- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Trải Nghiệm Học Thuật: Thơ (Tính) Lưỡng Cực

 

Brain in bed - with Dog

Trí óc ngủ trên giường với chó con
(nguồn: manicddaily.com)

 

(Trích: Sáng Tạo và Tái Tạo Thơ. Phát hành mùa đông 2019)

Nghệ thuật làm thơ thông dụng là phương pháp làm thơ theo cảm hứng. Người làm thơ nắm bắt đối tượng hoặc ý nghĩ bất chợt hiện ra, kích thích nguồn hứng khởi, tạo ra ngôn ngữ. Câu thơ đầu tiên xuất hiện, kéo theo câu thơ sau, kéo theo câu tiếp nối. Đôi khi dừng lại, trăn trở, suy tư, tìm kiếm, rồi câu thơ lại tiếp tục hiện hình. Cho đến một lúc, bất ngờ ý tứ kết bài báo hiệu, dẫn đến vài câu chấm dứt. Những nhà thơ kinh nghiệm chỉ chấp nhận những điều làm cho họ kinh ngạc và những gì tiếp tục gây kinh ngạc trong khi bài thơ thành hình. Louis Simpson xác nhận: “Tôi không thừa nhận đang có một bài thơ, ngoại trừ thơ bắt đầu gây hứng khởi cho tôi biết điều gì mà tôi chưa từng biết.” (Alberta T. Turner, 50 Contemporary Poets: The Creative Process (David McKay Co., Inc.: 1977), tr. 3.)

Thơ Trí Tuệ.

Ngược lại, một phương pháp làm thơ ít phổ biến, mới phát triển từ giữa thế kỷ 20, đó là cách làm thơ từ nguồn lực trí tuệ. Trong lịch sử thi ca, lý trí đóng vai trò hướng dẫn nội dung bài thơ đã xảy ra ở mức cao độ trong thời kỳ Ánh Sáng. Khi đó, lý trí và luận lý chiếm thượng phong trong xã hội và đời sống hàng ngày ở Âu Châu và Anh Quốc. Rồi phản ứng ngược lại, phong trào Lãng Mạn đã đưa cảm xúc vào thơ, lấn áp vị trí của trí tuệ. Khuynh hướng này kéo dài qua thời kỳ Hiện Đại, giảm sút sau 1950, khi phong trào Hậu Hiện Đại bắt đầu.

Nói đến trí tuệ là nguồn để sáng tác, nghĩa là có sự kế hoạch và dàn dựng, nhưng trước hết là tác dụng của tư duy về một điều gì. Có điều gì trong đời sống không thỏa mãn hoặc gây phiền nhiễu khiến nhà thơ phải quan tâm. Họ muốn tìm hiểu rõ hơn hoặc suy tưởng để giải quyết vấn đề. Hành động này không bị giới hạn bởi thời gian, tuy nhiên, nếu là vấn đề phức tạp, sẽ đòi hỏi nhiều tháng năm suy nghĩ. Cho dù giải quyết được hay không, hiểu rõ hoặc còn mù mờ, quá trình tư duy tạo ra động lực, nẩy sinh ý tứ, rồi một hôm, thơ xuất hiện.

Ví dụ bài thơ “On Parables” (Ngụ Ngôn) của Franz Kafka, bản dịch Anh ngữ của Willa Muir và Edwin Muir:

Nhiều người phàn nàn lời nói của các bậc thông thái luôn luôn chỉ là những ngụ ngôn, không ích lợi gì cho cuộc sống hàng ngày, mà chúng ta chỉ có một đời để sống. Khi nhà hiền triết nói: “Hãy đi đến”, không có nghĩa phải đi qua một nơi nào cụ thể, dù sao chúng ta cũng sẽ đi nếu việc đó đáng làm. Ông ta muốn nói một điều gì xa xôi cao cả mà chúng ta không biết, điều gì mà ông không thể chỉ định chính xác hơn, do đó không thể giúp chúng ta một chút nào trong khi sống ở đây. Tất cả ngụ ngôn này thật sự được đặt ra chỉ để nói những gì không thể hiểu là không thể hiểu, như chúng ta đã biết. Nhưng những quan tâm mà chúng ta phải đối phó hàng ngày: là một vấn đề khác.

Liên quan đến chuyện này, có người đã từng nói: Tại sao lại miễn cưỡng? Nếu sống theo ngụ ngôn, bản thân sẽ trở thành ngụ ngôn và không còn quan tâm đến những chuyện thực tế xảy ra.

Người khác nói: Tôi cá, lời nói này cũng là ngụ ngôn.

Người kia trả lời: Anh đã thắng.

– Nhưng đáng tiếc, cũng chỉ trong ngụ ngôn.

– Không phải, thực tế là trong ngụ ngôn anh đã thua.

Bài thơ của Kafka gợi ý những điều gì không thể hiểu, sẽ có thể hiểu, nếu người nghe bước ra khỏi ngụ ngôn. Trong cuộc sống hàng ngày, chuyện xảy ra chung quanh đều có thể cảm nhận như những ngụ ngôn hoặc ẩn dụ. Dưới nhãn quan này, đời sống mang nhiều ý nghĩa khác nhau qua những “đại diện cụ thể và thực tế” mà chúng ta phải quan tâm và tranh đấu. Sự kiện này làm cho đời khó hiểu và sống có quá nhiều điều không thể hiểu. Phải chăng sẽ dễ hiểu hơn nếu chúng ta đứng ra ngoài ngụ ngôn và ẩn dụ?

Nhà thơ sẽ trầm ngâm với ý tứ thơ đó, khác với thơ cảm tính thường phải được sáng tác liền, vì nếu ngâm lâu, tình cảm sẽ hạ nhiệt hoặc mất hứng khởi, thơ sẽ chết nguội. Trong khi thơ từ nguồn trí tuệ được nuôi dưỡng. Những ý tứ khác dần dần xuất hiện. Nối kết, chọn lựa, dàn trải, cho đến khi có cảm giác hài lòng, nhà thơ bắt đầu viết. Viết đi viết lại, thêm thắt, ngưng nghỉ… đến một lúc, tâm tình nổi hứng phát sinh phương tiện chuyên chở ý tứ thơ. Bài thơ thành hình nhưng còn phải trải qua giai đoạn sửa chữa hoặc tái tạo.

Một quan điểm cần lưu ý, sự dàn dựng hướng dẫn trong thơ trí tuệ như thuyền ra khơi, theo la bàn nhắm hướng mà chèo. Còn chèo như thế nào là tùy sức người và kinh nghiệm đi biển. Những chủ định và dàn dựng của tác giả chỉ là những tiêu mốc, tứ cảnh và ngôn ngữ sẽ biến chuyển theo cảm hứng và những ý hình xuất hiện bất chừng. Bài thơ dự định và bài thơ hoàn tất thường khác nhau.

Hầu hết các nhà thơ thuộc phái thực hành đương đại, không sử dụng hóa chất, thuốc uống, rượu mạnh, thuốc phiện, hoặc bạch phiến để tìm hứng. Họ cũng không chờ đợi thơ đến viếng tâm tư. Họ viết mỗi ngày rồi bỏ, cho đến một hôm, những gì họ viết trở thành bài thơ. Những nghệ sĩ hôm nay, cũng như Gabriel Garcia Marquez, họ tin rằng phải có một đời sống ổn định, một sức khỏe tốt, mới có thể sáng tác những tác phẩm giá trị. Văn chương đương đại đòi hỏi một trí óc minh mẫn.

Thơ trí tuệ thông thường có nội dung khó hiểu, khô khan. Nếu thêm thắt mượt mà không đúng chỗ, không đúng cách sẽ như vẽ vườn hồng, bãi mía giữa sa mạc. Đa số người đọc chưa quen “động não” sẽ thất lạc hoặc sang trang bỏ lỡ chừng. Vì vậy, thơ trí tuệ cần dùng nghệ thuật sáng tác để dẫn đưa người đọc làm quen với những đổi thay. Một trong những nghệ thuật đó là kỹ thuật tạo lưỡng cực trong một bài thơ.

Thơ (Tính) Lưỡng Cực.

Thơ Tính Lưỡng Cực (gọi tắt là Thơ Lưỡng Cực) thuộc dòng thơ Trí Tuệ. Sử dụng cảm xúc không phải để mở đường, hướng dẫn, mà dùng như động lực thúc đẩy tứ thơ và ngôn ngữ đi theo một ‘sơ đồ” dàn trải đã phác họa. Ví dụ:

Ngày Chúng Ta Qua Đời

Ngày chúng ta qua đời
gió thổi đến
xóa nhòa
dấu chân.

Gió mang theo cát bụi
phủ che
vết tích chúng ta lưu dấu
khi đi qua.

Vì nếu không
việc này có vẻ như
chúng ta
vẫn còn sống.

Vì vậy, gió
phải thổi đến
để xóa nhòa
dấu chân chúng ta. (1)

Bài thơ bắt đầu bằng gió thổi / xóa nhòa / dấu chân / khi chúng ta qua đời. Bài thơ chấm dứt bằng gió thổi / xóa nhòa / dấu chân. Ở giữa là những giải thích và điềm chỉ ẩn văn về chủ đề. Ý định của tác giả khi lập lại hình ảnh và tứ thơ mở đầu trong phần kết, để nhấn mạnh ý thơ về tính phù du của đời người. Cấu trúc bài thơ đặt trọng điểm ở hai đầu mở và kết.

Thưởng ngoạn thơ Lưỡng Cực như hành trình du lịch. Cứ tưởng tượng bối cảnh, có hai ngọn núi ở hai đầu, chính giữa là đồng bằng hoặc thung lũng. Tác giả đưa độc giả lên đỉnh núi đầu tiên rồi leo xuống băng qua đồng lũng. Khi gần hết hành trình, leo lên đỉnh núi thứ hai, từ đó tụt xuống. Cảm giác đầu tiên khi lên cao và những gì nhìn thấy suốt đường đi sẽ là khối ý tưởng cảm tính (emotional thought) để gia tăng cảm xúc khi đến đỉnh thứ hai, rồi xuống núi mang theo đôi điều để ngẫm nghĩ.

Kỹ thuật lưỡng cực là bài thơ ngay từ lúc khởi sự đã có hai tứ cảnh quan trọng, một ở khai cuộc, một ở kết luận. Các nhà văn theo chân Hemmingway đề nghị một lối viết truyện ngắn dễ đạt sự nhất quán và dễ dẫn đưa người đọc theo dõi nội dung, là tìm ra kết luận trước khi phát triển cốt truyện. Trong tinh thần đó, bài thơ Lưỡng Cực tìm đến kết luận trước khi phát triển thân bài. Tứ thơ kết thường lập lại, gợi ý, giải thích, hoặc mở rộng một số chi tiết mà tứ mở đầu đã dàn trải hoặc đặt thao thức.

Lý do, khi đã có được kết luận, những câu thơ còn lại từ sau khai cuộc cho đến chấm dứt sẽ dễ tập trung vào điều muốn nói. Tránh những lời lẽ dư thừa. Tránh những ý tứ không cần thiết. Cô đọng hơn truyện, thơ cưu mang ít lời mà nhiều ý, ít chữ mà nhiều ẩn văn. Lời lẽ và câu cú trong bài thơ có thể thiếu, nhưng không nên dư. Mỗi câu đều có nhiệm vụ gợi ý, điềm chỉ chủ đề và ý chính của bài thơ. Mỗi câu đều hướng về ý tứ kết. Khi bài thơ phát triển từ khai cuộc đến lúc cạn ý, tự nhiên sẽ ráp vào phần kết luận. Bài thơ chấm dứt. Sau đó, bài thơ có thể được tái xét, điều chỉnh, cải thiện hoặc tái tạo để hoàn tất.

Dù ý tứ thơ khó hiểu, phức tạp hoặc quen thuộc, dễ hiểu, nghệ thuật Lưỡng Cực có thể dẫn đưa người đọc qua ba giai đoạn: Đỉnh mở, thân bài, và đỉnh kết. Đa số bài thơ Lưỡng Cực dồn áp lực vào đỉnh kết, để tạo ấn tượng sau cùng trong tâm tư độc giả. Đỉnh mở thông thường điểm chỉ hoặc tạo dựng ý tưởng và cảm xúc để thưởng ngoạn có lý do muốn tìm hiểu bài thơ. Ở giữa là những chi tiết diễn đạt với khả năng tạo ra thú vị. Đặc biệt, bất kỳ là loại thơ nào đều phải gắn bó với nhất quán và mỹ thuật.

Ví dụ bài thơ Lullaby của người vô danh tộc Akan, miền nam Ghana, Phi Châu. Bản dịch Anh ngữ của Kwabena Nketia.

Bài Ru Con

Ai đó muốn anh cho cô ấy đứa con
nhưng anh là của em.
Ai đó muốn chăm sóc anh trên thảm dệt đắt tiền
nhưng anh là của em.
Ai đó muốn mời anh lên lưng nệm lạc đà
nhưng anh là của em.
Ai đó muốn anh cho cô ấy đứa con
nhưng anh là của em. (2)

Một số kỹ thuật thường sử dụng trong phần khai cuộc và kết thúc được ghi nhận:

1- Khai cuộc thường xác định hoặc gợi ý hướng đi của bài thơ.

2- Khai cuộc thường mở ra vấn đề hoặc nêu lên câu hỏi để chuẩn bị cho thân bài.

3- Kết thúc thường đóng lại những gì đã mở ở khai cuộc.

4- Kết thúc có thể giải thích chủ đề hoặc gợi ý, mở rộng đề tài “một cách kinh ngạc”.

Bài thơ Lưỡng Cực có nhiều kiểu cách để buộc, mở, và gợi giữa hai cực. Sau khi đã có tứ mở và tứ kết, phần giữa của bài thơ là nơi sáng tác tự do bày tỏ ý tứ, trong tinh thần làm đẹp hơn, hay hơn những ý nghĩ đang có trong tâm trí.

Có thể khai triển những đường lối làm thơ Lưỡng Cực trong ẩn dụ hai đầu âm dương của bình điện. Hai đầu hỗ trợ và hòa hợp với nhau tạo ra lửa và ánh sáng. Cực âm tạo nghi hoặc, gợi ý, điềm chỉ… Cực dương mang sự xác nhận, đề nghị, mở rộng. Bài thơ có thể bắt đầu bằng cực âm và kết ở cực dương. Hoặc ngược lại. Tuy nhiên không nhất thiết phải tuân theo luật âm dương. Hai cực âm càng làm cho bài thơ mang nhiều lớp nghĩa hướng về âm u, bí mật. Hai cực dương cho bài thơ một không khí vững mạnh, quyết tâm, hoặc lạc quan. Mỗi thể loại sẽ phù hợp cho không khí và ý nghĩa của mỗi loại thơ. Ví dụ như thể thơ Hành, nên sử dụng hai cực dương. Thơ thất vọng, thất tình, nên sử dụng hai cực âm.

Ví dụ:

Không Phải Mọi Người Đều Trở Thành Ma

(Của Leila Chatti. Bài thơ đoạt giải nhì của giải 10 Năm Thi Ca Narrative 2018.)

Trong tháng 12, tôi xem phim ma
với người đàn bà tôi gọi là mẹ nhưng không phải
mẹ thật, chỉ một người đàn bà tử tế, tôi muốn
như vậy. Dừng nghỉ một lát chúng tôi dựa vào nhau
trước hiên nhà, bà hút thuốc kẹp giữa
hai ngón tay, thở phào, từng hơi đầy
tan loãng, hòa nhập vào không khí. Hơi thở tôi
như bóng ma ít dễ sợ, tuôn ra màu bạc
trong ánh sáng lạnh lẽo. Đứng
trong hai bóng nhỏ, chúng tôi nói chuyện
về cõi chết, thế giới siêu hình, như thể là chuyên gia
thấu triệt, đã thẩm thấu một số hiểu biết. Tôi nói
tôi nghĩ ma trở thành chúng ta, hoặc ít nhất đang cư
ngụ trong hồn ám muội
như những kẻ thuê nhà mà chúng ta không nhẫn
tâm đuổi đi.
Bà nói, dường như chưa kịp nghĩ hết ý,
có một số quy luật: không phải mọi người đều trở
thành ma. (3)

Mở bài và kết bài đều nói đến “ma”. Nhấn mạnh lại tựa đề bằng câu kết. Ở giữa là câu chuyện, lẩn quất ma quái. Bài thơ cấu trúc nhất quán, lưỡng cực, gợi ý người đàn bà không phải là mẹ, được gọi bằng mẹ, là hồn ma. Một tưởng tượng ám chỉ lòng thương nhớ. Cùng một lúc, bài thơ nói về sự ám muội, xấu xa trong lòng người, nhưng không phải ai cũng có những hành vi, thái độ xấu. Có người vượt qua được, không trở thành ma. Ý niệm này khiến cho chúng ta có thể đặt ra vấn đề với bản thân, vì sao ta lại trở thành ma trong lúc còn sống?

Trong thực hành, kinh nghiệm cho thấy những bài thơ Lưỡng Cực thường thành công trong dạng thơ ngắn và thơ vừa. Có lẽ, trong những bài thơ dài, hai cực cách nhau quá xa, khó tạo sự chặt chẽ, khó giữ cảm xúc trong một thời gian quá lâu, đôi khi người đọc bị lạc phương hướng. Nói một cách khác, thơ Lưỡng Cực cần nhất quán và liên hệ chặt chẽ giữa hai cực.

Tôi Thử Nghiệm:

Chết Có cần Phải Đúng Giờ?

Nếu đồng loạt phá vỡ hết đồng hồ trên thế giới,
không còn thời giờ, chỉ còn thời gian. Dễ sống biết
mấy.

Người trôi trong thời gian, để thời gian trôi trong thân
thế mỗi người.

Giết thời giờ là giải thoát thời gian, trả tự do trong vô
hạn.

Giết thời giờ, chấm dứt ngày tháng năm. Chỉ còn biết
sáng trưa chiều tối. Nhìn thiên nhiên mà sống với đất
trời.

Thời giờ là chủ nghĩa đồng bộ, hóa người thành máy.

Thời giờ là phong trào căng thẳng, kèn cựa từng
phút giây, thúc giục sân si.

Thời giờ là phát minh khờ dại nhất mà con người áp
dụng.

Vì thời giờ, sống từng đoạn ngắn, ráp nối không tự
nhiên.

Vì thời giờ, thời gian lộ liễu trở thành quá khứ.
Vì thời giờ, thời gian hối hả báo động tương lai.

Vì thời giờ, con người biến dạng thành thiên thần thú
vật.

Hãy đồng loạt phá vỡ hết đồng hồ trên thế giới, chỉ còn
thời gian, chết không cần đúng giờ.

Ghi:

(1) On Parables

Many complain that the words of the wise are always merely parables and ofno use in daily life, which is the only life we have. When the sage says: “Go over,” he does not mean that we should cross to some actual place, which we could do anyhow if the labor were worth it; he means some fabulous yonder, something unknown to us, something too that he cannot designate more precisely, and therefore cannot help us here in the very least. All these parables really set out to say merely that the incomprehensible is incomprehensible, and we know that already. But the cares we have to struggle with every day: that is a different matter.

Concerning this a man once said: Why such reluctance? If you only followed the parables you yourselves would become parables and

with that rid of all your daily cares.

Another said: I bet that is also a parable.

The first said: You have won.

The second said: But unfortunately only in parable.

The first said: No, in reality: in parable you have lost.

(2) The Day We Die

The day we die
the wind comes down
to take away
our footprint.

The wind makes dust
to cover up
the marks we left
while walking.

For otherwise
the thing would seem
as if we were
still living.

Therefore the wind
is he who comes
to blow away
our footprints.

(Thơ Phi Châu. Vô Danh, đầu thế kỷ 20. Bản dịch: Arthur Markowitzz.)

(3) Lullaby.

Someone would like to have you for her child
but you are mine.
Someone would like to rear you on a costly mat
but you are mine.
Someone would like to place you on a camel blanket
but you are mine.
Someone would like to have you for her child
but you are mine.

(4) Not All of Us Get to Be Ghosts

IN DECEMBER I watch movies about ghosts
with a woman I call mama though she is not
my mother, only a woman who is kind, this all
I require. We take breaks to lean against each other
on the porch, her sucking smoke from between
her fingers, exhaling its skirling; each mouthful
dissipating, becoming something like air. My breath’s
a less impressive phantom, fleeting silver
in the cold light. Standing there
in our small shadows, we discuss the ways
of the dead, their metaphysics, as if we were experts
by osmosis, a certain knowledge absorbed. I say I think
our ghosts become us, or at least reside in our dark
like tenants we haven’t the heart to kick out.
She says, though she hasn’t quite figured it out yet,
there are rules: not all of us get to be ghosts.

bài đã đăng của Ngu Yên