện. Nhiều người cứ nói về đổi mới nghệ thuật tự sự, truyện không có cốt truyện mới là trào lưu xu hướng. Nhưng mà tôi nghĩ một trong những thứ làm cho nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn là đầu tư vào cốt truyện. Các mối quan hệ trong truyện Trần Vũ bị lỏng, và nó đúng là trạng thái của lịch sử, lịch sử không mạch lạc như chúng ta được học. Cái queer ở đây không chỉ là ở mối quan hệ đồng giới đâu, cả loạn luân cũng là queer hơn là phán xét nó về đạo đức. Tại sao "tôi" lại yêu con gái "tôi" đến vậy, trong khi lão Chu chỉ muốn hiến nó vào cung? Tại sao mối quan hệ của lão Chu với những người phụ nữ trong truyện lại có tính trấn áp? Trần Vũ là nam nhưng lại lựa chọn nữ như là điểm nhìn của mình, bởi cuối cùng văn chương là tiếng nói của những người không có tiếng nói. Loạn luân với tôi là queer chứ không phải loạn luân. Lỏng, mơ hồ mới là thực tại, mới là lịch sử. Nên truyện của Trần Vũ có một kỹ thuật rất hay là đồng hiện. Đồng hiện sẽ xóa mờ không gian, trộn lẫn thời gian, hư và thực, tạo cho văn Trần Vũ đọc rất giống một thể lỏng. Đấy là điều ta khó bắt gặp trong văn học Việt Nam đương đại. Văn Nguyễn Huy Thiệp không có sự lỏng ấy, các quan hệ xã hội trong truyện của ông rất định hình, nên đọc vẫn vào. Đọc Trần Vũ lần đầu tiên thấy khó, vì hóa ra mối quan hệ của nhân vật không phải thế này mà lại là thế kia.

Diệu Thủy: Tôi thấy Trần Vũ ý thức rất cao trong việc xây dựng cốt truyện và giấu võ rất giỏi, ta đuổi theo đến cuối mới phát hiện được một cái gì đó. Trần Vũ trong hầu hết các truyện đều đẩy cuộc tìm kiếm của chúng ta đến điểm nút cuối cùng rồi mới bung ra một cái gì đấy.

Độc giả: Tôi thích Trần Vũ vì cách kể chuyện quá hay. Tôi hay được học về đổi mới nghệ thuật tự sự, các thủ pháp phân mảnh, phi tuyến tính… Nhưng tôi nghĩ đã là truyện thì phải kể một cái gì đấy. Tôi rất đồng tình với điều các diễn giả nói. Và tôi thấy đọc Trần Vũ thích nhất là những cú twist, nó khiến cho tôi đọc rất háo hức, cảm thấy sắp bị đánh lừa. Vậy nghệ thuật tạo twist của Trần Vũ là như thế nào?

Trần Ngọc Hiếu: Twist chính là những bất ngờ của câu truyện. Trần Vũ hay tạo sự bất ngờ nhưng sự bất ngờ này đã được chuẩn bị từ trước. Ta có thể cảm thấy không thể chấp nhận được cái kết này nhưng hóa ra mọi thứ đã được chuẩn bị. Và đấy là thứ rất kinh khủng. Nó làm cho ta cảm giác khi đọc đến cuối cùng lại cảm thấy hình như mình chưa đọc và phải lật lại. Ví dụ truyện “Trưa nắng Hàm Ninh” với tôi nó gần với thể loại truyện noir, tức là truyện hình sự vì nó kết lại bằng không khí cực kỳ mơ hồ. Nếu mà nói về sự kinh dị thì truyện này mới là truyện kinh dị đấy chị Thủy. Ta có cảm giác ngờ ngợ Trần Vũ đưa ta đối diện với một vụ giết người. Nhưng cái hay là anh vẫn dùng thù pháp mơ hồ hóa. Nếu như ai đọc kỹ truyện này sẽ để ý rằng liệu chị Minh có phải bị giết chết hay không, bị trở thành một thành phẩm trong cái thứ nước mắm mà pá Hổi nghĩ là thứ nước mắm trác tuyệt hay không. Trong rất nhiều nhưng đoạn trước đó, nhiều lần nhân vật ví "tôi" giống con cá, chị Minh giống như con cá… Những chi tiết đó lại được miêu tả bằng hành văn từ từ, và nếu như đọc hời hợt chúng ta lại cảm giác mấy thứ này không nằm trong mạch sự kiện và skip nó. Nhưng hóa ra tất cả những thứ nhỏ nhỏ đó dẫn ta đến một bất ngờ. Tóm lại nếu muốn twist mà không gây cảm giác giả tạo thì phải chuẩn bị từ trước. Điều này rất gần với kỹ thuật kể truyện gọi là kỹ thuật cấu tứ, mà ngày trước tôi học tiểu thuyết cổ điển các thầy hay gọi là kỹ thuật phục bút. Anh muốn tạo ra sự bất ngờ thì trước đó anh phải rào đón. Thêm nữa khi đọc review về tập truyện nhiều bạn nói rằng có nhiều truyện kết thúc khiên cưỡng, như “Phố cổ Hội An”. Nhưng với tôi thì không. Bởi vì Trần Vũ viết truyện ngắn, đấy là thể loại của những khoảng trống. Nó hẫng một đoạn không phải tác giả bí mà là cố tình tạo ra khoảng hẫng, nếu không nó sẽ thành truyện dài, hoặc ngắn quá lại sơ sài thành thứ văn tiểu phẩm. Cái khoảng trống giữa lúc Loan đang đầy cảm giác về thân thể đến lúc Loan nhớ lại tất cả những thứ đó là cực kỳ hay. Giống như thủ pháp lược thời gian, như khoảng trống trong thơ. Bao nhiêu thời gian qua rồi mà Loan vẫn bị đắm đuối vào trong những câu chuyện Lữ kể, vẫn đồng nhất bạo lực trong lịch sử với bạo lực trên thân thể. Hay “Gia phả”, nhiều đoạn hẫng, nhưng hóa ra đã được chuẩn bị trước. Đoạn đầu Trần Thị ngắm bức tường, cuối cùng Thiếu đế cũng nhìn bức tường, đó là dấu hiệu về thời gian lịch sử quy hồi. Lúc trước Trần thị khao khát nhìn nó, bây giờ Thiếu đế ân ái với nó, thủ dâm với nó. Tôi không có may mắn được tiếp xúc với Trần Vũ như chị Diệu Thủy nhưng tôi luôn luôn tin là anh Trần Vũ bản thảo bản nháp rất dày vì phải làm việc đi làm việc lại. Đây là lời tự sự của một nhà văn bất thành như… tôi. Những thứ tưởng chừng vu vơ gài cắm thế này chắc chắn nhà văn phải làm việc rất nhiều lần. Chứ không phải viết một lần là xong post lên facebook được nghìn like!

Mai Anh Tuấn: Tôi thấy sự hấp dẫn của văn chương Trần Vũ ngoài yếu tố kỹ thuật, còn là cách miêu tả thiên nhiên, khung cảnh bậc thầy, như một âm bản rửa mãi không hết. Người ta nói Trần Vũ có sự thông minh của người sách vở, Nguyễn Huy Thiệp có sự thông minh của người hiểu đời. Cách viết mỗi người do đó khác biệt nhau. Nhưng ở khía cạnh nào đó, tôi nghĩ những người viết trẻ nên học lối viết có tính hiện đại cao như Trần Vũ, nơi ông dùng khá nhiều thủ pháp của điện ảnh, âm nhạc, nhiếp ảnh. Những người viết trẻ cũng cần tiếp cận nhiều ngành nghệ thuật hiện đại.

Độc giả: Các anh chị có nói đóng góp của Trần Vũ là ông chọn tiếng Việt để viết. Vậy tại sao trong văn học có hiện tượng là người ta dùng thứ tiếng khác tiếng mẹ đẻ để viết văn tốt hơn, phát triển hơn, như Linda Lê? Tại sao viết tiếng Việt lại khó với họ, xin nói kỹ hơn?

Trần Ngọc Hiếu: Thực ra việc lựa chọn ngôn ngữ đối với một nhà văn phức tạp và có nhiều vấn đề hơn là việt sử dụng một công cụ thông thường. Ngôn ngữ mang bản chất xã hội lịch sử, nhưng rất tiếc là ở trường đại học không bao giờ dạy điều đó. Bản chất xã hội của ngôn ngữ là nó sinh ra trước chúng ta, nó không chỉ trao cho chúng ta các khả năng mà còn tạo ra áp lực. Nhà văn hiểu rằng chọn một ngôn ngữ nghĩa là không chỉ dùng các lợi thế của nó mà còn chịu các áp lực từ nó. Vì thế nếu muốn thắng áp lực thì phải chọn ngôn ngữ khác. Những trường hợp này rất độc đáo. Chẳng hạn như Jonathan Littell viết Những kẻ thiện tâm, Jonathan là người Mỹ và tiếng Anh là ngôn ngữ mạnh, nhưng cuốn đó viết bằng tiếng Pháp, cực kỳ dày. Điều đó có lý do: vì ông viết về sự kiện Holocaust, mà nước Mỹ có trải qua sự kiện đó đâu, nên ông đã dùng hệ ngôn ngữ Âu châu gắn liền với biến cố đó để chạm vào nó. Nhà văn Beckett là người Ireland di cư sang Pháp đã viết Đợi Godot bằng tiếng Pháp. Trước đây chúng ta hay nghĩ không có gì thân thuộc hơn tiếng mẹ đẻ, thế nhưng gần đây tôi quen một bạn, bạn ấy làm thơ nhưng không phải bằng tiếng Việt mà tiếng Anh, và nói là chỉ khi viết tiếng Anh bạn ấy mới cảm thấy là mình đang làm thơ. Trải nghiệm cá nhân đối với ngôn ngữ thời kỳ này đặc biệt đa dạng và phức tạp. Chúng ta không thể lấy trường hợp Trần Vũ để minh họa cho việc vì sao phải viết tiếng Việt. Chúng ta chỉ biết rằng Trần Vũ chọn tiếng Việt là có lý do, nó gắn với ý thức của anh về căn tính, rằng mình thuộc về đâu.

Độc giả: Tôi thấy tôi hợp gu với giọng văn Trần Vũ. Nhưng có ý kiến cho là khó tách bạch được ba cái tên Nguyễn Huy Thiệp, Trần Vũ, Đỗ Hoàng Diệu. Chị Thủy đã biên tập cả Tuổi 20 yêu dấu của Nguyễn Huy Thiệp, cả Lưng rồng của Đỗ Hoàng Diệu, chị nghĩ sao?

Diệu Thủy: Ba người này không giống nhau. Nguyễn Huy Thiệp là một kiểu khác. Và nhiều người vẫn nói là Trần Vũ dẫn dắt Đỗ Hoàng Diệu, nhưng thực tế thì không giống nhau. Trần Vũ là bạo lực, là đập vỡ ngôn ngữ, trong khi lối viết của Đỗ Hoàng Diệu rất nữ tính, rất đàn bà. Đôi chỗ những cảnh sex trong văn Trần Vũ và Đỗ Hoàng Diệu bạn thấy nó cùng có sự ráo riết, gay cấn, nhưng Trần Vũ khai thác yếu tố bạo lực trong tình dục, còn ở Đỗ Hoàng Diệu là cảm giác của đàn bà. Tôi sẽ không đồng tình với ý kiến đó.

Độc giả: Tôi thấy Trần Vũ tỉnh, còn Đỗ Hoàng Diệu thì mê đắm.

Mai Anh Tuấn: Về việc viết tiếng Việt thì qua chị Thủy có thể hỏi Trần Vũ là tại sao việc viết của Trần Vũ dừng lại khá sớm, và giai đoạn viết sau thiên về khảo cứu, tùy bút. Câu chuyện này phần nào cũng trả lời cho chúng ta về số phận của những người viết tiếng Việt bên ngoài biên giới. Nếu họ không được xuất bản trong đất nước với 96 triệu dân, cứ cho là chỉ 6 triệu người đọc đi, thì vẫn tốt hơn nhiều so với 3,5 triệu người Việt ở nước ngoài mà chủ yếu là đi buôn. Linda Lê tuy từ bỏ tiếng Việt nhưng luôn có sự mặc cảm, cô nói tiếng Việt như cái thai chết lưu trong bụng mình, và cuộc viết luôn là một sự giằng xé lớn.

Việc Trần Vũ trở lại trong nước là đầy mới mẻ hấp dẫn với chúng ta khi mà đời sống văn chương ở đây đang khá bình lặng.

Diệu Thủy: Sau khi Nhã Nam ra cuốn sách này thì có thể điều đó, tôi không dám chắc lắm, gợi một chút cảm hứng nào đấy với Trần Vũ chăng, vì anh ấy đã viết truyện mới nhất là truyện “Vĩnh Yên”, và tôi được đọc gần như là đầu tiên. Tôi phải nói thêm trong truyện đó Trần Vũ tả bữa ăn trong một gia đình Bắc kỳ giàu có rất hay. Trần Vũ tả đồ ăn hay, không phải tả văn vẻ kiểu Vũ Bằng, so sánh miếng bánh cuốn trắng như lưng hay ngực cô gái trẻ… Trong truyện “Cánh đồng mùa gặt khô” hay “Giấc mơ Thổ”, Trần Vũ tả những cảnh nhẩn nha làm bếp, màu sắc từng món ăn, cách người ta đưa từng thứ vào miệng đúng quy cách như một nghi lễ, thành ra rất hấp dẫn, sống động và chắc hẳn Trần Vũ rất có cảm hứng với… ẩm thực.

Việc Trần Vũ viết trở lại sau khi in sách trong nước là một dấu hiệu vui, cộng đồng tiếng Việt ở hải ngoại ngày càng mỏng đi nhưng cộng đồng trong nước vẫn còn đấy. Tôi cũng tin là việc in tập sách này làm giàu có thêm văn học tiếng Việt, và ghi dấu sự hợp lưu các dòng văn học viết bằng tiếng Việt.

Diệu Thủy: Thưa quý vị, gần hai tiếng đồng hồ chúng ta đã ngồi đây nghe một câu chuyện hấp dẫn, và chính bản thân tôi cũng cảm thấy nghe được nhiều điều mới mẻ. Trước khi làm cuốn sách này tôi đã biết là nó hay rồi, nhưng sau khi nghe những phân tích của Mai Anh Tuấn và Trần Ngọc Hiếu thì tôi càng thấy là nó… hay thật! Tôi hy vọng trong tương lai sẽ in được một tập sách nữa của Trần Vũ và lúc ấy chúng ta lại có thể gặp nhau ở đây chăng. Cảm ơn L’Espace, cảm ơn anh Trần Ngọc Hiếu và Mai Anh Tuấn, cảm ơn các bạn. Tất cả đã làm nên một buổi tối thú vị như hôm nay.

Nguyễn Hoàng Diệu Thủy ghi.

clip_image0081_thumb

bài đã đăng của Nguyễn Hoàng Diệu Thuỷ


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)